Đất đai là một nguồn lực
quan trọng cho sự phát triển. Để sử dụng nguồn lực này một cách hiệu quả, chính
sách, pháp luật về đất đai cần có tầm nhìn dài hạn, bảo đảm môi trường ổn định
về chính trị - xã hội; điều tiết sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả. Muốn vậy,
cần có các giải pháp đột phá trong thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai
thời gian tới.
Tình
hình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai thời gian qua
Ngay sau khi có Nghị
quyết số 19-NQ/TW, ngày 31-10-2012, của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI, “Về tiếp
tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện
công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại”, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ
trương, chính sách, pháp luật để triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, công
tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức xã hội được quan tâm; việc tổ
chức thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai được coi trọng, qua đó, đóng
góp quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an
ninh của đất nước:
1- Tài nguyên đất được
quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả hơn, trở thành nguồn lực quan trọng cho sự
phát triển đất nước, nguồn thu từ kinh tế đất ngày càng tăng; an ninh lương
thực được bảo đảm; nhu cầu đất cho sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát
triển đô thị, kết cấu hạ tầng, quốc phòng - an ninh được phân bổ hợp lý hơn;
2- Hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước được nâng lên; từng bước gắn kết công tác quy hoạch, kế hoạch
với định hướng khai thác sử dụng đất trong chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội qua các giai đoạn, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, thích ứng với
biến đổi khí hậu; việc phân cấp, phân quyền được coi trọng, bước đầu khắc phục
tình trạng lãng phí, tạo quỹ đất cho các mục tiêu phát triển;
3- Quyền và nghĩa vụ của
chủ thể sử dụng đất được phân định rõ hơn; bước đầu hình thành khung pháp lý cơ
bản để thị trường bất động sản vận hành; các giao dịch chuyển nhượng, cho thuê,
thế chấp bằng quyền sử dụng đất không ngừng tăng lên; công tác cải cách thủ tục
hành chính, thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai được coi trọng hơn,
đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất đạt 97,3%;
4- Công tác thanh tra,
kiểm tra, giám sát bước đầu có chuyển biến; tình hình đơn, thư khiếu nại về đất
đai có xu hướng giảm so với giai đoạn 2009 - 2013; việc xử lý các vụ tham
nhũng, tiêu cực về đất đai đạt được những kết quả bước đầu tích cực;
5- Công tác tổ chức thực
hiện chính sách, pháp luật về đất đai ở nhiều địa phương đã có chuyển biến,
xuất hiện một số mô hình hay, hiệu quả kinh tế cao, thu hút nhiều vốn đầu tư
trong và ngoài nước, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị văn
minh được quan tâm,...
Tuy nhiên, thực tiễn gần 10 năm thực hiện Nghị quyết
số 19-NQ/TW khóa XI vẫn còn có những hạn chế, bất cập:
Thứ nhất, nguồn lực về đất đai phát huy chưa đúng tiềm năng. Ở
nhiều nơi, sử dụng đất còn lãng phí, hiệu quả thấp; tiếp cận quyền sử dụng đất
vẫn là một trong những rào cản; vấn đề tích tụ, tập trung ruộng đất chưa đáp
ứng được yêu cầu của thực tiễn nhu cầu sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô
lớn; tình trạng suy giảm chất lượng, ô nhiễm, thoái hóa đất, xâm thực diễn biến
phức tạp, có xu hướng tăng về cả quy mô và mức độ, một số nơi diễn ra nghiêm
trọng;...
Thứ hai, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn bộc lộ
nhiều bất cập, chưa theo kịp yêu cầu phát triển đất nước; việc thể chế hóa chủ
trương, chính sách, pháp luật về đất đai chưa đồng bộ; công tác quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất còn nhiều vướng mắc; vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất,
giao đất, cho thuê, thu hồi, giải phóng mặt bằng, xác định giá đất chưa phù hợp
với nguyên tắc thị trường.
Thứ ba, các quy định về quyền sở hữu tài sản trên đất
còn bất cập; chính sách điều tiết giá trị tăng thêm từ đất chưa bảo đảm lợi ích
của Nhà nước và người dân; thông tin, dữ liệu, thủ tục hành chính về đất đai
còn hạn chế; thị trường bất động sản chưa minh bạch, tình trạng đầu cơ, “thổi”
giá, thất thu thuế cho ngân sách còn nhiều.
Thứ tư, tình trạng khiếu kiện, tranh chấp đất đai gây mất ổn
định chính trị, xã hội còn diễn biến phức tạp; nhiều vụ án tham nhũng, lãng phí
lớn liên quan đến đất đai, không ít cán bộ từ Trung ương đến địa phương bị xử
lý, kỷ luật; tranh chấp, xung đột về đất đai có lúc, có nơi kéo dài, gây mất ổn
định an ninh, trật tự xã hội.
Thứ năm, công tác tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về
đất đai ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị chưa nghiêm; tổ chức bộ máy quản
lý đất đai phân tán, thiếu đồng bộ; việc phân cấp, phân quyền chưa rõ về phạm
vi, lĩnh vực, thẩm quyền và trách nhiệm,...
Một
số vướng mắc về nhận thức và thực tiễn trong thực hiện chính sách, pháp luật về
đất đai
Một là, về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước là đại
diện chủ sở hữu ở Việt Nam, trong quá trình thực hiện, bên cạnh những kết quả
đã đạt được còn không ít hạn chế, trong đó có cả trong nhận thức và tổ chức
thực hiện.
Về nhận thức, vẫn còn một bộ phận chưa hiểu rõ mối quan hệ giữa sở
hữu toàn dân và Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý nhà nước
về đất đai. Thực tế là, chủ sở hữu “toàn dân” tuy không hoàn toàn trùng với
“đại diện” chủ sở hữu là Nhà nước, nhưng không vì thế mà đất đai không có chủ
và Nhà nước không thực quyền. Cho đến nay, các quyền đại diện chủ sở hữu của
Nhà nước đã được luật hóa, bảo đảm cho đất đai thực sự có chủ. Ngoài ra, còn có
các chế định đối với Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân các cấp và 9 quyền
đối với người được Nhà nước giao, cho thuê đất; khẳng định quyền sử dụng đất là
một loại tài sản đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu. Các chế định này
cơ bản đủ bảo đảm cho việc quản lý và sử dụng đất đai ổn định, hiệu quả.
Về tổ chức thực hiện, những hạn chế, yếu kém nêu trên chủ yếu liên quan
đến thể chế hóa chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai, đến công tác quản
lý và thực hiện ở địa phương, cơ sở. Việc thực hiện chức năng của Nhà nước với
tư cách là đại diện chủ sở hữu, với chức năng quản lý nhà nước về đất đai và
trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước, với tư cách là một chủ thể sử dụng đất đai
còn nhiều lúng túng. Bên cạnh đó, còn có một số những bất cập khác trong tổ
chức, quản lý và thực hiện cụ thể...
Hai là, vấn đề định giá đất, xử lý, giải quyết hài hòa các
loại lợi ích, nhất là lợi ích của Nhà nước, người có đất bị thu hồi luôn là
những vướng mắc lớn, thậm chí là “điểm nghẽn” trong thực hiện chính sách, pháp
luật về đất đai. Điều này làm ảnh hưởng đến phát huy nguồn lực đất đai, đến sự
công bằng, ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Tình trạng thất
thu ngân sách nhà nước từ tiền thuê đất còn lớn. Giá đất không hợp lý, tạo ra
sự phân biệt đối xử rất lớn giữa các chủ thể sử dụng khác nhau, giữa các địa
phương có đất liền kề, giữa nhà đầu tư nước ngoài và trong nước, gây ra sự bất
bình đẳng, thiếu minh bạch. Vấn đề giao, cho thuê, đấu thầu còn nhiều bất cập,
chưa hợp lý, làm méo mó các giao dịch thị trường, xuất hiện một loạt các hệ lụy
khác đối với việc thu hồi, giải phóng mặt bằng, tạo ra xung đột giữa chính
quyền và người sử dụng đất khi bị thu hồi. Đây cũng là một nguyên nhân quan
trọng, dẫn tới sự lãng phí đất cơ quan, công sở, doanh nghiệp nhà nước khi cổ
phần hóa, đất các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp, đất quốc phòng - an ninh, cũng
như tình trạng tham nhũng, lãng phí về đất đai,...
