Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

TRUYỀN THỐNG VÀ LẼ SỐNG “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”!

1. Giá trị của truyền thống và dấu hiệu đặc trưng

Truyền thống là những giá trị tốt đẹp đã được hun đúc qua thời gian, được nhiều thế hệ gìn giữ, kế thừa và phát triển, trở thành “nếp nghĩ đẹp, nếp làm tốt”, có giá trị bền vững của một cộng đồng, hàm chứa tính văn hóa nhân văn, nhân đạo. Truyền thống không nằm trên giá sách hay trong lời hô hào suông; nó sống động và biểu hiện cụ thể trong tầm nhìn, thái độ, cách ứng xử và hoạt động sống hằng ngày, nhất là phương cách con người đối diện và vượt qua khó khăn, lựa chọn lẽ phải và tôn trọng chân lý.

Có thể nhận diện truyền thống qua một số dấu hiệu đặc trưng sau:

Thứ nhất, truyền thống có tính lịch sử - kế thừa, được tạo nên từ thực tiễn đấu tranh, lao động, cống hiến lâu dài.

Thứ hai, truyền thống mang tính ổn định nhưng không bất biến: cốt lõi được giữ vững, cách thể hiện thì luôn đổi mới cho phù hợp thời đại.

Thứ ba, truyền thống có sức lan tỏa và cảm hóa, khiến con người tự nguyện noi theo chứ không cần mệnh lệnh. Thứ tư, truyền thống luôn gắn với chuẩn mực đạo đức và giá trị nhân văn, soi đường cho hành động đúng - sai, nên - không nên. Với Quân đội nhân dân Việt Nam, truyền thống chính là “kim chỉ nam” cho hành động để cán bộ, chiến sĩ đứng vững trước mọi thử thách.

2. Truyền thống của Quân đội ta chính là truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”

Lịch sử gần 81 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng, phát triển và trưởng thành của Quân đội ta khẳng định: Truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam chính là truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây không phải chỉ là cách nói hình tượng cho vui, có ý nghĩa động viên nhau, mà còn là sự hun đúc, kết tinh giá trị của lịch sử, tư tưởng và thực tiễn sống động. Nhận định này cho thấy:

Thứ nhất, nguồn gốc ra đời của Quân đội ta gắn liền với tư tưởng và sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quân đội ta sinh ra từ nhân dân, luôn vì nhân dân phục vụ, do Đảng và Bác Hồ sáng lập, giáo dục, rèn luyện. Ngay từ ngày đầu thành lập, Bác Hồ đã xác định rõ: Quân đội không chỉ biết đánh giặc, mà còn phải làm công tác dân vận, giúp dân, học dân, kính trọng dân. Vì vậy, phẩm chất người quân nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam, từ gốc rễ, đã mang dấu ấn tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trọn ven tấm lòng vì Tổ quốc phụng sự, vì nhân dân phục vụ.

Thứ hai, truyền thống chiến đấu anh dũng, quyết thắng quyết thắng của Quân đội ta là sự cụ thể hóa sinh động lời dạy của Bác Hồ. Đó là từ chân lý “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đến tinh thần “dù hy sinh đến đâu cũng quyết giành cho được độc lập”, truyền thống ấy đã trở thành sức mạnh tinh thần giúp người lính vượt qua bom đạn, đói rét, thiếu thốn, hiểm nguy. Ở đâu khó, ở đó có bộ đội; khi Tổ quốc cần, bộ đội sẵn sàng. Đó chính là “chất lính Hồ Chí Minh” thấm trong truyền thống quân đội anh hùng.
Thứ ba, mối quan hệ máu thịt quân - dân là dấu hiệu nhận diện rõ nhất của “Bộ đội Cụ Hồ”. Nếu hỏi người dân nhớ gì về bộ đội, câu trả lời thường rất đời: giúp dân gặt lúa, bắc cầu, chống bão lũ, chữa bệnh, dạy chữ; cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Người lính đi qua làng không chỉ để lại dấu chân, mà còn để lại niềm tin. Truyền thống ấy không phải khẩu hiệu treo tường mà là thói quen hành động: “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm”, “đi dân nhớ, ở dân thương”. Chính mối quan hệ “cá nước” ấy làm nên tên gọi trìu mến “Bộ đội Cụ Hồ”.

Thứ tư, truyền thống kỷ luật tự giác, nghiêm minh, đạo đức trong sáng của Quân đội phản ánh phong cách sống của Bác Hồ. Kỷ luật không chỉ là mệnh lệnh, mà còn là tự trọng; tiết kiệm không phải vì nghèo, mà vì trân quý công sức, mồ hôi và nước mắt của nhân dân. Người lính “Bộ đội Cụ Hồ” giữ mình mực thước, từ lời nói đến việc làm, từ trên giảng đường, thao trường, bãi tập đến ngoài đời thường, nhất là khi quan hệ với nhân dân đúng như 12 điều kỷ luật của quân nhân. Ở đâu cũng giữ được phẩm chất ấy thì ở đó truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” được tiếp nối, phát huy, tỏa sáng mãi mãi.

Thứ năm, truyền thống đổi mới, học tập và sáng tạo trong Quân đội cũng bắt nguồn từ tinh thần Hồ Chí Minh. Bác luôn nhắc “học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Quân đội ta hôm nay hiện đại hóa vũ khí, nâng cao trí tuệ, làm chủ khoa học, công nghệ, nhưng không xa rời mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hiện đại mà vẫn nhân văn, mạnh mà vẫn nghĩa tình. Đó chính là truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời đại mới.

3. Lẽ sống của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta là phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”

Nếu truyền thống là “gia tài tinh thần” thì lẽ sống là cách mỗi người lính sử dụng gia tài ấy trong cuộc đời mình. Lẽ sống của “Bộ đội Cụ Hồ” không phải điều gì cao siêu, mà gói gọn trong sáu chữ: phát huy - cống hiến - xứng danh.

Phát huy truyền thống không có nghĩa là kể mãi chuyện xưa để động viên nhau bằng lời nói, mà là biến giá trị đã có thành hành động cách mạng, tạo ra giá trị mới. Cũng như trước đây, người lính hôm nay không chỉ giỏi bắn súng, hành quân, mà còn phải giỏi công nghệ, ngoại ngữ, quản lý với kỹ năng “mềm” nhằm ứng phó hiệu quả trước mọi thách thức an ninh phi truyền thống. Phát huy truyền thống chính là làm cho hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn tỏa sáng trong doanh trại thông minh, trên không gian mạng, trong những nhiệm vụ gìn giữ hòa bình hay cứu trợ nhân đạo.

Cống hiến tài năng là thước đo của lẽ sống cao đẹp. Mỗi người lính “Bộ đội Cụ Hồ” có một “sở trường”: người giỏi kỹ thuật, người giỏi huấn luyện, người giỏi nghiên cứu, người khéo dân vận, song có chung mục đích là một lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Khi tài năng được đặt đúng chỗ và dùng vì mục tiêu, lý tưởng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” sẽ được bồi đắp bằng trí tuệ và mồ hôi của thế hệ mới. Cống hiến không ồn ào, không phô trương, nhưng bền bỉ và hiệu quả.

Xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” là đích đến của mọi nỗ lực phấn đấu. Xứng danh trong chiến đấu, trong lao động, trong đời sống thường ngày. Đó là khi người lính bước ra xã hội vẫn giữ được ánh mắt ngay thẳng, lời nói chân thành, việc làm tử tế “đi dân nhớ, ở dân thương”. Khi ấy, danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” không cần giới thiệu dài dòng, chỉ cần nhìn cách sống, phong cách và nụ cười quân nhân là đủ hiểu.

Truyền thống tạo nên bản sắc, lẽ sống làm nên giá trị. Với “Bộ đội Cụ Hồ”, hai điều ấy hòa vào nhau làm một: sống để tiếp nối truyền thống và bằng chính lẽ sống đẹp đẽ của mình, làm cho truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng rạng rỡ, tỏa sáng.

Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” hoàn toàn không mâu thuẫn, mà trái lại thống nhất biện chứng, bổ sung và nâng đỡ lẫn nhau với mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Truyền thống là gốc rễ tinh thần, còn hiện đại hóa là điều kiện vật chất và phương thức tổ chức; thiếu một trong hai, Quân đội khó có thể phát triển bền vững.

Quân đội cách mạng cần bản lĩnh chính trị vững vàng, mục tiêu chiến đấu rõ ràng. Đó chính là nội dung cốt lõi của truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”. Quân đội chính quy đòi hỏi kỷ luật nghiêm minh, tác phong chuẩn mực. Đây là sự tiếp nối trực tiếp phong cách sống và làm việc mẫu mực mà Bác Hồ đã nêu gương. Quân đội tinh nhuệ, hiện đại cần trí tuệ, khoa học, công nghệ và tài năng con người; mà muốn phát huy được những yếu tố ấy, trước hết phải có động cơ trong sáng, ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tức là phải có nền tảng đạo đức và lý tưởng của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Nói cách khác, truyền thống định hướng cho hiện đại, còn hiện đại làm giàu cho truyền thống. Khi người lính “Bộ đội Cụ Hồ” làm chủ vũ khí công nghệ cao mà vẫn giữ trọn phẩm chất vì dân, vì nước; khi doanh trại thông minh vẫn thấm đẫm nghĩa tình quân - dân; khi kỷ luật thép đi liền với nhân văn sâu sắc. Đó chính là biểu hiện sinh động của sự hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại. Chính mối quan hệ mật thiết, hài hòa ấy tạo nên sức mạnh tổng hợp, làm cho Quân đội ta vừa mạnh về sức chiến đấu, vừa bền vững về giá trị, mãi xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của dân./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THIẾU TƯỚNG LÊ QUẢNG BA - NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG ĐƯA LÃNH TỤ NGUYỄN AI QUỐC VỀ PÁC BÓ, CAO BẰNG TRỰC TIẾP LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

     Đồng chí Lê Quảng Ba (sinh năm 1915), tên thật là Đàm Văn Mông, dân tộc Tày, quê ở xóm Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng (nay là xã Trường Hà). Năm 1941, đồng chí Lê Quảng Ba là người đã bảo vệ và dẫn đường đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước qua Pác Bó, Cao Bằng để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đồng chí từng đảm nhiệm nhiều trọng trách: Khu trưởng Khu Hà Nội năm 1946 (nay là Tư lệnh Quân khu Thủ đô), Tư lệnh Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn (1949) giúp Hồng quân Trung Quốc tiêu diệt quân Quốc dân Đản,; Đại đoàn trưởng đầu tiên Đại đoàn 316, Tư lệnh Quân khu Việt Bắc…

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, Lê Quảng Ba sớm tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1935. Năm 1940, lần đầu tiên đồng chí được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở Tịnh Tây (Trung Quốc). Trong hồi ký “Bác Hồ về nước”, đồng chí Lê Quảng Ba đã kể lại câu chuyện gặp gỡ “Ông cụ cách mạng”: …“Lúc này, bộ phận lãnh đạo của Đảng ta ở nước ngoài, trong đó có đồng chí Nguyễn Ái Quốc - đang chuyển cơ quan về gần biên giới tìm cách về nước... Đêm hôm đó, có người đến tìm chúng tôi (sau mới biết là anh Đặng Văn Cáp và anh Hoàng Văn Hoan). Anh Hoan bảo: Ông Cụ cho gọi các anh trở lại ngay để nhận chỉ thị mới…!

Chúng tôi vừa đi vừa chạy. Gà gáy lần thứ ba thì mới đến Chợ Mới. Chúng tôi được gặp một ông cụ râu đen, trán rộng, hiền từ. Cụ hỏi kế hoạch về nước và tìm hiểu những điều chúng tôi đang lo lắng. Cụ nói đại ý: Quốc dân Đảng Trung Hoa chuẩn bị “Hoa quân nhập Việt” cần sự giúp đỡ của Việt Nam, chúng đang cần lấy lòng ta. Trương Bội Công lúc này không dám giết người cách mạng Việt Nam đâu. Các đồng chí có trách nhiệm lãnh đạo tổ chức cho tất cả 43 người về nước hết, không được để sót một ai (43 anh em của mình được huấn luyện trong lớp quân sự của Trương Bội Công do chúng tôi làm trợ giáo). 

Anh Hoàng Sâm cùng về với ông Cụ sau. Tôi (tức Lê Quảng Ba) có trách nhiệm đưa 41 người về trước… được lệnh dừng chân lại ở làng Nặm Quang và Ngàm Tẩy tuyên truyền và vận động quần chúng. Gần 1 tháng sau, Bác về tới Nặm Quang. Tại đây, chúng tôi được dự lớp huấn luyện chính trị do Bác đặt chương trình và trực tiếp chỉ đạo. Các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn chương trình và trực tiếp giảng dạy.

Như vậy, có thể nhận định rằng đồng chí Lê Quảng Ba đã thực hiện xuất sắc kế sách của Người, đưa các thanh niên Cao Bằng đang lánh nạn ở Tịnh Tây, Trung Quốc về làng Nặm Quang gần biên giới Việt - Trung, cách Pác Bó khoảng hơn 10 km, dự lớp huấn luyện cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên… trực tiếp giảng dạy. Đây chính là lớp huấn luyện Việt Minh đầu tiên của nước ta, lớp huấn luyện kết thúc vào những ngày cuối năm Canh Thìn (26/1/1941). Lớp học ngắn ngày nhưng mỗi học viên đều cảm thấy lớn lên, trưởng thành và có hướng đi rõ ràng. Những học viên này chính là các nhân tố cốt cán trong phong trào cách mạng ở Cao Bằng. 

Sau lớp học, đồng chí Văn và đồng chí Đồng trở lại Tịnh Tây. Còn các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc và Lê Quảng Ba theo Bác từ Nặm Quang (Tịnh Tây) về nước, hôm đó là ngày 28/1/1941. Đồng chí Lê Quảng Ba dẫn Bác theo đường mòn về Cao Bằng. Bác cầm một cây gậy nhỏ nhưng chỉ khi xuống dốc Bác mới chống, chân Bác bước nhanh nhẹn như một thanh niên.

Đồng chí Lê Quảng Ba dự định đưa Bác về ở tại nhà của gia đình ông Máy Lì, là cơ sở cách mạng của ta. Tuy nhiên, Bác ở tại nhà ông Máy Lì khoảng gần 10 ngày, để đảm bảo an toàn và không muốn phiền gia đình ông Máy Lì, Bác đề nghị với đồng chí Lê Quảng Ba “Ta nhiều người, nên ở trong núi tiện hơn”. Không thuyết phục được đoàn ở lại nhà mình, cuối cùng ông Máy Lì dẫn đoàn đi về phía hang núi, đó là hang Cốc Bó. Sau khi xem xét địa hình xung quanh hang, Bác quyết định rời nhà ông Máy Lì chuyển đến ở và làm việc tại hang Cốc Bó. Với vai trò của người dẫn đường, đồng chí Lê Quảng Ba đã sắp xếp nơi ăn ở, đảm bảo an toàn cho Bác và đoàn thể tại Pác Bó - Cao Bằng, cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng tại đây.

Tháng 11/1941, tại Pác Bó, theo chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đội vũ trang đầu tiên ở Pác Bó (Đội du kích Pác Bó) được thành lập tại Pài Co Nhản (Pác Bó, Trường Hà) gồm 12 đồng chí, do đồng chí Lê Quảng Ba làm Đội trưởng. Đội có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, bảo vệ cán bộ; làm giao thông liên lạc đặc biệt; vũ trang tuyên truyền trong quần chúng; huấn luyện cho các đội tự vệ chiến đấu ở địa phương; làm nòng cốt cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang sau này. Những câu khẩu lệnh đầu tiên và những động tác cơ bản của Quân đội ta bắt đầu hình thành từ đây và phiên âm từ Hán Việt ra tiếng Việt, được đồng chí Lê Quảng Ba huấn luyện thực hành thuần thục, tạo tiền đề cho việc xây dựng điều lệnh đội ngũ sau này.

Cuối năm 1944 - 1945, đồng chí Lê Quảng Ba là Ủy viên Quân sự và Phái viên kỳ bộ Việt Minh ở Cao - Bắc - Lạng. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đồng chí được giao nhiều trọng trách ở những địa bàn phức tạp như: Phó Khu trưởng Khu 1, Khu trưởng Khu Hà Nội, Khu trưởng Khu 12, Phó Chỉ huy trưởng Mặt trận 2 (Đông Bắc), Chỉ huy trưởng Mặt trận Duyên Hải - Đông Bắc và Thập Vạn Đại Sơn. Khi thành lập các đại đoàn quân, đồng chí Lê Quảng Ba là một trong những đại đoàn trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (Đại đoàn trưởng Đại đoàn 316), Tư lệnh Quân khu Việt Bắc.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh nhiệm vụ của Đại đoàn 316 là phải tiêu diệt các cứ điểm A1, C1 và C2. Đồng chí Lê Quảng Ba thay mặt cấp ủy, chỉ huy Đại đoàn 316 đề xuất phương án hạ cứ điểm đồi A1 bằng quả bộc phá.

Ngay khi được giao nhiệm vụ, đồng chí Lê Quảng Ba tìm gặp đồng bào địa phương để tìm hiểu cái gọi là “hầm ngầm” trên đồi A1. Giữa tháng 4/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng Chiến dịch đã dành thời gian nghe Đại đoàn trưởng 316 Lê Quảng Ba báo cáo về “chiếc hầm kiên cố trên đỉnh A1” và đề đạt phương án đào hầm vào thẳng “ruột” điểm cao A1, đưa một lượng bộc phá lớn vào để công phá cứ điểm quan trọng này.

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 6/5/1954, đồi A1 phát ra tiếng nổ, khói phụt lên cao và tạo ra cảm giác như động đất nhẹ trong vài giây. Quân ta đã tiêu diệt cứ điểm cuối cùng, hoàn thành nhiệm vụ. Sau nhiều trận chiến đấu anh dũng, tài thao lược quân sự mẫn tiệp của Bộ Chỉ huy Chiến dịch và chỉ huy các cánh quân, chiến dịch toàn thắng.

Đồng chí Lê Quảng Ba được thụ phong quân hàm Thiếu tướng năm 1958, là tướng lĩnh người Tày đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí Lê Quảng Ba được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông được cử làm Trưởng Ban Dân tộc Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ…, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, đại biểu Quốc hội khóa II, III, IV, V, VI. 

Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, dù ở cương vị nào, mặc dù hoàn cảnh khó khăn, gian khổ ra sao “Ông cũng tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Đồng chí luôn trăn trở với quê hương cội nguồn cách mạng và các vấn đề dân tộc miền núi “Miền núi phải được xây dựng mạnh về quốc phòng. Các phương hướng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị đều nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp cho yêu cầu củng cố về quốc phòng”.

Đồng chí Lê Quảng Ba qua đời năm 1988, hưởng thọ 73 tuổi. Trong Điếu văn truy điệu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: “Đồng chí Lê Quảng Ba là cuộc đời liên tục chiến đấu gian khổ, hy sinh vì độc lập, tự do… Đồng chí là một trong những cán bộ được Bác Hồ rèn luyện, giáo dục và tin yêu, được Đảng và Nhà nước giao nhiều nhiệm vụ quan trọng, được đồng bào các dân tộc cả nước quý mến”. 

Ghi nhận những cống hiến của người tướng lĩnh dân tộc Tày với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến thắng hạng nhất… và nhiều phần thưởng cao quý khác. Để tri ân công lao của người con ưu tú, cũng như góp phần giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống cách mạng của dân tộc, tại xã Sóc Hà (cũ) - quê hương nơi sinh thành có ngôi trường được vinh dự mang tên đồng chí (Trường THCS Lê Quảng Ba). Đây chính là minh chứng của truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, giáo dục tinh thần cách mạng, lòng yêu nước cho các thế hệ người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ tỉnh Cao Bằng nói riêng.

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Lê Quảng Ba gắn với những dấu son của lịch sử, một vị tướng tài ba của Quân đội nhân dân Việt Nam, là biểu tượng cao đẹp về sự trung thành, tận tụy, hết lòng với Đảng, cách mạng và nhân dân. Tên tuổi của đồng chí mãi là niềm tự hào của nhân dân các dân tộc Cao Bằng; là thế hệ tướng lĩnh xuất sắc của Quân đội ta, thể hiện ý chí kiên trung, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân./.


Yêu nước ST.

XỬ LÝ NGHIÊM THEO PHÁP LUẬT ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ, XUYÊN TẠC TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG!

     Cục Bảo vệ an ninh Quân đội (Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc Phòng) vừa phối hợp với Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Vũ Tuấn Anh, sinh năm 1974, trú tại số 117/5 đường Minh Phụng, phường Bình Tây, TP. Hồ Chí Minh về tội “Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo quy định tại Khoản 2, Điều 331 Bộ luật Hình sự.

Theo tài liệu điều tra, từ năm 2024 đến nay, đối tượng Vũ Tuấn Anh đã thiết lập và quản lý nhiều tài khoản mạng xã hội cá nhân với tên “Tuấn Ban Mê”, để đăng tải, chia sẻ các nội dung xuyên tạc, bịa đặt, nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng, với mưu đồ làm suy giảm lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14. Các bài viết và tài liệu đối tượng phát tán thu hút nhiều lượt theo dõi, chia sẻ và bình luận tiêu cực. 

Cục Bảo vệ an ninh Quân đội đã phối hợp với các cơ quan chức năng truy tìm , nhanh chóng nhận diện, bắt giữ đối tượng và niêm phong toàn bộ thiết bị điện tử dùng để phát tán thông tin xấu độc. Vụ việc là lời cảnh tỉnh đanh thép. Pháp luật luôn tôn trọng quyền tự do ngôn luận, nhưng tuyệt đối không cho phép bất cứ cá nhân nào lợi dụng quyền đó để xâm phạm an ninh quốc gia./.


Môi trường ST.

RÁC PHẨM NBCT CỦA ẤU PHƯƠNG - BẢO NINH DƯ ÂM VÀ TÁC HẠI ĐỐI VỚI XÃ HỘI NHẤT LÀ THẾ HỆ TRẺ!

     Kiến nghị về việc làm sai trái đưa nội dung "Nỗi buồn chiến tranh" vào sách giáo khoa phổ thông và nội dung các môn học xã hội khác của cô giáo ở Huế. Mong được anh chị em sẻ chia.

THA THIẾT XIN KIẾN NGHỊ VỚI CHÍNH PHỦ
Kính thưa Chính Phủ!
Hẳn ai cũng biết rằng, con đường Đảng và Nhân dân Việt Nam 🇻🇳 đang đi là SỰ LỰA CHỌN DUY NHẤT ĐÚNG của Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!

Con đường ấy, Bác đã đánh đổi cả Tuổi Thanh Xuân và sinh mạng. Ba mươi năm bôn ba hải ngoại, Bác đã đi qua hơn 12 nước, từ năm 1911- 1941, học 12 thứ tiếng để viết sách báo kêu gọi đấu tranh vì tự do con người. Bác phải vào tù ra tội, bị tra tấn, gông cùm xiềng xích, bị đói khát, bệnh tật. Bác đã hy sinh cả tình riêng, gia đình quyết ra đi tìm cho được con đường cứu Dân, cứu Nước. Cho đến khi từ giã cõi đời, ngực áo vẫn không có một tấm Huân chương!

Khi tìm được LUẬN CƯƠNG LÊ NIN, Bác đã khóc: "Nước mắt Người rơi trên chữ Lê nin/Bác reo lên như nói cùng Dân tộc/Cơm áo là đây, hạnh phúc đây rồi/Hình của Đảng lồng trong hình của nước/Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười" (Chế Lan Viên - dòng Văn học Cách mạng )...

Và rồi! Ta đã có Đất nước Việt Nam 🇻🇳. Ta đã có con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội, mà Đảng ta đã KIÊN ĐỊNH từ khai sinh lập nước cho đến bây giờ.

Ta TỰ HÀO VỀ Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ một Đảng duy nhất đã lãnh đạo Nhân dân đồng lòng, đồng tâm, đồng chí vượt qua bao chông gai lửa đạn, vượt qua bất cứ thử thách nào, kể cả sự chống phá của nhiều kẻ thù trong chiến tranh và thời bình để giữ vững TRỌN VẸN ĐẤT NƯỚC hôm nay. Ngay cả khi, HÒN ĐÁ TẢNG Liên Xô sụp đổ, Đảng ta vẫn không lay chuyển.

Nhưng! Thời vận đã khác. Manh nha "Diễn biến Hòa Bình", "Tự chuyển hóa tưởng" đã mấy thập kỷ. Nay, càng có nguy cơ chui sâu, leo cao, lan rộng trong Đảng, trong Cán bộ, trong Nhân dân và trắng trợn hơn, công khai hơn.

Trên Mặt trận Kinh tế, Công nghiệp, Xây dựng, Du lịch, An sinh xã hội,... chúng ta phát huy, và phát triển rất nhanh, đạt nhiều thành tựu ĐÁNG NỂ.

Nhưng! Chúng ta cần phải dám nhìn thẳng, dám nhìn đúng sự thật tình hình hiện tại là: Đảng, Chính Phủ, Công An, Quân Đội còn CHỦ QUAN, MẤT CẢNH GIÁC với giặc nội xâm.

So với giặc NGOẠI XÂM, ta dễ dàng phát hiện hướng đi và phương án đánh của chúng để đối phó. Còn giặc NỘI XÂM, nó tinh vi, lắt léo lần lượt CHIẾM VỊ TRÍ TRỌNG YẾU trên mặt trận Tư tưởng, Văn hóa, Giáo dục và đã khoét sâu hơn 30 năm nay. Chúng đã lợi dụng kẽ hở trong quản lý để VIẾT LẠI LỊCH SỬ, đem ĐỘC HẠI vào trang sách học trò một cách không thương tiếc!

Vụ việc tái lôi ra vinh danh lại cuốn "Nỗi buồn chiến tranh", một cuốn sách có nội dung phản bội Tổ Quốc, phản bội Nhân dân, xuyên tạc bôi nhọ Quân đội Nhân dân Việt Nam (...). Vụ việc BGD đã ngang nhiên đưa nhóm 72 vào làm Tổng Chủ biên SGK cải cách 2018. Công khai viết lại Môn Lịch sử. Công khai BỎ gần hết DÒNG VĂN HỌC CHỦ LƯU CÁCH MẠNG. Công khai xếp Môn Lịch sử làm môn tự chọn, giảm số tiết chỉ còn 1,5 tiết (...). Công khai đưa những đoạn trích đồi trụy vào sách giáo khoa lớp 9 và 12. Chúng đã TÍCH HỢP CHỒNG CHÉO vào cả những câu, chữ, ngữ liệu cho học sinh 3 cấp.
Thiết nghĩ! Biên soạn SGK PHỔ THÔNG, chỉ cần chọn đội ngũ GV dạy giỏi cấp Tỉnh, cấp Quốc gia, Chuyên viên giỏi các Sở giáo dục. Không cần GsTs với học hàm học vị quá cao không sát đối tượng tiếp nhận (Sgk lớp 1: Chưa học xong bảng chữ cái đã bắt các cháu vừa học vừa ghép vần, ghép chữ, viết đoạn văn. Đây là cách học PHẢN KHOA HỌC. Nguyên tắc: dạy thuộc lòng bảng Chữ cái, dạy Vần, ghép Chữ, ghép câu - Học kỳ I. Học kỳ 2 mới viết Đoạn Văn.
Cách dạy HIỆN HÀNH tạo áp lực cho các cháu vừa thoát khỏi vòng tay mẹ, chỉ khóc mỗi khi về nhà, mất ăn mất ngủ, mất tính hồn nhiên của các cháu).

XIN ĐƯỢC NÊU KIẾN NGHỊ

1. LOẠI BỎ HOÀN TOÀN SGK cải cách 2018. Bởi những nhà biên soạn thuộc nhóm 72 đã tích hợp chồng chéo tư tưởng phản động vào các môn học. Tôi tha thiết xin Chính Phủ đừng tiếc tiền! "Một lần không chín, chín lần không nên"- Dân gian ta đã đúc kết ngàn đời rồi.

2. Chương trình Phổ thông là NHỮNG ĐƯỜNG TRÒN ĐỒNG TÂM. Mỗi cấp, tùy độ tuổi và nhận thức, để phát triển Đường tròn sau to hơn, rộng hơn Đường tròn trước (của lớp dưới). Do đó, BGD KHÔNG ĐƯỢC CẮT XÉN làm mất tính logic về thời gian và không gian của các SỰ KIỆN LỊCH SỬ.

3. MÔN NGỮ VĂN:
-- Trả lại dòng chủ lưu Văn học Cách mạng cho Sgk Phổ thông.
-- Đưa các tác phẩm nói về Truyền thống yêu nước, từ Dựng nước đến Giữ nước như trước đây (như sgk 2001 trở về trước).
-- Đưa Văn Thơ Hồ Chí Minh trở lại đầy đủ cho chương trình từ cấp Tiểu Học, THCS, THPT. Lựa chọn những Tác phẩm phù hợp với lứa tuổi, nhận thức của HS để dạy và học. Đó cũng là cách TRI ÂN Bác.
-- Trả lại cho Sgk Tiểu học 5 Điều Bác Hồ dạy. Câu ngạn ngữ.
"Tiên học lễ, hậu học văn" Quy định bắt buộc treo ở các Trường Phổ Thông.
-- Đưa những bài thơ viết gọn Lịch sử nước nhà của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào Môn SỬ lớp 5, giúp các cháu dễ học, dễ nhớ. Những gì Bác Hồ đã đúc kết, đã viết thành Thơ - Văn là Lịch sử ĐÚNG ĐẮN NHẤT, không được lược bớt, không được thay đổi.

4. MÔN LỊCH SỬ:
Lịch sử là SỰ THẬT KHÁCH QUAN của từng giai đoạn có thời gian cụ thể. Không thể thay đổi.
-- Cấp Tiểu Học (Lớp 5) được học SƠ LƯỢC các giai đoạn Lịch sử. 
Cấp THCS được học cụ thể một số giai đoạn. 
Cấp THPT được học sâu hơn toàn bộ về lịch sử Việt Nam.
-- Môn Lịch sử: phải được học chính khóa như trước đây, và là môn học BẮT BUỘC. Phải được luân phiên Thi Tốt nghiệp THPT hàng năm như trước đây. Lòng yêu nước và ý chí giữ nước của HS được bắt đầu nuôi dưỡng từ Môn Lịch sử.
-- Phải có Chương trình ngoại khóa, đố vui để học, tạo hứng thú cho HS đối với môn học này.
*Lịch sử Thế giới chỉ học khái quát.

5. MÔN ĐỊA LÝ: HS được tiếp cận với:
-- Cương vực, lãnh thổ.
-- Địa hình, địa giới hành chính. Vùng miền
-- Dân số
-- Dân tộc
-- Sông ngòi, Biển, Rừng
-- Những tác động của Thiên nhiên đối với con người.
* Môn ĐỊA LÝ phải được học BẮT BUỘC. Nuôi dưỡng tình yêu Quê hương Đất nước và ý thức bảo vệ BIÊN GIỚI, LÃNH THỔ.
• Địa lý Thế giới chỉ học khái quát.

6. MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN:
-- Đây là môn học BẮT BUỘC, giúp HS hiểu biết về những QUY ĐỊNH của PHÁP LUẬT; Các tổ chức Nhà nước ; Quyền và Trách nhiệm, Nghĩa vụ của Công dân đối với Đất nước.
-- Tùy độ tuổi và nhận thức để đưa ra Chương trình phù hợp. Đối với HS Tiểu Học chỉ dạy Luật Giao thông; Các quy định, Nội quy Trường học; Năm điều Bác Hồ dạy; Nề nếp gia đình.

** BỐN MÔN: Ngữ Văn (Trong đó có Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn); Lịch Sử; Địa Lý; Công Dân -- Đây là 04 MÔN HỌC BẮT BUỘC. Có thời lượng vừa học Chính khóa vừa Ngoại khóa giúp các em khắc sâu kiến thức, vui để học có hiệu quả.

NỀN TẢNG tư tưởng, ý thức, tư duy logic của HS được hun đúc, xây đắp từ tuổi ấu thơ đến trưởng thành là CĂN CƠ cho việc hình thành nhân cách, đạo đức Cách mạng chân chính. Những kiến thức được trang bị, biến thành tri thức, thành phẩm chất tốt đẹp ở mỗi con người sẽ góp phần làm nên một xã hội Văn minh và Phát triển.

Vì vậy! SÁCH GIÁO KHOA đảm bảo chất lượng TỐT sẽ đóng vai trò làm TRỤC XƯƠNG SỐNG trong việc đào tạo nhân lực vừa Hồng, vừa Chuyên cho Đất nước, đáp ứng yêu cầu Công việc trong thời đại mới, VỪA KIẾN TẠO, VỪA BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM 🇻🇳 XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, XỨNG TẦM VỚI CÁC CƯỜNG QUỐC NĂM CHÂU NHƯ SINH THỜI BÁC HỒ HẰNG MONG ƯỚC!
P/S: Những môn thuộc Khoa Học Tự Nhiên chỉ thay đổi phương pháp dạy - học.
Kính cảm ơn Chính Phủ!
Ảnh: Cô giáo Kim Cúc.
Môi trường ST.

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

ĐỪNG CÓ CÁI “THẺ NHÀ BÁO” MÀ PHÁT NGÔN PHỦ NHẬN LỊCH SỬ HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC!

Gửi anh Tiểu Vũ! 
Nghe nói anh nhận mình là nhà báo, tôi cũng ko rõ anh Tiểu Vũ có từng đc học và có học lịch sử hay chưa? Và bằng cách thần kỳ nào mà anh tốt nghiệp và có được thẻ nhà báo nữa. Nhưng nếu đã từng đi qua một nền giáo dục phổ thông tối thiểu của người Việt Nam, thì thật khó tin rằng anh có thể phát biểu một cách hời hợt và vô cảm thậm chí khuyết tật tư duy,: tầm nhìn như vậy về chiến tranh, về ký ức dân tộc, và về những con người đã sống, đã chết và để đất nước này có được hai chữ “HOÀ BÌNH - ĐỘC LẬP - TỰ DO” như ngày hôm nay.

Anh dường như đã quên, hoặc cố tình quên rằng lịch sử chiến tranh của Việt Nam không kết thúc vào năm 1975.

Anh nói rằng “đất nước đã hoà bình độc lập 50 năm rồi, nên những người sinh giai đoạn 1955 -1960 không có “đánh đấm” gì để mà nhắc tới chiến tranh”, là một cách nhìn vừa thiển cận, vừa xúc phạm ký ức lịch sử của cả một thế hệ.

Những người sinh ra trong giai đoạn đó lớn lên đúng vào thời kỳ ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Họ là lớp người trưởng thành trong bom đạn, nhiều người chưa kịp sống trọn tuổi trẻ đã phải ra chiến trường. Nhưng ngay cả khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, đất nước này chưa từng có một nền hoà bình trọn vẹn, dài lâu như anh tưởng.

Bởi lịch sử Việt Nam không dừng lại ở mốc 30/4/1975.

Chỉ bốn năm sau, năm 1979, Việt Nam bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, một cuộc chiến khốc liệt, kéo dài nhiều năm, với những mặt trận mà đến hôm nay vẫn còn nhức nhối trong ký ức dân tộc. Trong đó, mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) là một trong những chiến trường ác liệt nhất.

Từ năm 1984 đến 1989, Vị Xuyên trở thành “lò vôi thế kỷ”. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống chỉ để giữ từng điểm cao mang những con số khô khốc: 468, 685, 772… Có những đơn vị thương vong tới 70 - 80%. Có những người lính ra đi không để lại tên, hài cốt còn nằm lại trong lòng núi đá cho đến tận hôm nay.

Những người sinh năm 1955 - 1960 khi ấy đang ở độ tuổi sung sức nhất của đời người. Họ không “đánh đấm bằng mồm”, mà trực tiếp cầm súng, trực tiếp nằm trong chiến hào, trực tiếp đối diện cái chết, trong một cuộc chiến mà suốt nhiều năm sau đó không được nhắc tới một cách đầy đủ và công bằng.

Chiến tranh đối với họ không phải “câu chuyện để kể cho vui”, mà là ký ức không thể quên, và cũng không có quyền quên.

Ngay từ khi sinh ra, những đứa trẻ Việt Nam đã được nuôi dưỡng bằng ký ức đó, không phải bằng thù hận, mà bằng lòng biết ơn và tự hào. Trong lời ru của bà, của mẹ, chiến tranh và đất nước đã hiện diện rất tự nhiên:

“À ơi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”.

Hay:

“Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Những câu ca dao ấy không chỉ nói về gian khó, mà nói về tinh thần cộng đồng, về sự hy sinh, về lý do vì sao người Việt Nam không thể coi chiến tranh như một câu chuyện phiếm.

Lịch sử Việt Nam không phải lịch sử của những dân tộc chưa từng bị xâm lược. Đó là lịch sử của một dân tộc nhỏ bé nhưng liên tục phải đứng lên để tồn tại. Vì thế, chiến tranh trong ký ức Việt Nam không phải là sự hiếu chiến, mà là tự vệ, là sinh tồn, là giữ lấy quyền làm người trên mảnh đất của mình.

Việc nhắc lại chiến tranh không phải để khoe khoang hay để “đánh đấm bằng mồm”, mà để nhắc rằng hoà bình hôm nay không tự nhiên mà có. Nó được đổi bằng xương máu, bằng tuổi trẻ, bằng những thế hệ không kịp sống trọn đời người.

Nếu coi việc nhắc đến chiến tranh là “ra rả”, thì có lẽ vấn đề không nằm ở những người từng đi qua chiến tranh, mà nằm ở sự đứt gãy ký ức lịch sử của một bộ phận người hôm nay, những người hưởng thụ hoà bình nhưng lại coi thường cái giá của nó.

Và cuối cùng, câu hỏi đặt ra là: anh Tiểu Vũ có thực sự đc thẩm thấu mạch văn hoá - lịch sử của dân tộc này hay chưa ? Bởi với bất kỳ người Việt Nam nào, thì ký ức chiến tranh không phải là thứ để chế giễu, càng không phải là thứ để phủi tay cho xong. Đó là phần máu thịt của lịch sử, và cũng là nền móng của hoà bình hôm nay.

Hoà bình không bắt đầu từ sự lãng quên. Hoà bình bắt đầu từ sự hiểu biết và tôn trọng quá khứ. 

Nhớ cho kỹ nhé anh Vũ nếu là con người thì cần phải biết:
"SỐNG VÌ MỒ MẢ - KHÔNG AI SỐNG BẰNG CẢ BÁT CƠM".

Chỉ YÊU CẦU anh không được dùng thứ ngôn từ của người làm báo mà lại hành xử như kẻ tung cảm xúc, dẫn dắt đám đông, lấy sự lãng quên làm lập luận. Vì khi anh nhận mình là nhà báo thì ắt khác với những kẻ thiếu trí tuệ, vô năng về nhận thức.

Chiến tranh không phải trò đùa để mỉa mai, ký ức dân tộc không phải công cụ để câu like câu view qua câu chữ. 
Ai coi thường lịch sử thì có thể được vài tràng vỗ tay rẻ tiền, nhưng không bao giờ có tư cách đứng chung hàng với những người LÀM NGHỀ TỬ TẾ.
Lịch sử ở đó. Máu xương ở đó.
Vấn đề chỉ là: anh có đủ kiến thức và bản lĩnh để đối diện hay không mà thôi! 
Thân ái!

Môi trường ST.

VỀ QUAN ĐIỂM CHO RẰNG VUA GIA LONG LÀ NGƯỜI “CÓ CÔNG” VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC!

     Trong những năm gần đây, xuất hiện ý kiến cho rằng vua Gia Long là người có công lớn trong lịch sử Việt Nam vì đã thống nhất đất nước sau thời kỳ phân tranh. Tuy nhiên, quan điểm này không phù hợp với lập trường sử học cách mạng và trái ngược rõ ràng với nhận định nhất quán của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam qua nhiều thời kỳ.

Nguyễn Ái Quốc đã nhiều lần khẳng định: việc Gia Long giành được ngai vàng không gắn với sự nghiệp độc lập dân tộc mà gắn liền với việc cầu viện và dựa dẫm vào thế lực thực dân phương Tây. Trong các tác phẩm viết từ năm 1919 đến 1944, Người chỉ rõ rằng Gia Long vì mục tiêu cá nhân đã “rước Tây vào nhà”, mở đầu cho quá trình xâm nhập, can thiệp và cuối cùng là xâm lược của thực dân Pháp. Việc thống nhất đất nước bằng con đường đó không thể được xem là công lao đối với dân tộc, bởi nó đặt nền móng cho thảm họa mất nước kéo dài gần một thế kỷ.

Trong diễn ca Lịch sử nước ta (1942), Nguyễn Ái Quốc phê phán Gia Long bằng những hình ảnh dân gian quen thuộc như “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giày mả tổ”, phản ánh cách nhìn của nhân dân và của sử học cách mạng đối với hành vi cầu ngoại viện. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ sự nối tiếp trách nhiệm lịch sử của triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời Tự Đức, khi các hiệp ước đầu hàng và nhượng đất cho Pháp lần lượt được ký kết từ năm 1862, dẫn đến việc mất toàn bộ Nam Kỳ, rồi Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
Quan điểm ấy không phải là sự phủ nhận toàn bộ vương triều Nguyễn một cách giản đơn. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn đánh giá lịch sử một cách phân minh: phê phán nghiêm khắc những vua quan đầu hàng, bán nước, nhưng đồng thời ghi nhận và biểu dương tinh thần yêu nước, chống Pháp của các vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Điều này cho thấy tiêu chí đánh giá của Người không phải là dòng họ hay vương triều, mà là lập trường đối với độc lập dân tộc và lợi ích của nhân dân.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các văn kiện quan trọng của Đảng qua các thời kỳ đều thống nhất khẳng định: triều đình nhà Nguyễn, đặc biệt là giai đoạn từ Gia Long đến Tự Đức và Bảo Đại, đã từng bước lệ thuộc, đầu hàng và làm tay sai cho thực dân Pháp. Việc đề cao Gia Long như một “người có công” vì thống nhất đất nước, trong khi bỏ qua hoặc làm nhẹ hành vi cầu viện ngoại bang và hậu quả lịch sử nghiêm trọng của nó, là cách tiếp cận phiến diện, tách rời vấn đề thống nhất lãnh thổ khỏi yêu cầu tối thượng là độc lập dân tộc.

Nhiều nhà sử học cách mạng uy tín như Trần Văn Giàu, Văn Tạo đã khẳng định rõ: sự thống nhất đất nước của phong trào Tây Sơn gắn liền với độc lập và chủ quyền dân tộc, còn sự thống nhất của Gia Long là sự thống nhất lệ thuộc, trả giá bằng chủ quyền và toàn vẹn quốc gia. Hai sự kiện này không thể đánh đồng và càng không thể dùng kết quả hình thức để biện minh cho bản chất chính trị - lịch sử của quá trình.

Vì vậy, việc một số người hiện nay cố gắng “xét lại”, tôn vinh Gia Long như một nhân vật có công lớn với dân tộc là đi ngược lại quan điểm sử học của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam và của truyền thống yêu nước Việt Nam. Nếu quan điểm này được đưa vào sách giáo khoa hay quốc sử mà không được phản biện nghiêm túc, sẽ gây ra sự nhiễu loạn nhận thức lịch sử, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.

