Thứ Năm, 30 tháng 7, 2020

Chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước Việt Nam về dân tộc, tôn giáo



Việt nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Chính sách nhất quán của Đảng ta là: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ”; đồng thời “phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo. Chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Trong thời kỳ đổi mới, quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc và tôn giáo có nhiều đổi mới được thể hiện qua các văn bản như: Nghị quyết 24- NQ/TW 16/10/1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới; Chỉ thị 37 CT/TW 2/7/98 của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình mới; Nghị quyết 25- NQ/TW 12/3/2003 của BCHTWƯ về công tác tôn giáo; Nghị quyết 24- NQ/TW 12/3/2003 của BCHTWƯ về công tác dân tộc; Luật tín ngưỡng tôn giáo được Quốc hội thông qua năm 2016; Chỉ thị số 18- CT/TW 10/1/2018 của Bộ chính trị về tiếp tục thực hiện nghị quyết 25-NQ/TW 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác tôn giáo trong tình hình mới. Những chủ trương quan điểm mới của Đảng về vấn đề dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo hành lang pháp lý, tạo động lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, đồng thời là cơ sở và điều kiện để các tôn giáo, cả tôn giáo nội sinh và ngoại nhập đều có xu hướng hòa đồng, biến đổi, thích ứng, phù hợp với văn hóa, tâm thức dân tộc để tồn tại và phát triển.
Những chủ trương, chính sách pháp luật về vấn đề dân tộc, tôn giáo đồng thời là căn cứ pháp lý để giải quyết những mâu thuẫn giữa giáo luật với pháp luật của Nhà nước. Về cơ bản, các tôn giáo đều tự giác thực hiện trên cơ sở thượng tôn pháp luật, tôn trọng lợi ích chung của xã hội và cộng đồng dân tộc, trong đó có lợi ích của tôn giáo mình. Vì vậy tuy có nhiều dân tộc và tôn giáo tồn tại, nhưng không có xung đột, chiến tranh tôn giáo.


Việt Nam là quốc gia có an ninh, chính trị tốt



Với bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa: Chế độ không có áp bức, bất công; chế độ vì con người; mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân lao động, ở Việt Nam thời gian vừa qua đã phát huy được chủ nghĩa yêu nước, tinh thần quật khởi của dân tộc.
Với bản chất chế độ như vậy, cho nên ở Việt Nam từ Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị, mọi chủ trương, đường lối, chính sách đưa ra đều vì mục đích chung, đều vì hạnh phúc của nhân dân. Cho nên, mặc dù trong thời gian qua có những cán bộ, đảng viên tham ô, tham nhũng, nhũng nhiễu nhân dân, nhưng nhìn chung đấy chỉ là một số cá nhân, còn về cơ bản đội ngũ cán bộ, đảng viên đều trong sạch,  mẫn cán, vì tập thể, vì nhân dân, vì mục đích chung.


Điều kiện địa lý, trình độ phát triển kinh tế, văn hoá xã hội của các tộc người và tín đồ tôn giáo ảnh hưởng lớn đến công tác dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.



Việt Nam là một quốc gia có thuận lợi về địa chính trị, kinh tế, văn hoá nên rất thuận lợi trong việc giao thương với các nước để phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá…Quốc gia của chúng ta, biên giới giáp Vịnh Thái Lan ở phía Nam, vịnh bắc bộ và biển đông ở phía Đông, Trung Quốc ở phía Bắc; Lào và Cămpuchia ở phía Tây, với đường bờ biển 3260 km (không kể các đảo), diện tích vùng biển thuộc chủ quyền khoảng 1 triệu km…Do vậy trong lịch sử phát triển, nền văn hoá dân tộc Việt Nam đã giao lưu, du nhập và tiếp biến nhiều nền văn hoá và tôn giáo của các nước trên thế giới. Các tôn giáo các nền văn hoá đã hoà đồng, khoan dung với hệ thống tín ngưỡng và văn hoá truyền thống, đóng vai trò quan trọng việc hình thành mối quan hệ dân tộc, tôn giáo chi phối sâu sắc đạo đức, lối sống của người Việt Nam, làm giàu và phong phú thêm các giá trị văn hoá truyền thống và đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của các dân tộc. Tuy nhiên, nó cũng tác động khiến cho mối quan hệ dân tộc, tôn giáo thêm nhạy cảm, phức tạp và dễ bị lợi dụng để thực hiện những mục tiêu không trong sáng, không có lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước, nhất là trước những xung đột tôn giáo, xung đột sắc tộc đang diễn ra rất phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới hiện nay.
Trong tình hình hiện nay, xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng, các tôn giáo có điều kiện hội nhập vào Việt Nam, một mặt chúng ta hội nhập được những tinh hoa văn hóa thế giới, những nét đẹp của tôn giáo thế giới, nhưng mặt khác sẽ có nhiều vấn đề tôn giáo mới được du nhập vào Việt Nam, trong khi chúng ta có những khó khăn như sau:
 Nước ta có địa lý đa dạng, phức tạp
 Địa lý nước ta gồm các vùng đồng bằng, trung du, vùng rừng, núi cao và hải đảo; lại thêm đường biên giới kéo dài là chung đường biên giới với nhiều nước. Đại bộ phận đồng bào các dân tộc thiếu số nước ta sinh sống ở các vùng rừng núi cao , vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Đây là những vùng có địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, môi trường sống không thuận lợi cho phát triển, đây là mảnh đất màu mỡ để cho việc truyền đạo trái phép.
Trình độ phát triển kinh tế, văn hoá xã hội
Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số đến nay vẫn dứng trước những khó khăn của sự phát triển. Đó là tình trạng phát triển không đều giữa các dân tộc, điều kiện địa lý phức tạp, giao thông khó khăn, dân cư phân tán, trình độ dân trí thấp, trình độ sản xuất thấp, nguồn nhân lực thiếu và yếu, sức hấp dẫn để thu hút đầu tư trong nước và quốc tế hạn chế…vì vậy đời sống của một bộ phận khá lớn đồng bào dân tộc thiểu số, tín đồ tôn giáo còn gặp rất nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo, tái nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo còn cao; chênh lệch giàu nghèo, chênh lệch về trình độ phát triển văn hóa, xã hội… giữa miền núi và miền xuôi, giữa dân tộc đa số và dân tộc thiểu số có xu hướng gia tăng; một số vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh.
Những yếu kém trong phát triển kinh tế tất yếu sẽ tác động dẫn tới hạn chế trong việc thực hiện các chính sách dân tộc, tôn giáo…đây là nguyên nhân làm nảy sinh những bức xúc, mâu thuẫn trong quan hệ dân tộc, tôn giáo…đồng thời là cớ để địch chống phá.
 Các thiết chế xã hội còn đơn giản, lạc hậu
Ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, nhìn chung thiết chế xã hội còn đơn giản, mang tính tự quản là chính, nhiều nơi vẫn mang tính tự nhiên thuần phác. Đời sống tinh thần được gắn kết chặt chẽ bởi truyền thống văn hóa, các phong tục tập quán, luật tục…và bởi sợi dây tín ngưỡng tôn giáo tạo thành nền tảng vững chắc trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội và tạo nên sự cố kết cộng đồng bền chặt, lâu dài trong lịch sử.
Tuy nhiên, hiện nay nhiều nơi trình độ kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí còn thấp và nhiều phong tục tập quán, luật tục…lạc hậu còn tồn tại. Đây chính là những điều kiện thuận lợi khiến cho một số tôn giáo thường lựa chọn các khu vực này để thực hiện truyền đạo (như truyền đạo tin lành ở khu vực Tây Nguyên; Tin lành Vàng Chứ ở khu vực Tây Bắc v.v…) điều này dễ làm nảy sinh những xung đột mâu thuẫn giữa tín ngưỡng tôn giáo đa thần của một số đồng bào dân tộc thiểu số với tôn giáo độc thần hoặc một số lợi dụng để truyền bá tà đạo mà bản chất là cuồng tín, cực đoan, phản động, đi ngược lại những chủ trương, chính sách dân tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Ví dụ như Hà Mòn (Tây nguyên), Pháp Luân công (Hà Nội, các tỉnh phiá Bắc), Đạo Chân không (khu vực miền Trung), Phủ tốc (Lai Châu, Điện Biên) v.v.. Đây là nguy cơ tiềm ẩn những mâu thuẫn trong quan hệ dân tộc, tôn giáo cần phải được nhận diện rõ.


Chống dịch COVID- 19 làm thế và lực của Việt Nam lên cao trên trường quốc tế



Quá trình dựng nước, giữ nước của cha ông ta đã là minh chứng hùng hồn để thế giới ngưỡng mộ trong chống thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm. Trong thời kỳ đổi mới lại một lần nữa, khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu đổ vỡ thì Việt Nam vẫn đứng vững với sự kiên trì xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa mà nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng là Chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong thời kỳ đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu, trong đó nổi bật là chế độ chúng ta đang xây dựng là chế độ dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân; mọi người dân công bằng, bình đẳng, không có sự bóc lột không phân biệt, không ai bị bỏ lại phía sau; một chế độ có nền kinh tế ổn định, phát triển; an ninh chính trị ổn định; đời sống xã hội ngày càng nâng cao.
Thêm một minh chứng rất rất rõ nữa là từ đầu năm 2020 đến nay, qua chống dịch COVID- 19, Việt Nam với lượng người mắc vì dịch rất ít và cho đến nay không có ai chết vì bệnh dịch này. Qua chống dịch COVID-19 chắc chắn thế và lực của Việt Nam sẽ nâng cao trên trường quốc tế.

Ảnh hưởng của tôn giáo đến những vấn đề ngoài tôn giáo trong các cộng đồng dân tộc/ tộc người ở Việt Nam có xu hướng gia tăng



          Các yếu tố ngoài tôn giáo luôn có sự tác động tích cực và tiêu cực đến mỗi quốc gia, dân tộc. Hiện nay, theo xu hướng hòa nhập quốc tế, thì vấn đề trên có ảnh hưởng rất lớn đến tôn giáo Việt Nam
Thứ nhất, tác động ngoài tôn giáo theo chiều hướng tích cực
 Các tôn giáo nói chung, tôn giáo ở Việt Nam nói riêng luôn mong ước một cuộc sống tốt đẹp: Phật giáo, Ki tô giáo, Hồi giáo… đều mong ước đến cõi niết bàn hoặc trên thiên đàng, muốn vậy phải tu luỵên, tu nhân, tích đức. Các tín đồ có nhiều hoạt động đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội như: Đào tạo học giả, sáng tạo nghệ thuật; dạy học, chữa bệnh, ủng hộ người nghèo
Thứ hai, tác động ngoài tôn giáo theo chiều hướng tiêu cực
Xu hướng thúc đẩy sự cố kết giữa vấn đề tôn giáo và vấn đề tộc người, dân tộc, hoặc gắn vấn đ tự do tôn giáo với vấn đề nhân quyền để thực hiện mục đích chính trị, gây ra những mâu thuẫn, chia rẽ, xung đột sắc tộc, dân tôc, tôn giáo, làm mất ổn định chính trị - xã hội. Đặc biệt, hiện nay, sự phát triển nhanh đạo Tin Lành vào đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới gia tăng (Thành lập Nhà nước Đề ga, vương quốc Mông, nhằm tuyên truyền những nội dung phản văn hoá, truyền đạo trái phép, phát tán các tài liệu, chống phá cách mạng nước ta).
Những tác động trên ở mỗi thời kỳ cách mạng có biểu hiện đặc điểm, tính chất, nội dung khác nhau, cần phải nắm vững và có những chủ trương, chính sách hợp lý thì mới khăc phục được sự ảnh hưởng, tác động của nó đến mối quan hệ dân tộc và tôn giáo ở nước ta.

Phát huy trí tuệ, tinh thần yêu nước Việt Nam trước thềm Đại hội Đảng các cấp



Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng với sự tập trung trí tuệ, trách nhiệm rất cao của toàn Đảng, toàn dân, cả hệ thống chính trị để xây dựng chủ trương, đường lối đúng đắn của các tổ chức đảng trong cả một nhiệm kỳ cũng như một giai đoạn cách mạng; đồng thời lựa chon, tìm ra những đảng viên có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực vào cấp ủy khóa mới. Đây có thể nói là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, quan trọng ảnh hướng lớn đến sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong tương lai. Thực tê cho thấy, ở từng giai đoạn lịch sử cách mạng đã kiểm chứng, ở đâu, khi nào mà ở tổ chức đảng thực hiện tốt đợt sinh hoạt chính trị này thì ở đó, giai đoạn đó, tổ chức đó sẽ có chủ trương, đường lối đúng đắn và có đội ngũ cấp ủy trong sạch, mẫn cán; ngược lại nếu đợt sinh hoạt chính trị qua loa, đại khái hình thức, không đạt chất lượng, thì ở đó, tổ chức  đó sẽ không có chủ trương đường lối đúng đắn, không có đội ngũ cấp ủy mẫn cán, và sẽ luôn không hoàn thành nhiệm vụ.
Như chúng ta đã thấy, cách mạng nước ta đang trên con đường thắng lợi toàn diện cả về phát triển kinh tế- xã hội, cả về thế, lực và uy tín quốc tế. Bản chất chế độ của chúng ta là chế độ xã hội chủ nghĩa tươi đẹp, con người của chúng ta là con người thông minh, nghị lực phi thường, không chịu khuất phục trước khó khăn, gian khó. Chính vì vậy, chúng ta phải tích cực đổi mới, nhất là trong đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng này. Chúng ta phát huy cao độ trí tuệ, trách nhiệm trong dịp đại hội đảng các cấp lần này. Để đợt sinh hoạt chính trị đạt chất lượng, chúng ta mỗi con người Việt Nam hãy phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, trí tuệ con người Việt Nam để xây dựng chủ trương, xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì đạt chất lượng. Có như vậy chúng ta mới giành được mọi thắng lợi trong giai đoạn cách mạng mới.

Các tôn giáo kể cả tôn giáo ngoại nhập đều biến đổi phù hợp với trình độ phát triển kinh tế- xã hội, nhất là truyền thống của văn hoá dân tộc Việt Nam



Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử trước đây cũng như hiện nay cho thấy, các tôn giáo khi vào Việt nam muốn trụ lại và phát triển đều phải biến đổi ít nhiều cho phù hợp với truyền thống dân tộc, với nền tảng văn hóa bản địa như phong tục, tập quán, tâm lý…của quốc gia – dân tộc nói chung, văn hóa các tộc người nói riêng. Ngoài ra trong quá trình hình thành và phát triển của mình, các tôn giáo lớn đều thích ứng với lợi ích khác nhau của các giai tầng xã hội, với sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng để tìm ra một tiếng nói chung, nhằm tôn vinh ý nghĩa “tốt đời, đẹp đạo”, điều đó được biểu hiện:
Dân tộc và tôn giáo gắn kết với nhau ở cộng đồng lãnh thổ
Ở Việt Nam khi mà phần lớn các tộc người và các tôn giáo đan xen, ít có tộc người nào, tôn giáo nào có lãnh thổ riêng biệt. Điều này là một trong những thuận lợi trong xây dựng, bảo vệ lãnh thổ cộng đồng lãnh thổ chung quốc gia cũng như xây dựng khối đoàn kết lương giáo, đoàn kêt toàn dân. Tuy nhiên đặc điểm này nếu không được sử lý tốt sẽ dẫn tới mất đoàn kết các tộc người theo tôn giáo khác nhau khi họ sống trên cùng một địa bàn.
 Dân tộc và tôn giáo gắn kết về cộng đồng ngôn ngữ
Phần lớn các tộc người ở Việt Nam theo các tôn giáo lớn (Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo…) đều lấy tiếng Việt là ngôn ngữ chính thống trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của mình. Chỉ có một số tộc người thiểu số có sử dụng ngôn ngữ của tộc người mình trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng.
Dân tộc và tôn giáo gắn kết với nhau về cộng đồng văn hóa
Các tôn giáo có giáo lý, cách tu tập khác nhau, nhưng luôn thấm đẫm bản sắc văn hóa của người Việt Nam trong ăn, ở, sinh hoạt, tập tục
Ở Việt Nam những người theo tôn giáo khác nhau có thể sống chung trong một làng, 1 dòng họ, thậm chí một gia đình (tiếng trống Đình làng, tiếng chuông nhà thờ hoà quyện với tiếng mõ chùa là nét đặc trưng của sự ôn hoà). Người Việt Nam dù theo tôn giáo nào cũng giữ được bản sắc dân tộc. Người Việt nam không xa cách đối tượng mình thờ phụng, vì họ tin là người giúp mình. Thần thánh của các tôn giáo, tổ tiên cùng huyết thống cũng chỉ là người dẫn đường, nêu gương cho bản thân noi theo để giữ đạo làm người. Với tầng lớp có quyền thế tôn giáo vào Việt Nam giúp họ củng cố vương quyền, suy tôn vua là con trời hành đạo, là cha mẹ dân. Với người dân, tôn giáo là phương thức giúp họ điều chỉnh hành vi “ăn, ở” sao cho phải đạo, hợp lẽ trời, thoả mãn nhu cầu trần tục và thế giới mai sau “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”
Ngày nay, các tôn giáo luôn có ý thức “cải tạo giáo hội” theo chiều hướng ngày càng đồng hành cùng dân tộc. Các tôn giáo có xu hướng nhập thế để phù hợp với hiện thực xã hội ngày nay (ít lễ lạy hơn; hướng vào lao động sản xuất…). Đúng như tinh thần của Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam đã nêu ra: Ý thức mình là con cháu Lạc Hồng để đều là chủ nhân của đất nước. Ai cũng muốn đất nước mình, Tổ quốc mình thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, hội nhập với thế giới với tấm căn cước sang giá”
Như vậy có thể khẳng định trong lịch sử cũng như hiện nay, ở Việt Nam các tôn giáo (dù nội sinh hay ngoại nhập) luôn tự phải biến đổi mình để thích nghi, tồn tại. Sự vận động biến đổi của mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo gắn chặt với sự vận động và biến đổi của tồn tại xã hội. Trong điều kiện hiện nay, do tác động của kinh tế thị trường, toàn cầu hoá, quan hệ dân tộc và tôn giáo có những điểm khác biệt so với trước. Chính sự khác biệt đó là cơ sở để chúng ta nghiên cứu nhằm bổ sung lý luận về tôn giáo và hoạch định chính sách về quản lý tôn giáo theo phương châm “tôn giáo đồng hành cùng dân tộc” phù hơp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá của dân tộc.

HÃY BÌNH TĨNH, TỰ TIN ĐỂ CHỐNG DỊCH COVID-19



Những ngày này chúng ta đã có hơn trục ca dương tính với COVID-19 ở Đã Nẵng và Hà Nội và có nguy cơ lây nhiễm rất nhanh trong cộng đồng nếu nhu chúng ta không có biện pháp kịp thời. Hiện nay tôi cho rằng ngoài việc chúng ta thực hiện đồng bộ các biện pháp, thì biện pháp khẩn thiết nhất, đó là khai báo và cách ly các hoạt động không cần thiết ở những nơi có người nhiễm và nghi có người nhiễm thông qua khai báo. Tuy nhiên việc khai báo chúng ta phải triển khai rất nhanh trong ngày 29/7 và ngày 30/7, và tuyệt đối không được bỏ sót đối tượng. Việc khai báo phải thực hiện ở các cấp, các ngành, các lực lượng; tránh tình trạng khai báo chung chung. Nếu khai báo chung chung chúng ta sẽ bỏ sót đối tượng; khi bỏ sót đối tượng chỉ vài ngày sẽ lây lan rất nhanh trong cộng đồng. Chúng ta hãy bình tĩnh, tự tin, nhưng cũng phải rất nhanh chóng thì mới khoanh vùng được dịch bệnh.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được thăng hoa trong chống dịch COVID- 19



Chống đại dịch COVID-19 là chống dịch cộng đồng, chống dịch tập thể, không phải trách nhiệm của riêng mỗi cá nhân. COVID-19 là bệnh dịch với sự lây lan rất nhanh, nếu như cả cộng đồng quyết tâm chống dịch nhưng chỉ một vài cá nhân lơ là, với trách nhiệm không cao thì sẽ không chống được dịch. Đây chính là thực tế hiện nay, một số nước trên thế giới đang vấp phải, bởi ý thức trách nhiệm của một số người dân không tốt, trong khi cả hệ thống với trách nhiệm, nghị lực rất cao cùng với nền y học hiện đại nhưng vẫn đang loay hoay trong chống dịch COVID-19.
Ở Việt Nam cùng với sự vào cuộc kịp thời của Đảng, Nhà nước, trong chống dịch COVID-19 vừa qua, ý thức trách nhiệm của người dân là yếu tố rất quan trọng, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của đại dịch.
Ý thức trách nhiệm bao gồm ý thức tự giác và ý thức quyết tâm. Từ yếu tố tự giác, ý thức quyết tâm sẽ trở thành nghị lực phi thường của mỗi người. Khi có nghị lực phi thường chắc chắn sẽ vượt qua tất cả. Trong chống dịch COVID- 19 vừa qua, ở Việt Nam đã có nghị lực phi thường ấy. Nguồn gốc của nghị lực phi thường ấy do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rất cơ bản đó là lòng yêu nước của con người Việt Nam. Lòng yêu nước của con người Việt Nam đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chính lòng yêu nước ấy, trong chống dịch vừa qua, một mặt đã thể hiện rất rõ ở tính tự giác, tinh thần trách nhiệm, tinh thần quyết tâm cao trong chống dịch, mặt khác là sự đồng lòng đoàn kết, tương thân, tương ái, hỗ trợ lẫn nhau trong chống dịch. Vì vậy trong chống dịch ở Việt Nam không ai bị bỏ lại phía sau, tất cả đều được quan tâm, tạo điều kiện, do vậy không có hiện tượng trốn tránh, vô trách nhiệm trong chống dịch. Chính những vấn đề trên, khi có dịch, từng gia đình, từng tổ chức, từng cá nhân đều ra sức chống dịch, do vậy không có khoảng chống lây chéo trong cộng đồng.
Từ những vấn đề phân tích trên đây, có thể nói, trong chống dịch COVID- 19, chúng ta đã phát huy có hiệu quả chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

Những thành tựu đạt được trong thực hiện quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam



Đảng ta luôn xác định: dân tộc, tôn giáo là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, cả hệ thống chính trị và đã đạt được những thành tựu quan trọng trong giải quyết mối quan hệ dân tộc và tôn giáo, đó là:
Thứ nhất, các tôn giáo đồng hành cùng dân tộc, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân với phương châm “tốt đời đẹp đạo”
Trong lịch sử cũng như hiện tại, nhìn chung, các tôn giáo ở Việt Nam có truyền thống gắn bó chặt chẽ với dân tộc, đồng hành cùng dân tộc, gắn đạo với đời. Mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo đều đoàn kết góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sinh thời, khi đề cập về mối quan hệ hữu cơ giữa dân tộc và tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Chỉ khi nào dân tộc được giải phóng, đất nước được độc lập thì tôn giáo mới được tự do, các giáo sỹ người Việt Nam mới thật sự được hưởng hạnh phúc, không bị phân biệt đối xử.
Tháng 1 năm 1946, khi nước ta đang đứng trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược một lần nữa, Người nhấn mạnh: Nước có độc lập thì dân mới thực sự tự do tín ngưỡng. Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do nên chúng ta phải làm cho nước được độc lập đã. Và “Nước có độc lập, thì đạo phật mới dễ mở mang”1[1]
Tôn giáo tồn tại cùng dân tộc và còn tồn tại lâu dài. Tuy nhiên tôn giáo chỉ có thể phát huy những giá trị tốt đẹp của mình khi đồng hành cùng dân tộc, do đó trên con đường phát triển của dân tộc phải biết khai thác, chắt lọc những giá trị tích cực của tôn giáo. Phương châm “Kính chúa yêu nước” của Công giáo, “Nước vinh, đạo sáng” của đạo Tin Lành, hay “Đạo pháp dân tộc - chủ nghĩa xã hội” của Phật Giáo…đã được Hồ Chí Minh nhắc lại nhiều lần khi nói về mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo, đồng thời là nguyên tắc để Đảng và Nhà nước ta giải quyết hài hòa, biện chứng mối quan hệ dân tộc và tôn giáo trong các thời kỳ cách mạng của đất nước.
Tuy nhiên trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, quan hệ dân tộc và tôn giáo ở Việt Nam không phải lúc nào cũng “thuận buồm xuôi gió”. Khi chủ nghĩa thực dân, đế quốc lợi dụng tôn giáo như một “phương tiện” để áp bức dân tộc Việt Nam, hay khi một số tín đồ, chức sắc tôn giáo không đồng hành cùng dân tộc, những xung đột mâu thuẫn giữa dân tộc và tôn giáo nảy sinh.
Mâu thuẫn này chỉ từng bước được giải quyết khi dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, độc lập dân tộc đã được thực hiện, tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo được tôn trọng.
Đảng và Nhà nước nhất quán lấy nguyên tắc đoàn kết toàn dân tộc trong hoạch định, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo. Mọi chính sách pháp luật về tôn giáo phải quán triệt nguyên tắc đoàn kết và xuất phát từ lợi ích chung của cả dân tộc, trong đó lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích vật chất và tinh thần của toàn dân làm mẫu số chung.
Bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH và nhất là hơn 30 năm đổi mới, quan hệ dân tộc và tôn giáo ở nước ta nhìn chung được phát triển theo chiều hướng tích cực và về cơ bản không dẫn đến “xung đột” như ở nhiều nước trên thế giới hiện nay. Trên cơ sở khẳng định tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH, Đảng ta chỉ rõ, đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào không theo tôn giáo và đồng bào theo tôn giáo. Phát huy những giá trị văn hóa đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo, động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên có nơi, có lúc, do nhận thức hoặc do thực hiện chưa đúng, các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và vấn đề tôn giáo nên vẫn còn những mâu thuẫn phát sinh. Các mâu thuẫn này cần được nhận diện để tiếp tục giải quyết nhằm: một mặt phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo; mặt khác giữ vững sự ổn định chính trị và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân để phát triển đất nước bền vững theo định hướng XHCN.


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2001, t5, tr 228

Hiểu cho đúng về một nền tư pháp dân chủ xã hội chủ nghĩa

Nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (trước đây là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) hình thành sau khi nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng lên đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại chính quyền, thiết lập một nhà nước Việt Nam tự do, độc lập. Năm 1946, thể theo nguyện vọng của toàn dân, Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Đây là văn bản luật đầu tiên của nước Việt Nam mới, thể hiện đầy đủ quyền tự do, dân chủ mà người dân Việt Nam xứng đáng được hưởng và được Nhà nước bảo hộ. Cũng từ văn bản luật gốc này, từ thực tiễn cuộc sống, nhu cầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội (CNXH), các văn bản luật khác dần được hình thành, ra đời.
Quá trình xây dựng các văn bản pháp luật (gọi chung là các luật) được tiến hành chặt chẽ, khoa học, được lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân và được tiếp thu, chỉnh sửa một cách hợp lý theo nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trước khi trình Quốc hội thông qua. Điều đó thể hiện tính dân chủ rất cao trong quy trình xây dựng các luật. Trong số 230 bộ luật, luật đang có hiệu lực thi hành và sắp có hiệu lực thi hành thì có hai bộ luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc khởi tố, xét xử các vụ án hình sự đối với các cá nhân, tổ chức có vi phạm, đó là Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Các điều, khoản trong hai bộ luật nêu trên vừa khái quát đầy đủ các lĩnh vực, vừa cụ thể hóa rõ ràng các hành vi, dấu hiệu vi phạm hình sự của mọi cá nhân, tổ chức trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc áp dụng các điều, khoản trong quá trình tố tụng và xét xử được các cơ quan tư pháp tiến hành độc lập, theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, do đó về mặt nguyên tắc là rất chặt chẽ, không có chuyện vi phạm dân chủ như một số trang mạng cố tình đoán mò rồi dẫn lái dư luận. Trong điều kiện hiện nay, với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ nên thông tin được truyền đi nhanh chóng và rộng rãi. Trong lĩnh vực điều tra, xét xử các vụ án cũng có quy trình rất minh bạch, công khai, thông tin đầy đủ, điều đó không cho phép các cá nhân tham gia vào quy trình xử lý các vụ án có thể cố tình làm sai lệch kết quả điều tra, xét xử.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, có những vụ án rất phức tạp, nhiều tình tiết, chứng cứ khó có thể làm rõ trong một thời hạn nhất định, chính vì thế mới xảy ra các lỗi trong quá trình điều tra, xét xử dẫn đến hiện tượng lọt người, sót tội ở một vài vụ án trong số hàng nghìn vụ án mà các cấp tòa phải xét xử hằng năm. Thế nên có thể khẳng định, việc sai sót trong điều tra các tình tiết cụ thể, có thể xảy ra, nhưng đó là do sai sót của từng khâu, thuộc về từng cá nhân tham gia vào quy trình điều tra, xét xử. Còn về mặt nguyên tắc tổng thể của quá trình điều tra, xét xử các vụ án hình sự là hoàn toàn chặt chẽ, minh bạch, thể hiện rõ sự nghiêm minh, ưu việt của pháp luật XHCN. Thế nên, không thể lấy một vài sai sót từ một số vụ án để quy chụp và xuyên tạc cả nền tư pháp của Việt Nam. Đó là tư duy và cách hiểu của những người cố tình phủ nhận sạch trơn hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhằm vào những mưu đồ và lợi ích cá nhân.

Lấy mạng xã hội làm tấm bình phong

Công nghệ viễn thông phát triển là cơ hội để truyền thông lan tỏa, đó là một trong những điều kiện để mở rộng dân chủ. Thế nhưng hiện nay, một số cá nhân đã lợi dụng vấn đề này để tung tin thất thiệt, bịa đặt các tình tiết về các vụ án hòng "câu view", "câu like", hướng lái dư luận và mục đích cụ thể, thực dụng hơn cả là kiếm tiền từ trên mạng. Chẳng hạn khi mở trang Youtube, gõ từ khóa “vụ án Hồ Duy Hải”, người dùng sẽ thấy xuất hiện hàng trăm clip liên quan đến vụ án. Trong số ấy có nhiều video clip với những thông tin kiểu dựng chuyện, bịa chuyện, trộn lẫn thật với giả khiến cho người xem như lạc vào mê cung, không thể phân biệt được đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai. Cũng có những video clip lợi dụng các tình tiết của vụ án để bôi nhọ, nói xấu người này, chĩa mũi dùi vào người khác. Nghe các câu, từ bình luận trong clip, những người ít thông tin cứ ngỡ tác giả của video clip là những “nhà điều tra” tội phạm thực thụ, hoặc chí ít họ cũng có những “nguồn thông tin đáng tin cậy” như họ nói. Nhưng thực ra những người làm ra các video clip này hầu hết chỉ là những kẻ lừa bịp về truyền thông trên mạng xã hội. Tất cả thông tin mà họ đăng tải đều là do cóp nhặt trên mạng, kết hợp với sự bình luận bạt mạng, vô căn cứ, hoàn toàn theo ý chủ quan của bản thân người làm ra sản phẩm video clip. Hình ảnh trong các video clip này hầu hết là hình ảnh tĩnh mà họ nhặt nhạnh từ đâu đó, rồi gán ghép bằng những lời bình luận vô lối. Những trang mạng mang màu sắc phản động và có sự thù địch với Việt Nam, như: Việt Tân, BBC, RFA... thì có thêm các đoạn “phỏng vấn” truyền thanh một vài nhân vật đang có thiên hướng, hoặc đã từng thực hiện các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, hòng làm ra vẻ sản phẩm của mình là “vô tư”, là “minh bạch”. Nhưng xâu chuỗi các video clip của họ lại thì thấy rõ, họ luôn hướng lái người nghe/xem đến mục tiêu chính trị, đó là xuyên tạc tính ưu việt của chế độ XHCN, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội Việt Nam. Hầu hết nhân vật trong các video clip của các trang mạng nói trên đều cố “bày trò”, ra vẻ “vì sự dân chủ, công bằng”, nhưng cuối các đoạn phỏng vấn, bao giờ họ cũng lòi “cái đuôi cáo” về chính trị của mình ra.
Cũng trong môi trường mạng, hiện nay còn tồn tại một dạng thông tin thất thiệt, biến không thành có, dựng đứng nhiều chuyện. Thậm chí trong một số vụ án hình sự, họ còn sẵn sàng bịa thêm các chi tiết, nhân vật, hòng làm cho vụ án thêm ly kỳ, mục đích cuối cùng là để trang của mình có nhiều người quan tâm, theo dõi. Điều tai hại là sự bịa đặt này được phát đi phát lại, kiểu “mưa dầm thấm lâu”, khiến cho người nghe/xem chuyển từ phân vân đến nghi ngờ, rồi tin tưởng vào những điều không có thật. Đối với các vụ án quan trọng, có sự ảnh hưởng lớn, được dư luận quan tâm thì những thông tin giả này có thể sẽ làm cho xã hội nhìn nhận, đánh giá hoàn toàn sai lệch về quy trình điều tra, xét xử, khiến cho các tầng lớp nhân dân hiểu không đúng về bản chất vụ án, từ đó biểu hiện thái độ thiếu tin tưởng vào sự công minh của nền tư pháp XHCN. Đó là điều mà thế lực thù địch và những kẻ giả mạo thông tin mong muốn, bởi họ sẽ đạt được hai mục đích, tức là vừa thực hiện được âm mưu xuyên tạc nền tư pháp XHCN, đồng thời lại đạt được một yếu tố có tính cốt lõi, đó là lấy được tiền của nhà mạng nhờ vào những trang, những sản phẩm có nhiều người theo dõi. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhiều kẻ đã bất chấp đạo đức và luật pháp để bịa đặt thông tin hòng trục lợi, kiếm tiền từ sự tò mò, thiếu tỉnh táo của cộng đồng mạng.

Giải quyết nạn thông tin giả - cần sự quyết liệt

Sở dĩ thông tin bịa đặt, thông tin giả về các vụ án còn tồn tại trên không gian mạng và luôn phát triển với cấp số nhân là vì mấy vấn đề sau: Thứ nhất, còn nhiều người tin vào những sự “bịa như thật” trên mạng. Nói về vấn đề này, TS Cao Đức Thái, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, từng nhận xét: Ở Việt Nam, tốc độ phát triển của internet khá nhanh và lượng người sử dụng rất cao (khoảng 64 triệu người), trong khi trình độ dân trí của một bộ phận người dân còn có những hạn chế nên khó phân biệt được tin thật với tin giả lan truyền trên mạng. Vì vậy, việc nâng cao dân trí thông qua tuyên truyền, phổ biến, giáo dục... là rất cần thiết, đây chính là cái gốc sâu xa nhằm giải quyết vấn đề dư luận sẽ đi theo chiều cạnh nào khi tiếp nhận biển cả thông tin mênh mông. Đối với các vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng sâu sắc đến dư luận, tâm lý xã hội, nhất là các vụ án trọng điểm thì càng cần được định hướng, tuyên truyền sâu rộng để đông đảo các tầng lớp nhân dân được biết, được hiểu, từ đó tự xây dựng nhận thức đúng đắn khi tiếp nhận các thông tin trái chiều. Một quy luật tất yếu là nếu lúa tốt thì cỏ dại khó mọc và ngược lại.
Thứ hai, còn nhiều nhà mạng thiếu trách nhiệm với những thông tin mà mình cung cấp, điều nguy hại hơn là họ còn trả tiền cho cả những thông tin giả, thông tin bịa đặt. Với vai trò là cung cấp nền tảng hơn là vai trò của nhà xuất bản, các nhà mạng lớn trên thế giới hiện nay có vẻ không quan tâm đến độ chính xác của các thông tin, vì thế các thông tin thất thiệt hầu như không bị can thiệp, mặc sức hoành hành trên mạng. Thực tế hiện nay, mạng xã hội không khác gì "chợ truyền thông", trong đó lẫn lộn cả thông tin tốt lẫn thông tin xấu độc. Có lẽ đã đến lúc cần phải nghiên cứu xây dựng các đạo luật, hoặc các công ước có tính quốc tế nhằm quản lý tình trạng trên, không thể để tình trạng vì tiêu chí tự do ngôn luận mà xâm hại các quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thậm chí là quyền lợi chính đáng của một quốc gia. Mục tiêu của các nhà mạng là kiếm tiền từ thông tin thì dứt khoát phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của các thông tin mà mình đóng vai trò hỗ trợ cung cấp. Trong một cái chợ thì ban quản lý chợ cũng phải chịu trách nhiệm về tình trạng trộm cắp, bất lương của cái chợ đó.
Thứ ba, việc cung cấp thông tin chính thống có lúc chưa kịp thời, chưa đầy đủ. Về vấn đề này, có lần trao đổi với chúng tôi, nhà báo Hà Đăng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương cho rằng: Cơ chế thông tin của Nhà nước ta là dân chủ và minh bạch, tuy nhiên đối với từng cơ quan cụ thể, có lúc chưa làm tốt vấn đề này, chính vì vậy mới tạo ra kẽ hở để một số tổ chức, cá nhân có dã tâm lợi dụng, hòng trục lợi và mưu đồ chống phá. Do đó, việc thông tin những vấn đề quan trọng có liên quan tới quyền lợi về chính trị, kinh tế, văn hóa... của các tầng lớp nhân dân cần phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện và sâu kỹ. Khi có thông tin đích thực, chính thống, có nghĩa là dư luận đã được định hướng, không còn sự ngả nghiêng, nghi ngờ giữa cái thật và không thật. Báo chí chính thống, cách mạng phải giữ vững vai trò chủ đạo trong thông tin chân thực, tuyệt đối không để lợi ích cục bộ che lấp bản chất cách mạng của các nhà báo, cơ quan báo chí.
Giải quyết được 3 vấn đề trên có nghĩa là chúng ta đã thực hiện được những yếu tố cơ bản, góp phần làm trong sạch môi trường truyền thông, tạo điều kiện tốt nhất để dư luận tiếp cận các thông tin đúng, chân thực, loại bỏ các thông tin xấu độc, giả mạo để người dân hiểu đúng bản chất sự việc, sự thật.

Chế độ xã hội chủ nghĩa là nguyên nhân căn bản để Việt Nam chiến thắng dịch COVID- 19




Trong khi toàn thế giới đang căng sức chống chọi với sự lây lan của dịch COVID- 19 với tâm lý kinh hoàng kèm theo sự mất mát về người và của cải, thì ở Việt Nam, một đất nước với nền y học chưa tiên tiến bằng một số nước phát triển đã kiềm tỏa được dịch COVID- 19 (mặc dù trong mấy ngày gần đây, dịch COVID-19 đang lây lan ở Đà Nẵng và một số tỉnh, nhưng chỉ là những ca tự bùng phát, chưa rõ nguyên nhân). Nguyên nhân nào chúng ta chiến thắng được đại dịch. Đây là câu hỏi cho Đảng, Nhà nước, người dân Việt Nam, những cũng là câu hỏi cho nhiều nước trên thế giới rất đang muốn khống chế được dịch bệnh hiện nay. Theo tôi chúng ta chiến thắng được đại dịch bởi mấy nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chế độ xã hội chủ nghĩa là một chế độ do một Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đảng đó phải lấy nền tảng chủ nghĩa Mác- Lê nin soi đường. Việt Nam của chúng ta có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. Cho nên trong dịch COVID- 19 vừa qua, Đảng đã phát huy được trí tuệ của mình trong lãnh đạo toàn dân chống dịch COVID- 19 (lãnh đạo nhanh, toàn diện, hiệu quả)
Thứ hai, chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam có nền dân chủ của dân, do dân, vì dân. Bản chất của chế độ là công bằng, bình đẳng, vì con người; mọi chính sách công bằng, không bỏ ai lại phía sau, cho nên khi dịch COVID- 19, chúng ta đã phát huy được niềm tin, nghị lực của toàn dân. Niềm tin, nghị lực của dân đã biến thành tính tự giác cao độ; thành lòng yêu nước nồng nàn; tinh thần đoàn kết vô song. Những yếu tố đó đã tạo nên sức mạnh tổng hợp để vượt qua đại dịch.
Thứ ba, Việt Nam có sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Từ chế độ xã hội chủ nghĩa tươi đẹp với tình hình an ninh chính trị ổn định; nền kinh tế phát triển; con người nhân hậu…Việt Nam đã được bầu bạn quốc tế tin tưởng, giúp đỡ nhiều mặt, trong đó có chống dịch COVID- 19.
Từ những nguyên nhân trên có thể khẳng định do tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng là nguyên nhân căn bản để Việt Nam chiến thắng dịch COVID-19.

Bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân

Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị thường lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN).


1. Những năm gần đây, vào dịp Ngày Tự do báo chí thế giới (3-5) hằng năm, hay kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21-6), trên nhiều trang mạng có nội dung xấu độc và trên trang tiếng Việt của một số cơ quan truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam thường xuất hiện các ý kiến, bài viết xuyên tạc tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Trong đó, cái gọi là “Tổ chức phóng viên không biên giới” không những đưa ra bảng xếp hạng hết sức sai trái về tự do báo chí ở Việt Nam, mà còn công bố danh sách và trao giải thưởng “Anh hùng thông tin” cho một số đối tượng người Việt Nam đã lợi dụng tự do, dân chủ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. “Tiền hô hậu ủng” cho tổ chức phi chính phủ này là những đối tượng được dán mác “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “nhà báo tự do” trong nước tung ra nhiều bài viết, phát ngôn xuyên tạc trắng trợn tình hình tự do báo chí của Việt Nam.
Không chỉ vậy, vào những thời điểm các cơ quan chức năng, bảo vệ pháp luật của Việt Nam khởi tố vụ án, khởi tố các đối tượng lợi dụng tự do, dân chủ tuyên truyền, chống phá chính quyền Nhà nước, thì các thế lực thù địch bên ngoài và những người còn thù hằn với chế độ lại rêu rao đó là "hành động bóp nghẹt tự do ngôn luận", "triệt tiêu quyền tự do báo chí", hoặc "ra sức ngăn cản những người bất đồng chính kiến"...
2. Là quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam đã sớm tham gia, ký kết các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con người và quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 9-11-1946 đã hiến định tại Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Những quyền cơ bản này đã được hiến định xuyên suốt trong các bản hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.
Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được hiện diện trong thực tiễn cuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.
Về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định tại Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 với 3 nội dung cụ thể, gồm: Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân. Đặc biệt, Điều 13 luật này nêu rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.
Như vậy, về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam đã được quy định toàn diện, đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong cuộc sống.
3. Trên thực tế, không riêng ở Việt Nam, mà hầu hết các quốc gia tuy có cách tiếp cận không giống nhau về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng đều có một nguyên tắc cơ bản là việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phải phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ dân trí, thể chế chính trị của mỗi nước và không được phép lợi dụng quyền cơ bản này để xâm hại lợi ích quốc gia-dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác và ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, trật tự xã hội. Điều 11, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của nước Pháp đã quy định: “Tự do trao đổi suy nghĩ và ý kiến là một trong những quyền quý giá nhất của con người. Vì thế, bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật”. Nước Mỹ tuy không ban hành luật riêng về báo chí, nhưng có nhiều điều luật khác của quốc hội, quy định có tính pháp lý của tòa án cũng đưa ra những giới hạn nhất định đối với báo chí, đối với quyền và trách nhiệm của công dân liên quan đến báo chí nhằm tránh xâm hại đến an ninh quốc gia. Khoản 2, Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 nêu rõ: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra nhằm bảo đảm những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”.
Thế giới từng có những bài học về việc báo chí đi quá giới hạn tự do cho phép, nên phải giá rất đắt. Tháng 9-2005, tờ báo Jyllands-Posten (Đan Mạch) đăng tải 12 bức tranh biếm họa về đấng tiên tri Muhammad của Hồi giáo. Sau đó, bức tranh biếm họa này tiếp tục xuất hiện trên nhiều tờ báo ở Pháp, Na Uy, Hà Lan, Italy, Tây Ban Nha. Vụ việc đã gây nên một làn sóng phẫn nộ mạnh mẽ của những người theo đạo Hồi trên toàn thế giới dẫn đến nhiều hậu quả xấu. Tháng 7-2011, tờ News of the World (Tin tức thế giới) của nước Anh đã phải đình bản vĩnh viễn sau 168 năm hoạt động vì bị công chúng cáo buộc nhiều phóng viên bản báo này đã đột nhập điện thoại của hàng nghìn người dân để “săn tin”. Nhắc lại hai ví dụ trên để thấy, trên thế giới không có quốc gia nào cho phép tự do báo chí, tự do ngôn luận “đứng trên, đứng ngoài” luật pháp và xâm hại đến an ninh quốc gia. Nếu vi phạm điều này, báo chí sẽ bị công chúng tẩy chay và bị những chế tài xử lý thích hợp.
4. Mọi quyền tự do, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải có giới hạn nhất định. Giới hạn này đặt ra để bảo đảm quyền tự do chính đáng cho số đông mọi người, chứ không phải cho một nhóm ít người nào đó nói năng bừa bãi, phát ngôn bạt mạng, thích gì viết đấy, nói và viết chỉ vì động cơ cá nhân ích kỷ, thiên vị mà không vì sự ổn định, đồng thuận chung của xã hội, cộng đồng.
Chẳng hạn như trong đợt đại dịch Covid-19, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam không chỉ đối mặt với loại virus nguy hiểm này, mà còn phải đối mặt với vấn nạn tin giả tràn lan trên mạng xã hội. Phần lớn những tin giả này xuất phát từ những người lợi dụng tự do ngôn luận để lan truyền thông tin sai trái, thất thiệt, tác động tiêu cực đến dư luận xã hội và an ninh truyền thông. Do đó, ngăn chặn, xử lý những đối tượng gây ra nạn “hoang tin” trên mạng xã hội chính là góp phần bảo đảm sự trong sạch của môi trường thông tin, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thành công của Việt Nam trong công tác phòng, chống, kiểm soát đại dịch Covid-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, có một phần bắt nguồn từ việc Đảng, Nhà nước Việt Nam và các cấp, các ngành đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong các tầng lớp nhân dân; đồng thời phát hiện, ngăn chặn kịp thời những thông tin sai trái về dịch bệnh trên mạng xã hội.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định việc bảo đảm, thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam là một trong những giải pháp quan trọng để khơi dậy, phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mặt khác, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần cầu thị, tích cực tiếp thu, học hỏi, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của các quốc gia khác để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân.
Để bảo đảm quyền lợi, tự do chính đáng cho số đông công dân, chúng ta cũng không chủ quan, lơ là, mà phải luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, kiên quyết vạch trần, kịp thời bác bỏ mọi âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị cố tình lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí nhằm đưa ra những thông tin sai trái, xuyên tạc, tác động tiêu cực dư luận xã hội, xâm hại an ninh truyền thông quốc gia, chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. 

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM CẦN THỰC HIEN THEO XU HƯỚNG QUAN HỆ DÂN TỘC, TÔN GIÁO



Khi nghiên cứu tôn giáo, nếu xem xét ở phương diện cấu trúc xã hội, tôn giáo là một thực thể xã hội, là một cộng đồng có đức tin vào các thế lực siêu nhiên. Tôn giáo là một hệ thống thu nhỏ của xã hội bởi nó không chỉ tồn tại như một hình thái ý thức mà còn có các thiết chế như tổ chức giáo hội cùng những con người có đức tin. Còn nói đến dân tộc là đ cập một cộng đồng chính trị- xã hội có đặc trưng riêng: ngôn ngữ, lãnh thổ, văn hóa, kinh tế, nhà nước. Vì vậy giữa tôn giáo và dân tộc có mối quan hệ tương hỗ rt phức tạp, tác động ảnh hưởng lẫn nhau với những chiều thuận, nghịch khác nhau. Trong từng giai đoạn của lịch sử, ở những quốc gia khác nhau, quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo được biểu hiện dưới nhiều hình thức, khía cạnh khác nhau. Suy cho cùng, sự vận động biến đổi của tôn giáo gắn liền với sự vận động, biến đổi của dân tộc; ngược lại, mỗi cộng đồng dân tộc thường chịu ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau bởi các tôn giáo. Mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo có thể khái quát ở các xu hướng chủ đạo sau:
Một là, Dân tộc, quốc gia là cơ sở, nền tảng cho sự ra đời và tồn tại của tôn giáo
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và được xác nhận bởi lịch sử của nhân loại, tôn giáo không có nguồn gốc siêu nhiên mà tôn giáo có nguồn gốc từ xã hội hiện thực. Tôn giáo được hình thành từ 3 nguồn gốc: nguồn gốc tự nhiên, KT-XH; nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý. Về nguồn gốc tự nhiên, KT-XH. Trong buổi bình minh của lịch sử loài người, con người đã từng sống một thời gian dài không tín ngưỡng, tôn giáo. Nhưng khi kinh tế hái lượm, săn bắt cùng với cuộc sống mông muội, hoang dã làm cho con người trong xã hội nguyên thủy rất gần gũi, gắn bó với tự nhiên. Song thiên nhiên bao quanh họ chứa đầy những huyền bí và thường xuyên đe dọa cuộc sống của họ, mà họ không thể nào lý giải và khắc phục được. Và thế là họ đã khoác lên tự nhiên một sức mạnh thần thánh. Lê nin đã khái quát: “…sự bất lực của con người dã man trong cuộc sống đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào những phép màu”
Khi quốc gia dân tộc, có sự phân chia giai cấp, trong lòng xã hội bị phân hóa. Xã hội có kẻ giàu người nghèo, có sự áp bức bóc lột, trong xã hội có sự bất công, có sự đau khổ, sự cùng cực, con người hoài nghi về số phận, muốn tìm đến tôn giáo, cần một đấng siêu nhiên cứu rỗi, che trở.Về nguồn gốc nhận thức: từ thời kỳ nguyên thủy mông muội đến các giai đoạn lịch sử, nhận thức của con người còn hạn chế đối với sự bí ẩn của tự nhiên, xã hội, và chính bản thân con người, cho dù khoa học kỹ thuật của con người ngày càng hiện đại, nhưng vẫn còn nhiều điều của tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người chưa nhận biết được (chưa giải thích được).
Mặt khác nguồn gốc nhận thức của tôn giáo, còn gắn liền với đặc điểm của quá trình nhận thức của con người về thế giới khách quan- đó là quá trình phức tạp và đầy mâu thuẫn…Lê nin nói “ Nhận thức con người không phải là một đường thẳng, mà là một đường cong đi gần vô hạn đến một loạt những vòng tròn, đến một vòng tròn xoắn ốc. Bất cứ đoạn nào, khúc nào, mảnh nào của đường cong ấy cũng có thể chuyển hóa (chuyển hóa một cách phiến diện) thành một đường thẳng độc lập, đầy đủ, đường thẳng này ( nếu chỉ thấy cây mà không thấy rừng) sẽ dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thầy tu”. Về nguồn gốc tâm lý của tôn giáo. Sợ hãi cũng tạo ra thần linh, sợ hãi trước những bí ẩn của thiên nhiên, sợ hãi trước những lực lượng thống trị xã hội, sợ hãi trước bệnh tật, tâm lý buồn đau, bất hạnh, khổ ải, cô đơn, và sợ hãi trước cái chết…đều là những nguồn gốc tâm lý để nảy sinh ra tôn giáo. Mặt khác tôn giáo được sinh ra cũng là để thỏa mãn khát vọng bất tử của con người, sợ hãi trước cái chết, con người tưởng tượng và hy vọng chết sẽ là chuyển sự sống sang một thế giới khác, thế giới của các thánh thần và thiên đường. Tôn giáo cũng là sự thay thế thế giới hiện thực bằng một thế giới mong ước. Con người đã gắn những ước vọng của mình cho thượng đế, vậy nên tôn giáo còn là kết quả của một xúc cảm khát khao, hy vọng.Như vậy từ ba nguồn gốc sinh ra tôn giáo, có thể khẳng định rằng, tôn giáo do hiện thực xã hội sinh ra, mà hiện thực xã hội có được là do mỗi quốc gia, dân tộc sinh ra. Chính vì vậy, trong phê phán triết học pháp quyền của Hê ghen, C.Mác khẳng định “Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo”[1]
Dân tộc, quốc gia là nơi dung dưỡng, cung cấp những chất liệu làm giàu đời sống tôn giáo
Không chỉ là cơ sở cho sự ra đời của tôn giáo, dân tộc, quốc gia, hay nói chung là mảnh đất hiện thực của xã hội loài người, cũng là nơi dung dưỡng, cung cấp những chất liệu làm giàu đời sống tôn giáo. Bằng chứng là, ở một quốc gia cổ đại, khi sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội vô cùng khắc nghiệt, Ân Độ đã sản sinh ra Phật giáo, một tôn giáo phản ánh khát vọng của những người bị áp bức về một thế giới bình đẳng giữa những con người. Ở khu vực Trung cận Đông, khi những người nô lệ thất bại trong cuộc khởi nghĩa do Spacrtacus lãnh đạo, khát vọng thực tại về một sự nhân từ, một sự cứu rỗi, một sự bác ái đã làm hình thành một đạo thế giới là đạo Kitô…
Hai là, quá trình ra đời, phát triển của tôn giáo gắn liền với sự biến động của cộng đồng tộc người, dân tộc, quốc gia trong lịch sử
          Tôn giáo chỉ ra đời khi trình độ nhận thức của con người và xã hội loài người đã phát triển đến một trình độ nhất định. Nghĩa là khi con người sống cùng nhau với tư cách là một dân tộc.  PhĂng ghen viết: “Tôn giáo sinh ra trong một thời đại hết sức nguyên thủy…Do đó những khái niệm tôn giáo ban đầu ấy, thường chung cho mỗi tập đoàn, những dân tộc cùng dòng máu”1. Sự xuất hiện của nhà nước quốc gia đã kéo theo sự thay đổi trong đời sống tôn giáo của cộng đồng, đánh dấu bằng sự ra đời của các tôn giáo dân tộc. Buổi ban đầu của thời kỳ này, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có chung một tôn giáo và coi nó như là chính thống, chi phối tâm linh, làm nền tảng tinh thần và góp phần xây dựng bản sắc riêng của cộng đồng. Phng ghen chỉ rõ: “Những vị thần được tạo ra…ở mỗi dân tộc là những vị thần dân tộc; lĩnh vực chi phối của các vị thần đó không vượt qua biên giới của lãnh thổ dân tộc mà các vị thần ấy phải bảo vệ, và ngoài biên giới đó thì do các vị thần khác tiến hành một sự thống trị không ai tranh giành được. Tất cả các vị thần ấy chỉ có thể tiếp tục tồn tại trong trí tưởng tượng chừng nào dân tộc tạo ra các vị thần ấy còn tồn tại; khi dân tộc đó tiêu vong thì các vị thần ấy cũng tiêu vong theo”2.
          Ví dụ: Sự ra đời của đạo Hindu, đạo Do Thái và nhiều tôn giáo khác.
          Khi lịch sử có những thay đổi lớn, đôi khi là do các cuộc chiến tranh, các cuộc di cư tìm miền đất hứa đã làm thay đổi sâu sắc diện mạo nhân loại, lúc này dân tộc được mở mang. Khi dân tộc mở rộng, thì tôn giáo theo dân tộc, tôn giáo cũng mở rộng. Nhưng tôn giáo mở rộng không bó hẹp trong khuôn khổ quốc gia, mà quá trình mở rộng của tôn giáo bằng nhiều con đường: Từ chiến tranh, từ dân di cư, từ truyền đạo của các nhà truyền đạo, tôn giáo sẽ mở rộng phạm vi lãnh thổ (xét theo nghĩa đích thực: tôn giáo không có lãnh thổ cố định). Trong bối cảnh đó, đã hình thành các tôn giáo có tính khu vực và thế giới.
Ví dụ đạo Ki tô, đạo Phật. Ngược lại với những biến cố trên cũng đã làm mất đi nhiều quốc gia – dân tộc, kéo theo là sự lụi tàn tôn giáo của các quốc gia dân tộc đó.
Như vậy, theo dòng lịch sử, sự ra đời và tiêu vong của các hình thái tôn giáo gắn liền với số phận của các cộng đồng tộc người, dân tộc, quốc gia. Sự tiêu vong của các thị tộc, bộ lạc kéo theo sự tiêu vong hay biến dạng của các hình thái tôn giáo tương ứng và sự ra đời của các tôn giáo dân tộc. Đến lượt mình những tôn giáo dân tộc lại bị mất đi với sự tiêu vong của một số dân tộc, cùng với quá trình đó là sự bành trướng tôn giáo của một dân tộc thành tôn giáo khu vực hay thế giới.
Cho đến ngày nay xu hướng này vẫn không ngừng diễn ra. Các tôn giáo dân tộc, khu vực và thế giới vừa chung sống, vừa cạnh tranh, thậm trí tranh chấp, xung đột nhau, trong đó không ít là phục vụ mục đích chính trị, quân sự của các giai cấp thống trị. 
Ba là, sự tiếp biến tôn giáo diễn ra dưới tác động của những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội nhất định của dân tộc
Lịch sử phát triển của các tôn giáo cho thấy, hầu hết các hình thức tôn giáo ra đời và phát triển đều phải biến đổi trên cơ sở kế thừa và vay mượn các chất liệu có sẵn trong đời sống của cộng đồng dân tộc, bởi vì tôn giáo có nguồn gốc từ xã hội hiện thực. Với các tôn giáo ngoại nhập cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Muốn du nhập và phát triển vào cộng đồng dân tộc nào đó, bản thân tôn giáo đó cũng phải tự biến đổi, tự thích nghi với đặc điểm, truyền thống văn hóa của dân tộc. Chính việc bị chi phối bởi văn hóa bản địa để tồn tại đã làm nảy sinh hiện tượng cùng một tôn giáo nhưng ở mỗi cộng đồng, dân tộc, quốc gia khác nhau lại có những hiện tượng khác nhau. Chẳng hạn, sự biểu hiện đa dạng của đạo Phật, đạo Tin Lành trên thế giới là một ví dụ.
Trên cơ tầng văn hoá của mỗi dân tộc, nhiều tôn giáo khác nhau có thể cùng tồn tại mà ít xuất hiện những xung đột, thậm chí còn tồn tại trong thế “hoà nhi bất đồng” (chung sống hoà bình - như kiểu tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam”. Ví dụ Đạo Cao Đài ở Việt Nam. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, Đạo Cao đài xuất hiện ở Nam Bộ, trở thừnh tôn giáo có tính khu vực, với tên “Cao Đài Đại đạo Tam kỳ phổ độ” gọi tắt là đạo Cao Đài. Xuất phát từ nguồn gốc ra đời, trong hoàn cảnh nô dịch, bóc lột của Thực dân Pháp, làm cho đời sống nông dân đến cùng cực, đã xuất hiện nhiều đạo(đạo Lành, đạo Minh sư, đạo trưởng, đạo dừa, đạo ngồi…các đạo này mục đích cũng là cứu oan cứu khổ cho chúng sinh, tuy nhiên đều không giải thoát được nỗi khổ cho chúng sinh, từ đó đã thúc đẩy số đông nông dân ở Nam bộ tìm đén một tôn giáo mới. Cốt lõi của đạo Cao Đài là tín ngưỡng “cầu hồn, cầu tiên” của Lão giáo đã tồn tại từ trước ở vùng này, kết hợp với tín ngưỡng “thần linh học” từ phương Tây tràn sang, hình thành tín ngưỡng “Cầu cơ chắp bút”, gọi là “cơ bút”. Tín ngưỡng này phát triển trong một bộ phận trung lưu ở Nam bộ từ năm 1920, mạnh nhất vào những năm 1924-1926. (có khoảng 50 vạn tín đồ). Giáo lý đạo Cao đài là: “Cao đài đại đạo Tam kỳ Phổ độ”. Cao đài: Đài cao thờ phụng thượng đế (là biến tướng của quan niệm niết bàn ở Phật giáo, thiên đường ở Ky tô giáo). Trị vì cao đài là Cao đài tiên ông đại bồ tát Ma-ha-tát. Đại đạo:Là đạo lớn gồm tất cả các đạo: nhân đạo (khổng tử), thần đạo (thờ thần), Thánh đạo (giê su), Tiên đạo (lão tử), Phật đạo (thích ca). Ngày nay con người hiểu biết nhau và do các đạo xung khắc nên đấng tối cao phải tổng hợp các đạo lại trong một đạo lớn. Tam kỳ:Là khoảng thời gian đấng tối cao đưa các đạo lớn xuống cứu hộ con người (3 lần). Phổ độ: Danh giới giữa mê muội với giác ngộ. Trung tâm giáo lý của cao đài là “tam giáo ngũ chi” Phật giáo (từ bi), Nho giáo (công bằng), lão giáo (bác ái). Từ “tam giáo” đẻ ra “ngũ chi đạo” (Phật, tiên, thánh, thần, Nhân đạo). Tam giáo đồng nguyên có trước khi có đạo Cao đài. Về thờ phụng, trong điện thờ cao nhất là Thượng Đế, tượng trưng bằng con mắt (thiên nhãn), dưới thiên nhãn  tam giáo (phật, nho, lão) và ngũ chi đạo: Quan âm, Lý Thái Bạch, Quan Thánh, Giê su và Khương Thái Công.. Lễ phục của tín đồ màu trắng; chức sắc theo từng nghành (vàng- Phật), (đỏ- Nho), (xanh- Lão) được cắt may cầu kỳ theo phẩm phụch các vua quan phong kiến.
Nhưng cũng có thể biến thành các hình thái khác, tuy xuất phát từ một gốc nhưng lại có nhiều khác biệt kể cả trong tín lý, cách tu tập. Chẳng hạn đạo Phật vốn là một tôn giáo có tính nhập thế nhưng khi du nhập vào Việt Nam, do những đặc điểm yêu cầu của dân tộc, tôn giáo này lại có tính nhập thế cao hơn. Hay nho giáo, nếu xem nó là một tôn giáo, cũng thấy có những khác biệt khi nhập thế vào Việt Nam. Nhìn chung nho giáo ở Việt Nam ít khắt khe hơn Nho giáo ở Trung Quốc, nhất là trong cách nhìn nhận về vai trò của người phụ nữ.
Ngày nay bên cạnh xu hướng toàn cầu hoá về mọi mặt của đời sống xã hội đang diễn ra mạnh mẽ, xu hướng đề cao lòng tự tôn dân tộc đang tác động đến đời sống tôn giáo thế giới. Toàn cầu hoá đã phá vỡ tính độc tôn của một tôn giáo trong từng quốc gia, kể cả quốc gia đã từng bị thống trị bởi một tôn giáo độc thần, do vậy, nó cũng đem đến cho nhiều tôn giáo giấc mơ bao trùm thế giới. Xu thế đó làm xuất hiện xu thế dân tộc hoá tôn giáo- trở về với tôn giáo truyền thống. Trong xu thế này, các tôn giáo truyền thống hay tôn giáo dân tộc được xem là chỗ dựa, là vũ khí để bảo vệ bản sắc dân tộc trước sự uy hiếp của các tôn giáo thế giới đang được các thế lực chính trị sử dụng như một vũ khí để đồng hoá văn hoá. Đứng ở vị trí này, các tôn giáo truyền thống hay tôn giáo dân tộc vẫn tiếp tục giữ vai trò làm “màng bọc” để dân tộc hoá các tôn giáo ngoại nhập.
Bốn là, suy cho cùng, tôn giáo chịu sự chi phối, quyết định của những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của dân tộc song tôn giáo tác động trở lại dân tộc, có thể đồng hành cùng dân tộc hoặc cản trở sự phát triển của dân tộc
Xu hướng tôn giáo đồng hành cùng dân tộc khi một tôn giáo nào đó có đường hướng hành đạo tiến bộ, có cách thức tu tập phù hợp truyền thống văn hoá của dân tộc, có đội ngũ tu trì chân chính…
Ví dụ: Trường hợp phật giáo ở Việt Nam thời Lý - Trần hay đạo do thái người Ixraen
Theo xu hướng đó, tôn giáo có thể làm giàu các chuẩn mực đạo đức, làm phong phú các giá trị văn hoá, góp phần hình thành nên một lối sống cao đẹp của dân tộc, thậm chí còn là những dự cảm, có thể nâng cao trình độ tư duy của một dân tộc nào đó.
Tôn giáo xung đột, cản trở sự phát triển của dân tộc, khi tôn giáo có đường hướng hành đạo không tiến bộ, hoặc các tôn giáo trong một quốc gia dân tộc mâu thuẫn với nhau.
Các tôn giáo có thể xung đột với dân tộc, cản trở sự phát triển của dân tộc. Vì sao? Vì ba lý do:
 Thứ nhất, suy cho cùng, thế giới quan tôn giáo không khuyến khích tư duy sáng tạo, tư duy khoa học; hơn thế nữa tôn giáo có vai trò cố kết cộng đồng cùng đức tin.
Thứ hai, phần lớn trên thế giới, các quốc gia, dân tộc là những quốc gia, dân tộc đa tôn giáo, do tính cục bộ vốn có, nếu như quốc gia dân tộc, không quản lý tốt các tôn giáo, có thể diễn ra xung đột, thậm trí chiến tranh giữa các tôn giáo, gây hậu quả tiêu cực cho con người, xã hội.
Thứ ba, trong một số trường hợp tôn giáo có thể bị các thế lực chính trị phản động lợi dụng để chống lại dân tộc.
Như vậy, Trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ dân tộc và tôn giáo là vấn đề hết sức phức tạp. Việc giải quyết mối quan hệ này như thế nào có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định chính trị và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đa dân tộc và đa tôn giáo. Những xu hướng trên, được Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn vận dụng sâu sắc trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo. Với sự vận dụng sâu sắc đó, cho nên trong thời gian qua quan hệ dân tộc, tôn giáo ở Việt Nam được thực hiện rất tốt; các dân tộc luôn đoàn kết, gắn bó; các tôn giáo luôn sống “tốt đời, đẹp đạo”, vừa thực hiện tốt bổn phận tu hành, vừa thực hiện tốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


[1] C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H2002, t1, tr59.

“Dân sự hóa quân đội” - mối nguy hại khôn lường

Gần đây, trên mạng xã hội, diễn đàn truyền thông và thậm chí ở một số nghị trường, cụm từ “dân sự hóa quân đội”, “dân sự hóa hoạt động quân sự” xuất hiện, gây ra không ít tranh luận đa chiều. Đáng lo ngại là việc nhận thức về nội hàm, bản chất của cụm từ này chưa đầy đủ, thậm chí còn sai lệch nghiêm trọng-được xem là dấu hiệu ban đầu nhưng khá rõ nét của biểu hiện “tự diễn biến” trong chính một bộ phận cán bộ, đảng viên về vai trò, vị trí, chức năng và đặc thù hoạt động của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.

Trước hết, đó là những “hiến kế” phiến diện về việc cân đối lại ngân sách quốc gia, theo hướng giảm tỷ lệ GDP đầu tư cho hoạt động quân sự và sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Các ý kiến này cho rằng, nên “dân sự hóa quân đội” theo “lối” phát huy đơn thuần các nguồn lực xã hội để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh mà không nên tập trung đầu tư xây dựng “đội quân chủ lực”, gây ảnh hưởng đến nguồn lực đầu tư cho phát triển kinh tế.
Đây thực chất là cách nhìn thiển cận, phiến diện, chưa thấy hết ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc (BVTQ). Hơn nữa, đặt trong mối quan hệ giữa “xây dựng” và “bảo vệ” Tổ quốc, thì yếu tố bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện cơ bản, tiên quyết để đất nước ổn định, phát triển về kinh tế và các lĩnh vực khác. Như vậy, nếu không đầu tư chăm lo, xây dựng quân đội thì cũng đồng nghĩa với việc xem nhẹ, hạ thấp nhiệm vụ BVTQ.
Với chủ trương thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và BVTQ, việc sử dụng ngân sách nhà nước cho hai nhiệm vụ này được Đảng, Nhà nước nghiên cứu, tính toán rất kỹ lưỡng, làm sao để bảo đảm trong điều kiện cụ thể có thể hoàn thành tốt hai nhiệm vụ chiến lược. Trên thực tế, do những khó khăn khách quan của tài chính quốc gia, việc đầu tư xây dựng quân đội vẫn chưa thể đáp ứng yêu cầu tiến nhanh lên chính quy, hiện đại của quân đội. Trong khi đó, với chủ trương chủ động phát huy nội lực, khắc phục khó khăn, QĐND Việt Nam luôn sử dụng nguồn kinh phí hiệu quả nhất cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Từ năm 1998 đến nay, Nhà nước đã nhiều lần công bố “Sách trắng về quốc phòng Việt Nam”. Đây là căn cứ quan trọng để nâng cao hiểu biết về quốc phòng đất nước cho công dân Việt Nam, góp phần làm cho mọi tổ chức, cá nhân hiểu rõ hơn quyền lợi, trách nhiệm trong tham gia công cuộc củng cố quốc phòng, vì sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt Nam XHCN.
Một biểu hiện “tự diễn biến” nghiêm trọng nữa là không ít cán bộ, đảng viên, quần chúng nhận thức hời hợt, chưa đầy đủ về tính chất, yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ BVTQ trong tình hình mới; chưa thấy rõ diễn biến phức tạp, mau lẹ của tình hình thế giới, khu vực, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nguy hại cả tiềm tàng lẫn trực tiếp đến nhiệm vụ BVTQ. Với chức năng, nhiệm vụ được giao, QĐND Việt Nam-lực lượng nòng cốt BVTQ rất cần những đầu tư tương xứng, giúp có đủ tiềm lực, thực lực và sức mạnh bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó; nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. Ở đây, cần hiểu rất đúng, đủ về chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân (QPTD) và đặt nhiệm vụ xây dựng quân đội-“công cụ bạo lực” bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ và nhân dân trong mối quan hệ tổng thể xây dựng 3 thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Trong các LLVT, xét về chiến lược cũng phải từng bước được đầu tư để hiện đại hóa, chính quy hóa, nhưng trước tiên và trên hết phải đặc biệt ưu tiên xây dựng QĐND Việt Nam trong mối quan hệ với các bộ phận, lực lượng khác của nền QPTD.
Một đội quân với chức năng là công cụ bạo lực phải nhất thiết được xây dựng theo hướng tinh nhuệ, hiện đại; có đủ năng lực xử lý các tình huống phức tạp. Đó là lý do vì sao Trung ương, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán xây dựng quân đội “cách mạng”, nhưng đồng thời chú trọng xây dựng tiến lên “chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”. Nghị quyết Trung ương khóa XI, XII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, X đều xác định phải đẩy nhanh tiến độ, chất lượng từng bước tiến lên hiện đại, ưu tiên xây dựng một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đó là mục tiêu khách quan, là đòi hỏi tất yếu của sự nghiệp BVTQ. Do đó, việc tập trung quan tâm, đầu tư nguồn lực cho xây dựng quân đội là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân và sự nghiệp cách mạng.
Như vậy, những nhận thức nêu trên là hoàn toàn sai lệch, gây nhiều nguy hại trong nhận thức và hành động. Đó là một cách đánh mất, hạ thấp chức năng, nhiệm vụ của quân đội, mà trước hết là chức năng đội quân chiến đấu. Không thể đánh đồng khái niệm “dân sự hóa quân đội” với chủ trương phát huy sức dân trong thực hiện nhiệm vụ BVTQ. Đây là "hướng tư duy" có nguyên nhân do sự thiếu hiểu biết của một số cán bộ, đảng viên, nhưng thường bị các thế lực thù địch tận dụng, khai thác triệt để; dùng nhiều ngón đòn và các chiêu thức khác nhau, với nhiều giọng điệu khác nhau-khi thì đứng hẳn về phía đối lập ra sức và trực diện chống phá, khi thì như “người trong cuộc” thể hiện “thiện chí”, “tâm huyết” đối với sự nghiệp xây dựng quân đội, cố gắng “khuyên nhủ” phải đẩy nhanh “dân sự hóa quân đội”.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2020

Việt Nam không lựa chọn liên minh về vấn đề Biển Đông

Mấy ngày qua, truyền thông trong nước và quốc tế liên tục đưa tin về những căng thẳng giữa Mỹ - Trung Quốc sau khi Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra tuyên bố về yêu sách chủ quyền ở Biển Đông của Trung Quốc được cho là thẳng thắn và mạnh mẽ nhất từ trước tới nay. Xoay quanh vấn đề này, có ý kiến băn khoăn rằng “Việt Nam có chọn phe hay không, chọn phe nào trong cuộc so găng Trung - Mỹ?”
Thực tế, ngay sau khi Mỹ có tuyên bố chính thức, Việt Nam cũng đã bày tỏ quan điểm về vấn đề này. Cụ thể, phát ngôn viên Bộ ngoại giao Việt Nam, bà Lê Thị Thu Hằng đã nói: “Việt Nam mong rằng các nước sẽ nỗ lực đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác tại Biển Đông và giải quyết các tranh chấp thông qua đối thoại cùng các biện pháp hòa bình khác theo luật pháp quốc tế vì lợi ích chung, phù hợp với nguyện vọng của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Việt Nam luôn đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào quá trình này”.
Như vậy, quan điểm của Việt Nam là mong muốn quốc tế đóng góp vào hòa bình, ổn định ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trên cở luật pháp quốc tế. Do đó, tuyên bố của Mỹ là cần thiết để phủ nhận và phản đối yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhưng điều đó không có nghĩa là Việt Nam lựa chọn liên minh hay phe phái như quan điểm của một số người trong cuộc so găng Mỹ - Trung.
Quan điểm nhất quán của Việt Nam từ trước đến nay luôn là “không liên minh, liên kết, đồng minh với nước nào, không dùng nước thứ ba để chống lại nước khác”. Thực tế này đã được chứng minh bởi lịch sử dựng nước và giữ nước cua dân tộc Việt Nam, đó là tự lực, tự cường, vận mệnh dân tộc phải do nhân dân quyết định chứ không phải là một quốc gia khác. Vấn đề chủ quyền của quốc gia phải là độc lập, tự chủ chứ không phải là liên minh hay phe phái. Việt Nam coi trọng, ghi nhận ủng hộ của cộng đồng quốc tế về giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, nguyện vọng và lợi ích của các bên./.

Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân


Làn sóng Covid thứ hai quay lại Việt Nam, uy hiếp Đà Nẵng và nếu không phòng chống tốt, có nguy cơ lan rộng. Thế giới lo lắng cho Việt Nam thì Việt Nam đã rất bình tĩnh, tự tin cho máy bay bay thẳng vào tâm dịch San Francisco, Mỹ đón 219 công dân Việt về nước.
Mà không chỉ bay sang Mỹ, Việt Nam cử chuyến bay đặc biệt, bay thẳng tới Guinea Xích Đạo để đón 219 công dân về nước, cách ly, chữa trị.
Tấm ảnh Bác, các bạn ôm vào lòng, mang theo cùng chuyến bay, nhìn tấm ảnh này gợi cho tôi nhiều cảm xúc khó tả.

Lúc này, trong cơn lốc đại dịch, tôi đã thấy bà con trao cho nhau từng kg gạo, nước, thức ăn. Tôi đã thấy một sự quyết tâm sắt đá từ trên, bằng mọi giá phải đưa đồng bào mình về nước. Tôi đã thấy những chiến binh thầm lặng, họ khoác vào người bộ đồ bảo hộ nóng đến nghẹt thở trong suốt quá trình tiếp cận, hướng dẫn cách ly và điều trị cho nhân dân vượt qua nguy khốn.
Một dân tộc mạnh mẽ, chưa chắc vì kinh tế hay bom hạt nhân được xem là dân tộc mạnh mẽ. Mà là, dân tộc ấy trước tiên mạnh mẽ ở giá trị cốt lõi về tinh thần. Trong những lúc gian nguy nhất, Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân.
Tinh thần của người Việt Nam ta xứng đáng là Đức tin. Đức tin là tình yêu Tổ quốc mình, tình yêu Đồng bào rất mãnh liệt, rất thực tế. Phụng sự cho chính giống nòi người Việt Nam, chứ không hề là siêu nhân phụng sự đẩu đâu./.


Phản bác luận điệu “Covid-19 ở Đà Nẵng là do người Trung Quốc mang sang để đầu độc Việt Nam”


Hiện nay, nhiều người trên không gian mạng truyền tai nhau rằng: “Covid-19 ở Đà Nẵng là do người Trung Quốc mang sang để đầu độc dân Việt Nam”. Đó là vấn đề hết sức nhạy cảm và tiềm ẩn nguy cơ cao khi họ cố tình kích động nhân dân một cách cực đoan, thiếu lý trí. Thế giới ngày nay luôn phẳng và ở tầm quốc gia, đại sự thì phải biết phân biệt nhẹ, nặng, đúng, sai; cái cốt lõi vẫn là lợi ích của quốc gia, dân tộc. Sự việc người Trung Quốc xâm nhập trái phép vào Đà Nẵng, có sự tiếp tay của một số người Việt. Chúng vì tiền mà bán rẻ lương tâm, bất chấp tất cả. Thật phẫn nộ và đáng lên án hành vi phản quốc của họ. Tuy nhiên, vụ việc đang được cơ quan chức năng Đà Nẵng tiến hành thủ tục điều tra, truy tố, xét xử.
Chuyện gì ra chuyện đó, không thể kết luận vội vàng, vô căn cứ là “Covid 19 ở Đà Nẵng là do người Trung Quốc cố tình gây ra”, khi chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền! Đây là hành vi hết sức nguy hiểm, gây hoang mang dư luận, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn về an ninh, chính trị. Đề nghị cơ quan chức năng nên theo dõi, kiểm tra để phát hiện và xử lý kịp thời những kẻ tung tin đồn thất thiệt./.