Nhà nước đầu tư kết cấu
hạ tầng với chi phí lớn làm cho đất tăng giá nhưng lợi ích từ giá trị tăng thêm
của đất mà Nhà nước thu được không tương xứng; thị trường bất động sản luôn
tiềm ẩn nguy cơ rủi ro, trong nhiều trường hợp ảnh hưởng lớn đến ổn định kinh
tế vĩ mô,... Việc xác định giá đất bộc lộ nhiều bất cập, như thông tin đầu vào
hạn chế, thiếu tin cậy; một số loại đất ít giao dịch; sự chồng chéo giữa các cơ
quan trong xác định giá; cơ quan thẩm định giá đất chưa được kiện toàn, năng
lực chuyên môn hạn chế; công tác theo dõi, cập nhật biến động giá đất và xây
dựng cơ sở dữ liệu giá đất còn nhiều bất cập; chưa có sự đồng bộ giữa thẩm
quyền quyết định giá đất với thẩm quyền giao đất, cho thuê và thu hồi đất,...
Không ít ý kiến cho rằng, vấn đề giá đất, giải quyết lợi ích của Nhà nước,
người dân và nhà đầu tư liên quan đến đất là nguyên nhân của
mọi nguyên nhân về những hạn chế, yếu kém vừa qua.
Ba là, bất cập trong hệ thống thể chế, chính sách về
đất đai tạo ra những vướng mắc trong tổ chức thực hiện, cụ thể:
1- Nhiều nội
dung của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành mâu thuẫn,
chồng chéo với các luật khác, như Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật
Quy hoạch,... Có hiện tượng một số nội dung của luật ban hành sau mâu thuẫn với
luật ban hành trước, không xác định luật “gốc” trong sửa đổi các luật khác
trong các nội dung liên quan đến đất đai;
2- Hệ thống pháp luật
chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, có nội dung không phù hợp với thực tiễn, nhất
là những vấn đề mới nảy sinh, dẫn tới việc vận dụng khác nhau ở
địa phương khi thực hiện, như các luật liên quan đến đấu thầu, đấu giá dự án
đầu tư có sử dụng đất; một số loại hình kinh doanh mới (kinh doanh bất động sản
du lịch, nghỉ dưỡng) phát triển nhanh, như condotel, officetel,
shophouse,... chưa có quy định cụ thể về chế độ sử dụng đất,
vẫn còn khoảng trống về pháp lý, gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý
nhà nước và hoạt động kinh doanh,...;
3- Một số nội dung của
Luật Đất đai thậm chí mâu thuẫn với luật chuyên ngành, như về sự tích hợp, đồng
bộ giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng, quy hoạch
ngành; về tích tụ, tập trung đất đai, dồn điền đổi thửa; tài sản góp vốn; về
quyền thừa kế trong pháp luật dân sự;...
Hệ thống pháp luật chủ
yếu quy định về quyền của Nhà nước, trong khi đó, chế tài thực thi quyền
của người sử dụng đất chưa được quy định đầy đủ, tính an toàn pháp lý cho
người sử dụng đất cần được hoàn thiện. Mặc dù Đảng, Nhà nước rất quan tâm nhưng
đời sống, sinh kế của người dân sau khi bị thu hồi đất còn gặp nhiều khó khăn;
số lượng các văn bản hướng dẫn quá nhiều, nhưng không đủ, vẫn còn nhiều nội
dung quy định trong luật nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện; một số quy
định hiện hành trong chính sách, pháp luật về đất đai vẫn chưa rõ trách nhiệm
trong phân cấp, phân quyền. Phân cấp, phân quyền chưa thật sự gắn với thẩm
quyền, trách nhiệm, chưa triệt để xóa bỏ cơ chế xin - cho, “tư duy nhiệm kỳ”
trong tổ chức thực hiện.
Bốn là, vấn đề đất quốc phòng - an ninh, đất ở và đất sản xuất
của các dân tộc thiểu số, chủ thể sử dụng đất có yếu tố nước ngoài,... nếu giải
quyết không tốt không chỉ ảnh hưởng đến quốc phòng - an ninh, đại đoàn kết dân
tộc, phát triển kinh tế mà còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác.
Những hạn chế, “điểm
nghẽn” nổi bật nêu trên do các nguyên nhân chủ quan, khách quan, chủ yếu là:
Các nguyên nhân hạn chế được chỉ ra trong Nghị quyết số 19-NQ/TW vẫn còn giá
trị. Về khách quan, đất đai ở nước ta có lịch sử lâu đời, nguồn gốc đa dạng;
chính sách, pháp luật về đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ,... Tuy nhiên,
nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, như một số chủ trương, chính sách, pháp
luật đất đai còn chưa đủ rõ, việc thể chế hóa còn nhiều bất cập, dẫn đến vướng
mắc trong vận dụng; công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức xã hội còn kém
hiệu quả; công tác kiểm tra, giám sát xử lý sai phạm liên quan đến đất đai
không kịp thời; tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, hệ thống công cụ quản lý đất
đai như tổ chức bộ máy, cơ sở dữ liệu thông tin, công cụ tài chính, thuế và giá
còn bất cập, một số công cụ, cách thức quản lý không còn phù hợp; phát huy vai
trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội và người dân còn nhiều hạn chế,...
Những
vấn đề đặt ra về tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai thời gian
tới
Tình hình thế giới, khu
vực tiếp tục có nhiều thay đổi nhanh, phức tạp, khó lường, trong đó có một số
vấn đề lớn tác động, ảnh hưởng đến xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật
về đất đai ở nước ta: Yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư
nước ngoài, tăng khả năng tiếp cận đất đai cho các chủ thể nước ngoài. Các vấn
đề an ninh truyền thống, phi truyền thống, như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi
khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, trong đó
có cả những thách thức đối với nguồn lực đất đai (đất đai
không sinh thêm, trong khi dân số tiếp tục tăng, việc khai thác cạn kiệt, sa
mạc hóa, ô nhiễm môi trường, xâm nhập mặn, biến đổi khí hậu, môi trường sống bị
thu hẹp,...).
Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư đặt ra yêu cầu thay đổi căn bản từ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
để phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao, tư duy mới về
an ninh lương thực; thay đổi cơ cấu ngành, nghề theo hướng công nghiệp hiện
đại, nông nghiệp sinh thái, phát triển đô thị thông minh, cho đến công tác quản
lý nhà nước về đất đai, tạo ra không gian sinh tồn ổn định, bền vững của đất
nước.
Một số vấn đề về nhận thức
Bên cạnh các quan điểm
được nêu trong các văn kiện của Đảng, nhất là Nghị quyết số 19-NQ/TW đến nay cơ
bản vẫn còn giá trị, căn cứ vào Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và bối cảnh mới,
thời gian tới cần thống nhất và nâng cao nhận thức trên mấy điểm sau:
Thứ nhất, đất đai là không gian sinh tồn, thành tố quan
trọng của hệ sinh thái tự nhiên, việc khai thác, sử dụng đất đai phải trên cơ
sở phát triển bền vững, lâu dài, phù hợp với khả năng cung ứng tự nhiên của
đất, khai thác phải đi đôi với tái tạo, bảo đảm an ninh nguồn lực đất đai. Sử
dụng đất đai phải tiết kiệm, hiệu quả, hợp lý, thích ứng với biến đổi khí hậu
và bảo vệ môi trường.
Thứ hai, tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, quyền sử dụng đất là
một loại tài sản đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu. Quyền đi đôi với
nghĩa vụ trong sử dụng đất đai. Đổi mới quản lý nhà nước về đất đai theo hướng
quản trị hiện đại, hoàn thiện hệ thống pháp luật; thực hiện phân cấp, phân
quyền thích hợp, hiệu quả; quản lý, quy hoạch đất đai thực hiện theo hướng tích
hợp đa mục tiêu, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, hoàn thiện thể chế, chính sách về đất đai trong
tình hình mới, bảo đảm phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai đi
đôi với mở rộng, tạo cơ hội tiếp cận quyền sử dụng đất của các chủ thể trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một cách công bằng, bình
đẳng, minh bạch và trách nhiệm giải trình, giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà
nước với thị trường và xã hội trong huy động, phân bổ, sử dụng đất đai.
Thứ tư, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ
chức xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trong quản lý và sử
dụng đất đai. Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư
pháp, giữa Trung ương và địa phương trong quản lý và sử dụng đất đai. Tăng
cường công tác kiểm tra, giám sát trong tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật
về đất đai.
Những nội dung cần chú trọng trong quá trình bổ sung,
hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai:
Thứ nhất, tập trung sửa đổi, hoàn thiện những bất cập trong hệ
thống chính sách, pháp luật về đất đai theo hướng xây dựng thành một hệ thống
chính sách, pháp luật tập trung, thống nhất về đất đai.
Thứ hai, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về đất đai theo
hướng quản lý tổng hợp, tập trung, thống nhất trên cơ sở phân cấp, phân quyền
hợp lý, cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý đất
đai. Là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước tập trung vào thẩm quyền
giao, thu hồi đất; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (quyền định đoạt của chủ sở
hữu). Thực hiện chức năng quản lý nhà nước, ngoài những
quy định trong Nghị quyết số 19-NQ/TW, Nhà nước cần cụ thể hóa, thể chế hóa đầy
đủ tinh thần Đại hội XIII của Đảng về đổi mới chính sách tài chính đất
đai. Là chủ thể sử dụng đất, Nhà nước cần thực hiện đúng quy định
của pháp luật, bình đẳng như các chủ thể khác. Cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội thực hiện nghiêm việc quản lý và sử dụng đất đai. Coi quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở, nền tảng, đầu vào của các quy
hoạch, kế hoạch khác, bảo đảm sự tích hợp các quy hoạch ngành, vùng, lĩnh vực.
Thứ ba, về giao đất, cho thuê đất: Thu hẹp các
đối tượng được giao đất và mở rộng đối tượng thuê đất. Đẩy mạnh và hoàn thiện
việc giao đất, cho thuê đất theo hình thức đấu giá cạnh tranh quyền sử dụng
đất. Quản lý chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với đất quốc
phòng - an ninh, đất có tính chất tài sản công. Xử lý nghiêm các trường hợp được
Nhà nước giao đất, cho thuê đất nhưng sử dụng lãng phí, không đúng mục đích,
đầu cơ đất, chậm đưa đất vào sử dụng.
Thứ tư, về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư:
Kiểm soát chặt chẽ việc thu hồi đất, bảo đảm công khai, minh bạch, dân chủ, công
bằng. Quy định rõ các trường hợp thu hồi đất vì mục tiêu quốc phòng - an ninh,
phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng. Kiên quyết thu hồi đối với những
diện tích đất của các tổ chức nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập sử dụng đất
lãng phí, không đúng mục đích. Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thực hiện
theo nguyên tắc, lợi ích của người có đất bị thu hồi, tối thiểu bằng lợi ích
trước khi bị thu hồi,...
Thứ năm, về chính sách tài chính về đất đai và giá đất: Hoàn
thiện hệ thống các công cụ tài chính, kinh tế đất, đổi mới phương pháp xác định
giá đất, bảo đảm độc lập, khách quan, cập nhật biến động giá đất trên thị
trường, minh bạch. Xây dựng hệ thống cơ quan định giá đất hoàn chỉnh, đủ năng
lực, chịu trách nhiệm về định giá đất, tiến tới cơ quan tư vấn giá đất độc lập.
Xây dựng, hoàn thiện quy trình đấu giá đất chặt chẽ, hiệu quả, minh bạch, mở
rộng các hình thức đấu giá đất cạnh tranh theo cơ chế thị trường đối với đất
công, đất chuyển đổi mục đích sử dụng. Hoàn thiện hệ thống thuế đất cập nhật giá
trị thực tế trên thị trường.
Thứ sáu, xây dựng, hoàn
thiện các chính sách tích tụ, tập trung đất đai cho
sản xuất nông nghiệp theo tư duy mới về an ninh lương thực: Nâng hạn mức sử
dụng đất nông nghiệp; cho phép linh hoạt chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
trên đất trồng lúa; quy định mở rộng đối tượng được nhận chuyển nhượng đất
trồng lúa cho hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp, tổ
chức kinh tế trong nước, đồng thời quy định các điều kiện cụ thể để được nhận
chuyển nhượng đất trồng lúa; hỗ trợ, bảo đảm sinh kế, việc làm và thu nhập bền
vững của nông dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn.
Thứ bảy, đẩy mạnh việc
phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong
lĩnh vực đất đai theo hướng phân cấp quản lý. Bên cạnh đó, các tranh chấp về
đất đai kể cả tồn đọng hiện nay và phát sinh mới cần được giải quyết tại tòa án
chuyên ngành. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, phát hiện xử lý kịp
thời, nghiêm minh các tập thể, cá nhân vi phạm pháp luật đất đai. Tập trung
giải quyết, xử lý kịp thời các vụ việc khiếu kiện về đất đai, xử lý dứt điểm
tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài. Thực hiện nghiêm biện pháp khắc phục
hậu quả, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu.
Một số kiến nghị về hướng đột phá chính sách, pháp
luật về đất đai
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai.
Sửa đổi hệ thống pháp luật về đất đai nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo,
thiếu thống nhất, đồng bộ; tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập và phát
sinh trong thực tiễn, khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí; tạo điều kiện
để các luật đi vào cuộc sống, thuận lợi cho công tác tổ chức thi hành; phục vụ
cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh, chủ quyền quốc
gia. Sớm ban hành Luật Đất đai mới (sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Luật Đất đai
năm 2013, theo đó, tiếp thu có chọn lọc những nội dung hợp lý của các luật khác
về những vấn đề liên quan đến đất đai bảo đảm sự thống nhất đồng bộ của hệ
thống pháp luật về đất đai).
Thứ hai, xử lý, giải
quyết tốt vấn đề kinh tế đất đai phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Phát triển thị trường
quyền sử dụng đất, thị trường bất động sản thực sự vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước. Tiếp tục đổi mới chính sách tài chính đất
đai theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, nhất là giá đất, thực hiện công khai,
minh bạch, độc lập trong việc định giá đất. Xây dựng mạng lưới thửa đất chuẩn,
“bản đồ” giá đất. Đổi mới phương thức xác định giá đất khoa học, phù hợp với cơ
chế thị trường là giải pháp đột phá quan trọng hàng đầu. Nghiên cứu
ban hành thuế bất động sản; thu hẹp hình thức cho thuê đất trả tiền một lần cho
cả thời gian thuê. Có chính sách hợp lý về đất đai đối với vùng đồng bào dân
tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, bảo đảm sinh kế, giữ gìn bản sắc văn hóa. Xây
dựng chính sách điều tiết giá trị gia tăng từ đất do Nhà nước đầu tư kết cấu hạ
tầng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất mang lại, bảo đảm lợi ích của Nhà nước,
người dân và nhà đầu tư.
Thứ ba, hoàn thiện các công cụ quản lý nhà nước về
đất đai, đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, ưu
tiên tập trung nguồn lực xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin, đăng ký
đất đai đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, tích hợp đầy đủ các
thông tin về nguồn gốc, diện tích, lịch sử các giao dịch,... Tăng cường sự phối
hợp đa ngành trên cơ sở một đầu mối quản lý tập trung, thống nhất. Nâng cao
chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác quy hoạch, quản lý đất đai,
xây dựng chính sách, pháp luật. Đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu quản lý
đất đai trong tình hình mới./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét