Chính sách nhất quán, những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam
trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được khẳng định
trên nguyên tắc Hiến định tại các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992,
2013. Chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động thuận lợi như hiện nay.
Song, thế lực xấu chưa bao giờ từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng tự
do tín ngưỡng, tôn giáo, móc nối với số bất mãn chế độ, có tư tưởng định kiến
với Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo.
Để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này, trân trọng giới
thiệu bài viết “Nỗ lực đảm bảo quyền tự do tôn giáo, phản bác luận điệu xuyên
tạc tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam”, của Thạc sỹ Nguyễn Văn Long, Chánh
Văn phòng Ban Tôn giáo Chính phủ. Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định: Tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn
tại cùng dân tộc, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết
toàn dân tộc. Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, các tôn giáo cùng tồn tại trong
lòng dân tộc và bình đẳng trước pháp luật.
Đến năm 2021, Nhà nước ta đã công nhận 43 tổ chức tôn giáo,
khoảng 27 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước. Đảng ta từ khi lãnh đạo cách
mạng đã luôn thực hiện nhất quán chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Trong
từng giai đoạn cách mạng của đất nước, Đảng đã ban hành chủ trương, chính sách,
pháp luật phù hợp, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng của nhân
dân, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết các tôn giáo để xây dựng
và phát triển đất nước.
Ngay sau khi nước nhà độc lập, ngày 03/9/1945, tại phiên họp đầu
tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ tuyên bố “tín
ngưỡng, tự do và lương - giáo đoàn kết”. Quan điểm tư tưởng đó được Đảng, Nhà
nước ta thể chế bằng các văn bản pháp luật, để quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
được pháp luật bảo hộ và bảo đảm ngay trên thực tế.
Sắc lệnh số 234/SL, ngày 14/6/1955 gồm 5 chương, 16 điều, quy
định trách nhiệm của Chính phủ trong việc đảm bảo quyền tự do tôn giáo của người
dân và trách nhiệm, nghĩa vụ của chức sắc tôn giáo và tín đồ về hoạt động tôn
giáo tại Việt Nam. Trong đó nêu rõ, “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng
và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi
người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn
giáo nào. Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo như nhà
thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý... Khi truyền bá tôn giáo, các nhà tu
hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công
dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa…”.
Trong tiến trình cách mạng của đất nước, chính sách nhất quán,
những nỗ lực của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của nhân dân được khẳng định trên nguyên tắc Hiến định tại các bản
Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 và các
văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo được hoàn thiện theo hướng
tiệm cận luật pháp quốc tế và Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị
năm 1966 (ICCPR) mà Việt Nam đã tham gia thành viên, nhằm đảm bảo cho mọi người
được thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng tốt hơn trên thực tế
và được bảo đảm bằng các văn bản pháp luật như: Pháp lệnh 21/2004/PL-UBTVQH11
quy định về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng
dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Chỉ thị
1940/CT-TTg về nhà đất liên quan đến tôn giáo.
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Quốc hội khóa XIV đã
ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
162/2017/NĐ-CP và các văn bản pháp luật khác đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của nhân dân…
Với sự nỗ lực của Việt Nam trong việc hoàn thiện chủ trương,
chính sách, pháp luật về tôn giáo, tình hình đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày
càng phong phú, đa dạng, số lượng chức sắc, người theo đạo, cơ sở thờ tự ngày
càng tăng. Qua thống kê cho thấy, năm 2003, cả nước có 6 tôn giáo 15 tổ chức,
với 17 triệu người có đạo, khoảng 20 nghìn cơ sở thờ tự; 34 nghìn chức sắc, 78
nghìn chức việc. Năm 2022, chính quyền đã công nhận 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo
khác nhau, với trên 27,2 triệu người có đạo, trên 53 nghìn chức sắc, khoảng 148
nghìn chức việc, 29.718 cơ sở thờ tự. Số lượng chức sắc, chức việc trong
tổ chức tôn giáo có vai trò quan trọng trong tổ chức Giáo hội, là người thụ
hưởng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo…
Bên cạnh đó, hàng năm có trên 8.000 nghìn lễ hội về tín ngưỡng,
tôn giáo, với hàng vạn người theo đạo tham gia. Các tổ chức, cá nhân tôn giáo
được khuyến khích, tạo điều kiện tham gia các hoạt động an sinh xã hội, từ
thiện xã hội, chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Các tổ chức tôn giáo có trên 500 cơ
sở khám chữa bệnh, trên 800 cơ sở bảo trợ xã hội, với 300 trường mầm non... Từ
năm 2018 - 2021, đã cấp phép xuất bản 2.027 ấn phẩm với trên 7 triệu bản in,
trong đó có nhiều xuất bản phẩm được dịch ra tiếng Anh, Pháp, tiếng dân tộc và
có 25 tờ báo, tạp chí của các tôn giáo đang hoạt động.