Lịch sử cần được nhìn nhận khách quan, nhưng khách quan không đồng nghĩa với trung tính vô nguyên tắc. Trong sử học Việt Nam hiện đại, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá nhân vật lịch sử vẫn phải là thái độ đối với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và lợi ích của nhân dân. Theo tiêu chuẩn đó, Gia Long không thể được xem là người “có công” đối với dân tộc Việt Nam./.
Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: THẢM HOẠ CHIẾN DỊCH ĐỘT KÍCH IRAN NĂM 1980 CỦA HOA KỲ - VẪN CÒN “NÓNG HỔI” ĐẾN NGÀY NAY!

     Đám me Mẽo, giặc sử, con cháu ba sọc đang ra sức tung hô chiến dịch đột kích Caracas của đặc nhiệm Mỹ. Chúng dốt nát nên không biết rằng Trump đã phải đặt cược cả sự nghiệp vào vụ này và thực sự lo thất bại đến mất ăn mất ngủ. Sau đó mới có thể thở hắt ra mà tuyên bố “chiến dịch thành công nhất kể từ thế chiến 2 đến nay”!

Bởi, ngoài thất bại của vụ tập kích Sơn Tây năm 1970 hòng giải cứu tù binh phi công Mỹ. Thì đặc nhiệm Hoa Kỳ cũng từng thảm bại trong chiến dịch đột kích Tehran năm 1980 hòng giải cứu con tin ở ĐSQ. Cụ thể: 

CHIẾN DỊCH "GIƯƠNG VUỐT”: 

Năm 1978, Cách mạng Hồi giáo đã diễn ra ở Iran, dẫn đến sự sụp đổ của Triều đại Pahlavi. Bản thân Shah Mohammed Reza Pahlavi đã di cư cùng gia đình sang Hoa Kỳ, quốc gia mà hắn ta có mối quan hệ chư hầu, lệ thuộc.

Tuy nhiên, đại sứ quán Mỹ vẫn còn tại Tehran, và nhân viên của chúng đã bị bắt làm con tin (66 người). Chính phủ Iran mới yêu cầu Mỹ dẫn độ Pahlavi để đổi lấy những con tin. Carter, người đang trước thềm bầu cử tổng thống, không muốn từ bỏ Shah. Tuy nhiên, những con tin cần được giải phóng, nếu không sẽ không thể nói về việc tái tranh cử. Carter không muốn bắt đầu một cuộc chiến, nhưng việc giải phóng những con tin theo con đường ngoại giao là không thể.

Trong khi đó, bẩn thỉu “như người Mỹ” - George Bush Sr đã tiến hành những cuộc đàm phán bí mật với Iran để họ từ chối bàn giao con tin TRƯỚC KHI BẦU CỬ TỔNG THỐNG ở Mỹ. Đây là một trong hàng loạt các nước cờ để khiến Carter mất điểm, và tổng thống mới được bầu (Bush đã tranh và trúng cử) sẽ thực hiện một "hành động tốt đẹp" với việc đàm phán thả người sau đó. Đổi lại, Iran được hứa sẽ nhận được sự hỗ trợ về vũ khí trong trường hợp xảy ra xung đột với Iraq, bối cảnh mối quan hệ với nước này đang vô cùng căng thẳng.

Trở lại với Carter. Tình hình của ông ta không mấy tốt đẹp. Về mặt ngoại giao, những con tin không thể được giải phóng. Bắt đầu một cuộc chiến là không thể. Và sau đó, một kế hoạch giải phóng những con tin đã được đề xuất. Chiến dịch đặc biệt của lực lượng "Delta", dự kiến sẽ xâm lược nước này, cho hạ cánh một đội biệt kích, chiếm giữ một sân bay, cứu những con tin, vận chuyển họ bằng máy bay trực thăng đến sân bay nắm giữ và sơ tán bằng máy bay từ sân bay đó. Một kế hoạch tuyệt vời, phải không nào? Trên lý thuyết, chắc chắn rồi...

Tuy nhiên, mọi thứ đã sai ngay từ đầu. Do sự chuẩn bị không đầy đủ của "Delta" và những vấn đề với thiết bị, một trong tám máy bay trực thăng bay trong nhiệm vụ đã rơi xuống nước ngay sau khi vừa cất cánh từ tàu sân bay. Một máy bay khác bị mất trong cơn bão cát. Chỉ có sáu máy bay trực thăng đến được căn cứ tạm thời đầu tiên (một sân bay bị bỏ hoang của Anh) trong sa mạc.

Địa điểm hạ cánh được chọn hóa ra nằm, trái ngược với những lời bảo đảm của tình báo, bên cạnh một con đường cao tốc nhộn nhịp, khiến cho chiến dịch này bị lộ ngay từ đầu. "Delta" đã chặn một chiếc xe buýt liên thành phố chở theo hành khách, và những tay súng đặc nhiệm đã bắn nổ tung một chiếc xe bơm nhiên liệu của Iran đi qua khu vực của đường băng.

Trên một trong những máy bay trực thăng đến căn cứ, có những vấn đề về hệ thống thủy lực. Trong quá trình tiếp nhiên liệu, một trong những máy bay trực thăng đã đâm vào một chiếc máy bay tiếp nhiên liệu, và trong vụ hỏa hoạn sau đó, tám tên đặc nhiệm đã bỏ mạng và cả hai chiếc máy bay đều bị thiêu rụi, dẫn tới quyết định phải hủy bỏ chiến dịch và rời khỏi Iran ngay sau đó.
Thất bại này buộc Jimmy Carter phải rút khỏi cuộc bầu cử tổng thống. Ông ta hiểu rằng một sự sỉ nhục như vậy đã khiến ông mất đi sự nghiệp chính trị của mình.

Đây chính xác là những gì Donald Trump lo ngại. Mặc dù trong trường hợp Venezuela, đội hình “Delta" đã được chuẩn bị tốt hơn rất nhiều so với 46 năm trước và nhiều khả năng có "tay trong" làm nội gián./.
Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: KHI 740 ĐỨA TRẺ BỊ KẾT ÁN TRÔI RA BIỂN VÀ CẢ THẾ GIỚI NÓI “KHÔNG”, THÌ MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG ĐÃ NÓI “CÓ”!

     Đó là năm 1942. Khi đó thế chiến 2 bùng nổ, Ba Lan là nơi đang xảy ra cuộc chiến vô cùng khốc liệt giữa 2 cường quốc Đức và Liên Xô. Stalin lãnh tụ của Liên Xô lúc đó trong vai trò lãnh đạo tối cao của Liên Xô và Hồng Quân chống lại Đức Quốc xã trong thế chiến thứ hai.

Đức Quốc xã (Nazi Germany) là chế độ độc tài toàn trị ở Đức từ năm 1933-1945, do Adolf Hitler và Đảng Quốc xã (NSDAP) lãnh đạo, nổi bật với hệ tư tưởng phân biệt chủng tộc cực đoan, chủ nghĩa bài Do Thái và bành trướng lãnh thổ, gây ra Thế chiến II và Holocaust. Họ coi người German là chủng tộc thượng đẳng và thực hiện diệt chủng đối với người Do Thái và các nhóm khác. 

    Lúc đó người dân Ba Lan bị ép phải rời đi nơi khác. Họ rời bỏ quê hương vào các trại lao động ở những vùng băng tuyết héo lánh.
Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi.
Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. 

Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng.
“Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” 

Thức ăn cạn dần.
Thuốc men không còn.
Và hy vọng, thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này, cũng đang tắt dần. 

Maria, 12 tuổi, nắm chặt tay cậu em 6 tuổi. Em đã hứa với người mẹ hấp hối rằng sẽ bảo vệ em trai. Nhưng làm sao để bảo vệ một người khi cả thế giới đã quyết định rằng họ không đáng được sống? 

Khi đó, tin tức đến được một cung điện nhỏ ở Nawanagar, Gujarat.
Người cai trị nơi ấy là Jam Sahib Digvijay Singhji.
Một tiểu vương dưới sự thống trị của Đế quốc Anh. Không quân đội, không quyền lực thật sự với các cảng biển, không nghĩa vụ phải can thiệp. 

Các cố vấn nói với ông:
“Có 740 đứa trẻ đang mắc kẹt trên biển sau khi người Anh từ chối cho họ cập bến.” 

Digvijay Singhji bình tĩnh hỏi:
“Bao nhiêu đứa trẻ?”
“Bảy trăm bốn mươi, thưa Bệ hạ.” 

Một khoảng lặng.
Rồi ông nói:
“Người Anh có thể kiểm soát các cảng của ta. Nhưng họ không kiểm soát được lương tâm của ta.
Những đứa trẻ đó sẽ cập bến tại Nawanagar.” 

Họ cảnh báo:
“Nếu ngài chống lại người Anh thì…”
“Ta sẽ chịu.” 

Và ông gửi thông điệp đã cứu 740 sinh mạng:
“Các con được chào đón ở đây.” 

Tháng 8 năm 1942, con tàu tiến vào cảng dưới cái nắng mùa hè khắc nghiệt.
Những đứa trẻ bước xuống như những cái bóng ,quá yếu để khóc, đã quen với đau khổ đến mức không còn dám hy vọng. 

Vị Maharaja đứng chờ chúng trên bến cảng.
Mặc áo trắng, ông quỳ xuống để ngang tầm mắt bọn trẻ và nói qua phiên dịch những lời mà chúng chưa từng được nghe kể từ ngày cha mẹ qua đời: 

“Các con không còn là trẻ mồ côi nữa.
Các con là con của ta.
Ta là Bapu của các con, là cha của các con.” 

Ông không dựng một trại tị nạn tạm bợ.
Ông xây dựng một mái nhà. 

Tại Balachadi, ông tạo nên một Ba Lan thu nhỏ trên đất Ấn Độ:
giáo viên người Ba Lan, món ăn gợi ký ức quê hương, bài hát tuổi thơ, lớp học, khu vườn, thậm chí một cây thông Noel dưới bầu trời nhiệt đới. 

“Nỗi đau luôn cố xóa bỏ con người ta,” ông nói.
“Ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống của các con là thiêng liêng. Chúng sẽ sống ở đây.” 

Trong bốn năm, khi cả thế giới chìm trong chiến tranh, những đứa trẻ ấy sống không phải như người tị nạn ,mà như một gia đình.
Vị Maharaja đến thăm, nhớ tên từng đứa, tổ chức sinh nhật, và an ủi những bậc cha mẹ ở phương xa đã tuyệt vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại con mình. 

Ông chi trả bác sĩ, thức ăn, quần áo và mọi thứ cần thiết bằng chính tài sản của mình. 

Khi chiến tranh kết thúc và đến lúc chia tay, rất nhiều người đã khóc.
Balachadi là ngôi nhà duy nhất mà họ từng biết. 

Ngày nay, những đứa trẻ ấy đã trở thành bác sĩ, giáo viên, cha mẹ, ông bà.
Tại Ba Lan, các quảng trường và trường học mang tên Jam Sahib Digvijay Singhji. Ông được trao huân chương cao quý nhất của đất nước. 

Nhưng tượng đài thật sự của ông không làm bằng đá.
Nó được tạo nên từ 740 cuộc đời. 

Và những cuộc đời ấy vẫn kể cho con cháu mình câu chuyện về một vị vua Ấn Độ, người mà khi cả thế giới đóng sập cửa, đã nhìn vào nỗi đau và nói: 

“Từ nay, các con là con của ta.”

Cuối cùng nhờ có lãnh tụ Stalin của Liên Xô lúc đó đã dẫn dắt cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại (1941-1945) đánh bại phe Phát xít, cùng với các nước Đồng Minh khác, Liên Xô đóng vai trò quan trọng trong kết thúc Thế chiến II. Stalin kêu gọi toàn dân Liên Xô đứng lên kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc trước cuộc xâm lược của Hitler. Chiến Thắng này góp phần quan trọng vào việc giải phóng các nước Trung và Đông Âu cũng như kết thúc chiến tranh Thế chiến thứ hai./.
Môi trường ST.

DÂN THANH HÓA QUÊ TÔI AI CŨNG THÍCH ĂN RAU MÁ, NHƯNG KHÔNG PHẢI AI VŨNG “PHÁ ĐƯỜNG TÀU”!

     Thời gian gần đây, trên mạng xã hội cũng như trong dư luận xã hội, có 2 người quê Thanh Hóa “nổi như cồn”. Người thứ nhất là Lê Trung Khoa, hôm 31.12.25, bị Tòa án tp Hà Nội tuyên án 17 năm tù vì tội chống phá NN VN. Người thứ hai là ông Đỗ Ngọc Thống, người có “công” trong việc đưa rác phẩm Nỗi buồn chiến tranh vào SGK. Ông Thống không bị tòa án công lý xử tội, nhưng tòa án lương tâm trong lòng hàng triệu người Việt chân chính trong và ngoài nước, đặc biệt là các CCB, đã vạch mặt ông ta. Về rác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, cá nhân tôi (HNT) đã có quan điểm rất rõ ràng. Trên dòng thời gian FB, tôi đã đăng 5 bài viết.
1. Hôm 03.12.2025: MỘT SỰ VINH DANH KHÓ HIỂU
2. Hôm 09.12.2025: HIỆN TƯỢNG VÀ BẢN CHẤT
3. Hôm 12.12.2025: ĐỪNG LỢI DỤNG “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH” ĐỂ PHÁT TÁN TƯ TƯỞNG ĐỘC HẠI!
4. Hôm 16.12.2025: “CỨ TỪ TỪ KHOAI SẼ NHỪ”
5. Hôm 22.12.2025: VUI BUỒN VÌ NGHỆ AN.
Tất nhiên, tôi vui mừng khi khi nghe tin, BCT đã vào cuộc và Nhà văn Bảo Ninh, tác giả Nỗi buồn chiến tranh đã phải làm đơn xin rút khỏi danh sách giải thưởng Nhà nước về việc tôn vinh các tác phẩm văn học - nghệ thuật tiêu biểu xuất sắc sau ngày thống nhất đất nước.

Từ lâu rồi, tôi thấy khó hiểu, một người như ông Thống đã nhiều lần công khai “nói đểu” chế độ, lại được giao nhiệm vụ đó. Nhiều người đã hỏi tôi, vì sao ông Thống hăng hái trong việc tôn vinh rác phẩm NBCT, tôi chỉ phỏng đoán, ông ta sau nhiều lần đi Mỹ về, sau khi hít quá nhiều không khí Mỹ, đã hoa mắt trước sự hào nhoáng bề ngoài của “thiên đường” phương Tây. Có người nói, ông ta đã bị tình báo Mỹ mua chuộc, tôi (HNT) không có bằng chứng cho quả quyết này, nhưng tôi cũng không thể loại trừ khả năng đó. Hiện tượng tương tự chúng ta từ lâu đã thấy rõ ở một người quê TH khác, đó là nhà thơ Nguyễn Duy. Cách đây vài năm, Thiếu tướng Lê Mã Lương cũng bị “ném đá” túi bụi vì giao lưu với đám dân chủ cuội rồi phát biểu linh tinh. Sau khi nhận thấy nguy cơ bị tước danh hiệu Anh hùng LLVTND và khai trừ ra khỏi Đảng CSVN, ông LML từ đó đã “thụt vòi”.

Nói chung, không nên vơ đũa cả nắm, dân Thanh Hóa quê tôi ai cũng thích ăn rau má, nhưng không phải ai cũng “phá đường tàu”./.
Môi trường ST.

NHỮNG PHÁT NGÔN THÊM LỬA “HOẢ TÁNG” NỖI BUỒN CHIẾN TRANH!

     Vậy là Nỗi buồn chiến tranh (NBCT) đã cận kề cửa lò "hỏa táng". Cuốn sách về với tro bụi, cuốn theo những hệ lụy dần bị triệt tiêu, góp phần lành mạnh hóa đời sống tinh thần xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
                            *       *
                                *
     Nhìn lại quá trình đấu tranh loại “rác phẩm” chúng ta thực sự khâm phục những con người kiên trung vì công lý, sự thật lịch sử, bảo vệ chính nghĩa, thành quả cách mạng, phẩm giá "Bộ đội Cụ Hồ" trước sự tấn công bằng những phát ngôn thoá mạ, cay độc.
      Trên truyền thông mạng xã hội, đêm ngày nhan nhản Status, comments với những lời lẽ chợ búa, cục cằn vô văn hóa xúc phạm, tấn công những người phê phán lật tẩy “rác phẩm” NBCT. Số này phần đa là ít học, vô minh nên a dua, chỉ gây vo ve khó chịu, mượn được Bờm cái quạt mo thôi là gãy cánh.
      Đáng quan tâm là những phát ngôn của “giới tinh hoa tự xưng và ngộ nhận”. Lưng vốn chữ nghĩa của số này không phải ít. Thế nên ngoa ngôn, xảo ngôn của họ mới làm dậy sóng phẫn nộ của cộng đồng bảo vệ sự thật lịch sử. Và vô tình, những phát ngôn của họ lại thêm lửa “hỏa táng” NBCT. Xin dẫn 1 số phát ngôn:
   + Một chức sắc của Hội Nhà văn “chẩn đoán” những người phản đối NBCT là “ung thư tâm hồn” - một dạng ung thư chưa có trong Từ điển Y học. Dân gian có câu cửa miệng “ung thư đồng nghĩa án tử”, bởi sự quái ác của căn bệnh. 
       “Ung thư tâm hồn” mà còn năng lực nhận ra dị tật NBCT! Lại còn có nghệ thuật đấu tranh, bước đầu đã loại được “rác phẩm” ra khỏi danh mục các tác phẩm tiêu biểu sau 50 năm đất nước thống nhất, sao lạ vậy?
      + Phát ngôn của một chức sắc khác trong Hội Nhà văn đánh giá NBCT: “là tác phẩm tầm cỡ.., mà nhiều quốc gia muốn có được cho văn học của mình... nó vượt qua những lớp bụi thiên kiến để cống hiến chất nghệ thuật vàng ròng...”. Ôi, thật trác tuyệt! Mà sao “vàng ròng” lại thành “rác thải” vậy! Cửa miệng bao thường dân là độc giả khoe đọc tác phẩm này, tác phẩm nọ đã chạm đến con tim mình, vì thấy bóng mình, cha mẹ, người thân, đồng đội mình trong đó. Còn đọc NBCT, Cựu chiến binh, nhất là ở Tây Nguyên thời chống Mỹ (bối cảnh NBCT) chỉ thấy bìa đặt g.i.ế.t vượn nhầm đàn bà, đảo ngũ, h.i.ế.p dâm tập thể, cờ bạc đỏ đen...; không hề thấy bóng của mình, của đồng đội mình trong đó!
      Và để ma mị cho cái “nghệ thuật vàng ròng”, vị này tung hỏa mù “đa chiều, đa dạng viết về chiến tranh... mới có một tác phẩm như thế!”. Thực chất của ma mị ở đây là “nghệ thuật hóa chính trị”, núp bóng hư cấu xuyên tạc bản chất chính trị, tính chính nghĩa của Cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.
      + Một chức sắc đứng đầu văn học nghệ thuật cấp tỉnh phát ngôn rằng, “Đọc các bài đấu tố NBCT... thấy thương cho đất nước mình, đã mấy thế hệ rồi mà vẫn tồn tại một cộng đồng rễ chuỗi sôi sục tinh thần đấu tố của cách mạng thổ cải”. Bạn đọc hãy đọc kỹ phát ngôn này có 2 dụng ý: Một là, phỉ báng hàng triệu người gồm Cựu chiến binh và các tầng lớp yêu nước phê phán NBCT là thứ rác rưởi. Hai là, cho tinh thần đấu tranh đòi loại bỏ NBCT “sục sôi... của cách mạng thổ cải” (ý chỉ cải cách ruộng đất sau 1954), đó là tâm lý bầy đàn của những kẻ ngu si bị dắt mũi. Nhân vật này còn đem đối lập giữa “giới trí thức/ văn nghệ sĩ” với cộng đồng phê phán đòi hủy bỏ “rác phẩm” NBCT. Đây là một sự ngạo mạn, song vô minh. Bởi NBCT chỉ là “phiên bản xấu của Phía Tây không có gì lại đã bị bóc mẽ. Nó là phiên bản xấu bởi ăn cắp ý tưởng, kết cấu... song lại hư cấu bịa đặt, vô nhân tính, trong khi nguyên bản phản ánh chân thực, đầy tính nhân văn. Qua đây cho thấy cái năng lực cao siêu, tinh tế đẳng cấp trên của vị này so với đông đảo Cựu chiến binh, các tầng lớp vạch trần “rác phẩm” trong tiếp nhận giá trị thẩm Mỹ!!! Nghe nói vị này vừa tái cử đứng đầu Hội liên hiệp văn học nghệ thuật cấp tỉnh trong kỳ Đại hội mới đây bằng hình thức “giơ tay”!
     + Phát ngôn của một vị làm quản lý ngành văn hóa cấp tỉnh, đã kết tội cộng đồng phê phán NBCT: “... như bãi đấu tố của bần cố nông tri thức...”; cho “sỉ vả, kết tội Bảo Ninh và tác phẩm của ông là xuyên tạc, phản bội, lật sử, chúng ta mới là những kẻ vô ơn, phản bội trơ trên nhất... những con lươn, con chạch lại đi bày vẽ con người về cách làm người”! Đọc phát ngôn này, thực sự cần uống ngay thuốc trung hòa acid dạ dày anh chị em ạ. Có thể nhận xét, vị này mới thực sự là trí thức nửa mùa, học hành, tu dưỡng không đến nơi đến chốn. Thế mà không hiểu sao, bằng cách nào mà vị đó trườn lên được ghế Phó Giám đốc sở? Ngoài ra, trong phát ngôn của vị này còn ẩn chứa dấu hiệu phản động, phân biệt đẳng cấp. Hy vọng các cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ.
      + Thêm phát ngôn của vài nhân vật trong giới báo chí coi thường những người phê phán NBCT: “đọc văn như đọc sử...”; “...thiếu hiểu biết tối thiểu về thể loại trong văn học nghệ thuật, đã dẫn đến không chỉ có ý kiến... làm đơn kiện... Tôi thấy trò lố này có nhiều người hùa theo”. Nhà báo này còn vu cáo sai sự thật đối với hàng vạn cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 đồi bại rằng, “Quân đoàn ba đàn và cũng chén”! Nhà báo như này thì không chỉ thấp TẦM, mà TÂM còn vẩn đục.
                              *       *
                                   *
  Tiếp cận, phân tích có lựa chọn một số phát ngôn gây phẫn nộ đối với hàng triệu người, không riêng Cựu chiến binh, mà đủ các thành phần xã hội. Lịch sử cách mạng Việt Nam, có truyền thống “Quân với Dân một ý chí”. Sự phẫn nộ của Cựu chiến binh tất yếu dẫn đến sự phẫn nộ của Nhân dân. Vì thế những phát ngôn của “giới tinh hoa tự xưng và ngộ nhận” trên đã vô tình thêm lửa “hỏa táng” NBCT.
       Bài viết vào cuối chiều đông lạnh, càng se lòng. Biết đâu những phát ngôn kiểu đó sẽ ngược gió “hỏa táng” cả sự nghiệp văn chương, báo chí của những người trong “giới tinh hoa tự xưng và ngộ nhận”./.
Môi trường ST.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

KẺ NÀO CHỦ MƯU?

     Có một chi tiết đáng chú ý trong câu chuyện quanh “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh mà nhiều người chưa biết: tác giả Bảo Ninh đã xin rút khỏi giải vinh danh!

Chỉ riêng hành động đó thôi, đã cho thấy ông ấy ý thức được mức độ nhạy cảm và hệ quả xã hội của tác phẩm trong bối cảnh hiện nay.

Không né tránh, không “cố đấm ăn xôi”, không vin vào danh nghĩa nghệ thuật để hưởng trọn hào quang.

Ở góc độ cá nhân, đó là một biểu hiện của Liêm Sỉ.

Nhưng dừng lại ở việc khen hay chê tác giả thì chưa bàn đến, và thậm chí là lệch trọng tâm.

Bởi vấn đề cốt lõi không nằm ở Liêm Sỉ của một nhà văn, mà nằm ở trách nhiệm của hệ thống:
- Ai đề xuất vinh danh? (tác phẩm này từng bị cấm trong thập niên 1990).
- Vậy ai là người đề xuất lôi sản phẩm này quay trở lại, đặc biệt lại chui vào sách giáo khoa giảng dạy cho học sinh?
- Ai cổ vũ? Chẳng phải là những nhà văn, nhà thơ, thậm chí các quốc gia từng đưa quân đội vào xâm lược Việt Nam những năm 60-70 của thế kỷ trước cổ vũ hay sao? 
- Ai đưa tác phẩm gây tranh cãi sâu sắc về lịch sử, dung tục, và ký ức chiến tranh vào không gian giáo dục và biểu tượng quốc gia?

Một tác phẩm có thể là nỗi đau thật của cá nhân.
Nhưng khi nó được nâng lên thành “đại diện ký ức” cho cả một dân tộc, thì nó không còn là chuyện riêng của văn chương, mà là chuyện của Lịch Sử, Giáo Dục và Trách Nhiệm Chính Trị - Văn Hóa.

Tác giả có thể còn Liêm Sỉ.
Nhưng nếu những người nắm quyền lựa chọn, vinh danh và định hướng dư luận không còn một chút Liêm Sỉ, thì xã hội vẫn phải trả giá.

Và câu hỏi cần được đặt ra?
Ai chịu trách nhiệm khi những lựa chọn sai lầm được khoác áo “nghệ thuật” để đứng trên ký ức chung của Nhân Dân?

Bài học nhãn tiền về những quốc gia bị vùi dập trong bom đạn chiến tranh dẫn đến đói nghèo, đất nước chia nhỏ ra nhiều phần, tài nguyên bị các nước Phương Tây vơ vét kiệt quệ… vẫn còn là một câu chuyện nóng hổi, trong đó phải kể đến Irac, Libi, Nam Tư, Syry, Ukraina, Bănglades, Myanma, Campuchia, Nepal … Kể cả Liên Xô trong quá khứ.
Tất cả nguyên nhân đa phần đều bắt nguồn từ việc bỏ rơi mặt trận văn hóa tư tưởng.

Và - văn học, lịch sử, phim ảnh… chính là gốc rễ của mọi vấn đề.

Một khi lớp trẻ đã bị nhồi nhét hiểu sai, hoặc những sự thật cần biết thì lại không được biết… sẽ dẫn tới việc lớp người sau quay lại phán xét lớp người đi trước, thậm chí xét lại cả lịch sử dân tộc.

Bởi vậy - trong những hạt sạn văn học , lịch sử đưa vào giảng dạy cho học sinh tại các nhà trường, chắc chắn sẽ phải có “bàn tay” nào đó điều khiển trực tiếp, hoặc gián tiếp…
Điều nguy hiểm nhất , chính là việc cả một bộ máy của Bộ giáo dục và đào tạo đều “vô tư” im lặng - Để rồi, sau khi những người cán bộ về hưu, quần chúng nhân dân bức xúc lên tiếng kéo dài… thì câu chuyện mới bắt đầu dừng lại.
Vậy - kẻ đứng sau đó là ai???
Môi trường ST.

KHI VĂN HỌC XA RỜI CHÍNH TRỊ; CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Không giống như các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác, Hội Nhà Văn Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức xã hội, tập hợp đoàn kết, động viên hội viên phát huy trí tuệ và tài năng để xây dựng NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM YÊU NƯỚC, nhân văn, dân chủ, đổi mới, góp phần xây dựng nền văn học Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; phục vụ Nhân dân, phục vụ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, vì hòa bình và hợp tác hữu nghị với các dân tộc trên thế giới.
(Trích Quyết định Số: 1685/QĐ-TTg, ngày 08 tháng 10 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều lệ Hội Nhà Văn Việt Nam).

Kể từ ngày thành lập đến nay; Hội Nhà văn Việt Nam đã phát huy truyền thống Hội Văn nghệ kháng chiến, đồng hành cùng dân tộc, cùng Đảng góp phần thiết thực vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 68 năm qua, các nhà văn Việt Nam đã dấn thân vào con đường chung của dân tộc, con đường đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhiều nhà văn cách mạng tiền bối đã để lại cho Tổ quốc những tác phẩm bất hủ đến nay vẫn còn nguyên giá trị lôi cuốn bạn đọc. Trong Lễ kỷ niệm 65 năm thành lập Hội Nhà Văn Việt Nam, Ông Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội nhấn mạnh: “Chúng ta không thể nào quên hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, có biết bao nhà văn đã đi vào mặt trận trong tư thế của một người lính. Họ cầm súng và cầm bút. Máu của nhiều nhà văn đổ xuống mảnh đất Việt Nam trong cuộc chiến tranh, cùng với những trang viết vì con người, vì Tổ quốc đã làm cho những tác phẩm của họ trở nên vô giá và bất tử”. 

Văn học có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội đặc biệt là văn học cách mạng có sứ mệnh rất lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trong công cuộc xây dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Văn học là con người, là lòng nhân ái và cái thiện. Văn học không chỉ đơn thuần về mặt nghệ thuật mà còn phải biết khơi dậy khát vọng của dân tộc, xây dựng những hệ giá trị văn hóa mới, đấu tranh với những thói hư tật xấu, những tiêu cực để làm cho xã hội ngày càng tốt đẹp hơn; phải giữ gìn được bản sắc văn hoá dân tộc; hướng về chân, thiện, mỹ; bảo vệ truyền thống cách mạng mà xương máu của cả dân tộc đã đổ xuống để có ngày hôm nay. Vì vậy, việc tôn vinh trao giải cho bất cứ một tác phẩm văn học nào cũng cần xem xét cẩn trọng không chỉ về mặt nội dung, nghệ thuật mà còn bao hàm ý nghĩa, tác động xã hội tích cực mà tác phẩm đem lại, trong đó vai trò của Hội Nhà Văn Việt Nam rất lớn đặc biệt là BCH và Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam. 

Rất tiếc, qua vụ việc vinh danh tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh” của tác giả Bảo Ninh, Hội Nhà Văn Việt Nam cũng như Chủ tịch Hội chưa làm tốt vai trò trách nhiệm của mình; một số uỷ viên BCH và Hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam đã xa rời quan điểm chính trị của Đảng; Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ một tác phẩm có nội dung không tốt bị dư luận phản đối; một số nhà văn có thái độ thiếu chuẩn mực mạt sát dư luận xã hội. Đó là điều đáng phê phán. Hội Nhà Văn Việt Nam cần xem xét trách nhiệm của mình; loại bỏ những hội viên này ra khỏi hội./.
Khuyết danh ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NGƯỜI NỮ ANH HÙNG TRƯỚC TÒA ÁN BINH CỦA GIẶC!

     Ngày 10/1 - Võ Thị Thắng & Nụ cười chiến thắng!

Sinh ngày 10/1/1945 tại Long An, anh hùng Võ Thị Thắng lớn lên trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước.

Từ nhỏ, bà đã tham gia đưa thư liên lạc, nuôi giấu cán bộ và dấn thân vào phong trào cách mạng của thanh niên - sinh viên Sài Gòn.

Nhưng cũng chính những năm tháng đấu tranh ấy đã đẩy Võ Thị Thắng vào chốn lao tù, nơi bà phải chịu đựng sự giam cầm và tra tấn suốt 6 năm tại Thủ Đức, Chí Hòa, Côn Đảo.

Tháng 8/1968, trước Tòa án quân sự Nguỵ quyền Sài Gòn, khi bị tuyên phạt 20 năm tù, Võ Thị Thắng chỉ mỉm cười đáp: “Liệu chính quyền các ông có tồn tại đến 20 năm để bỏ tù tôi không?”.

May mắn thay, hình ảnh hiên ngang của cô nữ sinh 23 tuổi đã được một phóng viên người Nhật ghi lại, trở thành bức ảnh lịch sử mang tên “Nụ cười chiến thắng”.

Nụ cười ấy sau đó nhanh chóng được lan truyền và nổi lên như một biểu tượng tinh thần trong suốt những năm kháng chiến đầy gian khổ.

Sau ngày đất nước thống nhất, bà Võ Thị Thắng tiếp tục cống hiến và để lại dấu ấn sâu sắc trên nhiều lĩnh vực.

Ngày 22/8/2014, bà qua đời tại TP.HCM, hưởng thọ 69 tuổi.

Để ghi nhận những đóng góp của người phụ nữ kiên trung ấy, Đảng và Nhà nước quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho bà sau đó một năm./.
Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

ĐỀ NGHỊ THU HỒI THẺ NHÀ BÁO!

     Thanh Hằng là một kẻ đang làm nghề báo, nhưng lại thường xuyên lên mạng xã hội thể hiện tư tưởng cá nhân cực đoan. Ả cả gan tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ quân đội nhân dân Việt Nam (hình 1); chế giễu nguyên tướng lĩnh cấp cao quân đội (hình 2); chia sẻ bài của những tay tư tưởng chính trị có vấn đề, đã từng bị nhắc nhở (hình 3).

Tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp ở đâu? Thực sự nền báo chí cách mạng nước nhà càn tiếp tục thực hiện quyết liệt công cuộc cải tổ, thanh lọc, đưa ra khỏi cơ quan báo chí những kẻ thoái hóa, biến chất ra khỏi hệ thống báo chí - Đảng, Nhà nước cần cảnh giác, nắm chắc hệ thống báo chí, truyền thông, đặc biệt là trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc - thực dân đang chơi bài ngửa, táo tợn như hiện nay - Thời đại 4.0, ai nắm giữ được thông tin, truyền thông, báo chí, kẻ đó là kẻ mạnh!


Môi trường ST.

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO-DU LỊCH CHƯA NGHIÊM TÚC, CẦU THỊ!

1. Theo thông cáo báo chí của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch:

“Ngày 07/01/2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhận được Thư của nhà văn Bảo Ninh. Bộ đã giao cho các đơn vị chức năng của Bộ gặp gỡ, trao đổi, lắng nghe ý kiến của nhà văn Bảo Ninh.

Trên cơ sở rà soát tiêu chí bình chọn,đánh giá lại toàn diện, tổng thể quá trình bình chọn; căn cứ kế hoạch, quy chế, tiêu chí bình chọn và tôn trọng nguyện vọng của cá nhân tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 14/QĐ-BVHTTDL ngày 8/01/2026 về việc đưa tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh của tác giả Bảo Ninh ra khỏi danh sách nghiệm thu và công bố bình chọn 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 – 30/4/2025) ban hành kèm theo Quyết định số 4313/QĐ-BVHTTDL ngày 13/11/2025”.

2. Việc tác giả Bảo Ninh có THƯ là cơ sở để Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ra quyết định số 14/QĐ- BVHTTDL, ngày 08/1/2026?

Theo tôi đây là lý do “HỢP PHÁP HOÁ”, Bộ VHTTDL “tôn trọng nguyện vọng của cá nhân tác giả” để ra quyết định đưa tác phẩm “Nỗi buồn chiến tranh - NBCT” của tác giả Bảo Ninh ra khỏi danh sách nghiệm thu và công bố bình chọn 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 – 30/4/2025) ban hành kèm theo Quyết định số 4313/QĐ-BVHTTDL ngày 13/11/2025. 

Phải khẳng định: 
Việc loại tác phẩm NBCT của tác giả Bảo Ninh không phải là ý kiến tác giả mà tác phẩm này KHÔNG ĐÚNG QUY CHẾ, KHÔNG ĐÁP ỨNG TIÊU CHÍ bình chọn 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất BUỘC PHẢI ĐƯA RA NGOÀI DANH SÁCH NGHIỆM THU, BÌNH CHỌN.

3. THU HỒI VINH DANH hay đưa ra ngoài danh sách, nghiệm thu, bình chọn?

Đây là hành động mập mờ của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. 

Ngày 30/11/2025, tất cả các báo, trang tin điện tử đều đồng loạt đưa tin: “Tiểu thuyết "Nỗi buồn chiến tranh" của nhà văn Bảo Ninh được Bộ VH-TT-DL VINH DANH trong lễ công bố 50 tác phẩm văn học nghệ thuật biểu diễn Việt Nam tiêu biểu xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất. Vậy tại sao không phải là THU HỒI VINH DANH? mà lại là ĐƯA RA NGOÀI DANH SÁCH.

Một quyết định muộn màng sau sức ép của dư luận và sự vào cuộc của các cơ quan chức năng nhưng chưa phải là sự cầu thị nghiêm túc từ trách nhiệm công vụ và đạo đức xã hội của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

Và dư luận yêu cầu tiếp theo, Bộ VHTTDL phải kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc vinh danh tác phẩm này, tiến tới yêu cầu Bộ Giáo dục - Đào tạo phải loại bỏ tác phẩm này ra khỏi sách giáo khoa./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHÂN VIỆC DÂN TA GỌI NGUYỄN ÁNH “CÕNG RẮN CẮN GÀ”, CÓ KẺ CŨNG NGHỊ LUẬN VUA QUANG TRUNG CŨNG “CÕNG RẮN”!

     Bàn về lời nghị luận cho rằng: “Nguyễn Huệ cũng cõng rắn (Tàu Ô) cắn gà nhà, chẳng khác Lê Chiêu Thống rước quân Thanh, Nguyễn Ánh cầu viện Xiêm La.”

Có kẻ chép miệng mà rằng: Quang Trung dung dưỡng ngoại bang, nuôi đám Tàu Ô hải phỉ, ấy là “cõng rắn cắn gà nhà”. Nghe lời ấy, kẻ hậu học này chợt nhớ chuyện xưa: đời Lý có Nùng Trí Cao, triều Trần có Chiêu Minh vương Trần Nhật Duật cùng tướng Tống Triệu Trung.

Nùng Trí Cao, tuy cát cứ một phương, nhưng trong lòng sợ triều Lý hơn sợ cả sinh phụ; Triệu Trung vốn người Tống, mà dưới trướng nhà Trần, dốc sức cùng quân Đại Việt đánh tan vó ngựa Nguyên Mông. Đến như đám Tàu Ô thuở Tây Sơn, chỉ dám quấy nhiễu phương Bắc, tuyệt nhiên không dám mon men vuốt râu Bắc Bình vương.

Ấy gọi là “rắn”, nhưng là thứ rắn biết sợ. Không những không cắn gà nhà, mà còn chẳng dám nhe nanh. Bởi nếu đã cắn, ắt là tự chuốc lấy diệt vong. Đám ấy, suy cho cùng, cũng còn biết điều.

Còn như quân Xiêm La hay kẻ tóc đuôi sam phương Bắc, thì khác hẳn: đã cắn là cắn đến cùng, cắn cho máu chảy đầu rơi. Nhưng những “con rắn” ấy, há phải do các bậc Lý, Trần, hay Quang Trung rước về mà nên?

Lại có người trách rằng: Quang Trung vốn là bề tôi, dám phế bỏ bề trên, ấy là phạm thượng. Kẻ này lại nhớ chuyện Nguyễn Phúc Nguyên dâng lễ hai đáy, gửi tờ biểu ngầm nói rõ: “không nhận sắc phong” của triều Lê. Hành vi ấy, há lại không phạm thượng ư? Hay chỉ vì thành bại khác nhau mà lời phán xét đổi thay?

Xưa nay, cổ nhân vốn chẳng lấy thành bại để luận anh hùng. Người xưa nay đều đã khuất bóng nghìn thu. Kẻ này cũng không xem Đức Quang Trung như bậc thánh thần siêu phàm, mà chỉ coi ngài là một con người giữa thời loạn: có ưu có khuyết, có hay có dở, có phàm tục như bao kẻ khác.

Song vẫn dành cho ngài lòng kính trọng, bởi công phá Thanh, dẹp Xiêm, lật Trịnh, đổ Nguyễn, mở đường cho cơ nghiệp thống nhất về sau; để rồi Gia Long thừa thế hoàn thành đại nghiệp, khiến sơn hà liền một dải, quốc gia cường thịnh, biên cương mở rộng đến mức cực thịnh.

Ấy là điều Quang Trung chưa kịp làm, chứ chẳng phải không thể làm.

Than ôi! Trời xanh khéo ngắn số anh hùng. Giá như Bắc Bình Vương thêm được mươi năm thọ, thì hào kiệt Đường Tống há còn khoe sức?

Nhưng lịch sử vốn không phải bàn cờ giả định, và cũng chẳng có chỗ cho hai chữ “giá như”./.
Ảnh: Admin page Binh khí Việt.
Môi trường ST.

NGƯỜI DÂN CHÚNG TÔI, CÁC CỰU CHIẾN BINH PHẢN ĐỐI NBCT CỦA ẤU PHƯƠNG -BẢO NINH LÀ VIẾT SAI LỊCH SỬ, SAI BẢN CHẤT CỦA NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC! CHỨ KHÔNG PHẢI VÌ LÒNG HẬN THÙ NHÉ CÁC NHÀ VĂN, NHÀ THƠ, NHÀ BÁO...!

     Những người phản đối NBCT là họ đề nghị rút NBCT ra khỏi 50 tác phẩm tiêu biểu được khen thưởng và xóa bỏ tác phẩm NBCT trong sách giáo khoa với những lý do mà trên cộng đồng mạng đã nêu.
Nhưng, một số ít nhà văn, phóng viên đứng ra bảo vệ NBCT không có những lý lẽ lập luận thẳng những điều bên phản đối đưa ra mà họ lại nói dài dòng lung tung sai đề. Ví như một học sinh tiểu học làm bài văn tả con gà, em lại tả con vịt. Họ được ăn học đào tạo, làm việc không lẽ họ dốt. Chắc là không, họ không dám lập luận phản biện mà họ có ý nói tránh ra chuyên đề cần tranh luận.

Ông Nguyễn Quang Thiều chủ tịch Hội nhà văn vừa rồi viết bài: "Chúng ta hận thù đến bao giờ". Nếu bài viết này trước đây lâu, tôi không nói, nhưng ông mới đăng vào trung tuần tháng 12/2025 nhằm bảo vệ NBCT. Theo tôi hiểu ý của ông là: Người dân Việt Nam hận thù nước Mỹ đến bao giờ mới thôi? Nghĩa là do lòng hận thù mà phản bác NBCT.

Ông sai lầm rồi! Không ai hận thù cả. Người dân phản đối Tác giả và tác phẩm bởi vì viết không đúng sự thật lịch sử, nói xấu bộ đội.
- Cuộc kháng chiến chống Mỹ, BN nói là "nội chiến".
- AHLS hy sinh sao gọi là "sự hy sinh mù quáng"?
Một bên nuôi bằng đô la, có lương nuôi cả gia đình, trang bị tận răng với một bên thiếu thốn dân nuôi từng cái củ mì, giải ngũ về giỏi lắm mua được con búp bê về cho con, nhưng tinh thần mục tiêu: Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh!
- Quân GP mà nói là xô bồ hỗn loạn, rời rạc, mất tinh thần... có đúng không?
- Con vượn béo xệ mà nhầm với người đàn bà?
- Người cha khuyên con (đi bộ đội) đừng dại đi vào chỗ chết?
- Những lời viết dâm ô mà đưa vào sách giáo khoa?
Và một số bài viết khác bảo vệ NBCT vì nghệ thuật, vì hư cấu, vì dịch nhiều thứ tiếng...

Tóm lại, hãy thu hồi giải thưởng và rút khỏi sách giáo khoa rác phẩm NBCT là nguyện vọng của người dân./.
Môi trường ST.