Trong 10 năm thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn
giáo, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm hécta đất để xây dựng cơ
sở thờ tự như: Thành phố Hồ Chí Minh đã giao 7.500 m2 đất cho Tổng Liên hội
thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện Thánh kinh thần học. Tỉnh Đắk
Lắk giao hơn 11.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Buôn Ma Thuột. Thành phố Đà Nẵng
giao hơn 9.000 m2 đất cho Tòa Giám mục Đà Nẵng. Tỉnh Quảng trị giao thêm 15 ha
cho Giáo xứ La Vang…
Năm 2022, chính quyền các cấp đã cấp phép xây dựng, sửa chữa,
cải tạo cho 486 cơ sở thờ tự tôn giáo, tăng 60 cơ sở so với năm 2021; cấp đăng
ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho 183 điểm nhóm; cấp quyết định xuất bản cho
140 xuất bản phẩm, với trên 684,2 nghìn bản in. Các hoạt động phong chức, phong
phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ
chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình
hoạt động hàng năm... theo đúng quy định của pháp luật; chấp thuận cho 646
người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; 3.238 người được bổ nhiệm, bầu cử,
suy cử làm chức việc; 424 chức việc các tôn giáo được thuyên chuyển theo đúng
Hiến chương, điều lệ.
Có thể nói, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện hoạt động
thuận lợi như hiện nay. Quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng. Chức sắc, chức việc,
tín đồ ngày càng đông. Cơ sở thờ tự ngày càng khang trang, việc sinh hoạt tôn
giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được công khai theo quy định của pháp
luật, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tăng cường giao lưu, học tập, trao
đổi các đoàn với các tổ chức tôn giáo trên thế giới.
Từ năm 2011 đến nay, khoảng 2.000 lượt cá nhân tôn giáo đã xuất
cảnh tham gia khóa đào tạo ở nước ngoài, tham dự hội thảo, hội nghị quốc tế
liên quan đến tôn giáo. Đồng thời, gần 500 đoàn nước ngoài, với hơn 3.000 lượt
người vào Việt Nam để trao đổi, giao lưu, hướng dẫn tại cơ sở thờ tự, tham dự
các sự kiện tôn giáo do các tổ chức tôn giáo Việt Nam tổ chức như: Giáo hội
Phật giáo Việt Nam 3 lần đăng cai Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc VESAK, với trên
1.000 đại biểu quốc tế đến từ 120 quốc gia, vùng lãnh thổ, cùng hàng vạn quần
chúng nhân dân tham dự; Lễ hội của Công giáo, Tin lành như: Đại hội đồng Giám
mục Á châu; Lễ 100 năm Tin Lành đến Việt Nam.
Ban Tôn giáo Chính phủ phối hợp với Liên minh châu Âu (EU) tổ
chức hội thảo: “Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những kinh
nghiệm quốc tế được chia sẻ”, Đối thoại “Liên tín ngưỡng ASEM lần thứ VI”...
đón và làm việc với nhiều tổ chức, chức sắc tôn giáo đến trao đổi, tìm hiểu
pháp luật tôn giáo của Việt Nam như: Viện Can dự Toàn cầu Mỹ (IGE); tập đoàn
truyền thông (WAZ) của Đức vào tìm hiểu chính sách tôn giáo của Việt Nam...
Ban Tôn giáo Chính phủ, các cơ quan chức năng đã chủ động cung
cấp thông tin về tình hình tôn giáo và chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn
giáo của Đảng, Nhà nước, trao đổi tận cùng các vấn đề mà dư luận quốc tế quan
tâm, để thấy rõ thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, phong phú.
Chính sách, pháp luật đã tạo điều kiện để các tôn giáo tham gia vào các lĩnh
vực của đời sống xã hội như: Tham gia vào bộ máy nhà nước, cơ quan quan dân cử
(Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp), các đoàn thể chính trị xã hội; tham gia
vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện xã hội, các phong trào thi
đua yêu nước; xây dựng nông thôn mới..., đảm bảo quyền tự do tôn giáo chính
đáng của nhân dân Việt Nam. Thế nhưng, thế lực xấu chưa bao giờ từ bỏ âm mưu “diễn
biến hòa bình”, lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, móc nối với số bất mãn chế
độ, có tư tưởng định kiến với Đảng, Nhà nước ta, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi
phạm tự do tôn giáo, quy chụp những điều không có thật, yêu cầu thả người “đấu
tranh cho tự do tôn giáo”... Rồi chúng xuyên tạc quy định “việc đăng ký điểm
nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung” trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo là nhằm “kìm
kẹp hoạt động tôn giáo”.
Chúng cũng lợi dụng những vấn đề xã hội như: ô nhiễm môi trường,
về công tác cán bộ, công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước để
xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách pháp luật của Việt Nam, với mục
tiêu gây rối loạn trong lòng dân, trong chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo,
gây sự hoài nghi, giảm sút niềm tin của chức sắc tôn giáo và tín đồ quần chúng
nhân dân với Đảng, Nhà nước ta.
Đảng, Nhà nước ta khẳng định, động lực chủ yếu để phát triển đất
nước là đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Đảng, Nhà nước chủ trương xóa bỏ
mặc cảm, định kiến, không phân biệt đối xử về thành phần giai cấp, dân tộc, tôn
giáo, tôn trọng ý kiến khác nhau, không trái với lợi ích đất nước, lợi ích dân
tộc, đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, vì sự ổn định, phát triển của
đất nước.
Mỗi khi Đảng có chủ trương, quan điểm mới về tôn giáo, Nhà nước kịp
thời thể chế bằng những văn bản pháp luật để đưa vào thực tiễn. Đảng, Nhà nước
ta cũng kịp thời chấn chỉnh để công tác tôn giáo đi vào nền nếp, đúng hướng,
tạo sự tin tưởng của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo. Để xây dựng và phát
triển đất nước Việt Nam như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần đã khẳng
định “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước như
ngày nay”, là do sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt
của Đảng, trong đó có sự đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín
đồ sống tốt đời, đẹp đạo, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét