Thứ
nhất, tiêm chủng vắc-xin là biện pháp quan trọng.
Dù
tiếp cận theo cách nào - “đóng cửa” nền kinh tế kiểm soát dịch bệnh trước, hay
song song thúc đẩy các hoạt động kinh tế kết hợp với kiểm soát dịch bệnh, thì
tăng tỷ lệ người dân được tiêm chủng vắc-xin cũng vẫn là điều kiện cần của quá
trình phục hồi nền kinh tế. Gia tăng nguồn cung vắc-xin giúp các quốc gia có cơ
hội lớn hơn trong việc tiêm chủng cho người dân.
Tùy
theo quy mô dân số của nền kinh tế, ngưỡng 75% đến 85% dân số được tiêm phòng
vắc-xin (2 mũi) là điều kiện để kiểm soát dịch bệnh và/hoặc chuyển đổi nền kinh
tế sang giai đoạn phát triển kinh tế trong bối cảnh thích ứng với dịch bệnh.
Thúc đẩy phát triển hoạt động nghiên cứu và phát triển sản xuất vắc-xin và
thuốc điều trị bệnh trong nước là điều kiện (đủ) để bảo đảm cho việc kiểm soát
hay thích ứng trước sự phát triển của dịch bệnh.
Thứ hai, gia tăng các đối tác thương mại
kết hợp với đơn giản hóa các thủ tục là điều kiện thúc đẩy thương mại.
Đại
dịch COVID-19 là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng nhiều biện pháp phi thuế, cản
trợ sự thuận lợi của thương mại. Trong đại dịch, thương mại của một quốc gia sẽ
chịu tác động tiêu cực lớn khi nền kinh tế đó phụ thuộc/có mối quan hệ thương
mại chỉ với số ít đối tác chính.
Ứng
dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, như mạng thông tin, hệ thống cảm biến, sinh
trắc học… giúp các quốc gia cắt giảm các chi phí, thủ tục liên quan đến thương
mại hàng hóa, dịch vụ cũng như thúc đẩy đi lại qua biên giới. Ứng dụng công
nghệ thông tin trong việc lưu trữ, truy xuất nguồn gốc của hàng hóa là cơ sở
hạn chế việc áp dụng các biện pháp phi thuế. Tăng cường hợp tác quốc tế trong
lĩnh vực hải quan trong bối cảnh dịch bệnh là yêu cầu cấp thiết để góp phần tạo
thuận lợi thương mại.
Thứ ba, thúc đẩy sự phát triển nền kinh
tế số, nền kinh tế không chạm.
Để
phát triển kinh tế số, cần kết hợp thực thi các giải pháp phát triển kết cấu hạ
tầng của nền kinh tế số và triển khai các chính sách thay đổi thói quen sử dụng
tiền mặt. Bên cạnh đó, có những giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp/cá nhân tham gia xây dựng nội dung số, đặc biệt trong bối cảnh việc xây
dựng nội dung số cũng chịu tác động tiêu cực từ quy định giãn cách vì phòng,
chống dịch bệnh; thực hiện các giải pháp bảo đảm an ninh mạng.
Thứ tư,
triển khai các gói hỗ trợ cho doanh nghiệp.
Các
doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhóm dễ tổn thương trước các cú sốc từ bên ngoài,
như cú sốc dịch bệnh. Trong khi đó, các doanh nghiệp này lại là nhóm tạo nhiều
việc làm cho nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, các quốc gia trên thế giới thường
thiết kế chính sách riêng cho nhóm doanh nghiệp này, tập trung vào:
-
Kết hợp giữa giảm bớt tình trạng doanh nghiệp gặp khó khăn trên diện rộng và
thúc đẩy cấu trúc lại các doanh nghiệp, với các biện pháp cụ thể, gồm: Hỗ trợ
nguồn lực nhằm khôi phục vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp gặp khó
khăn, khuyến khích các giải pháp cấu trúc lại nợ, nâng cao hiệu quả của
các thủ tục thanh lý, phá sản (nhằm phân bổ lại nguồn lực hiệu quả từ các doanh
nghiệp kém hiệu quả sang các doanh nghiệp hiệu quả hơn).
-
Đối tượng thụ hưởng chính sách phải được xác định cụ thể, thường là những doanh
nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi đại dịch.
-
Thông tin chính sách cần minh bạch và kịp thời để doanh nghiệp sớm tiếp cận.
-
Nội dung chính sách hướng đến là thúc đẩy sự phổ biến công nghệ và kiến thức,
bảo đảm rằng lợi ích của chuyển đổi kỹ thuật số được chia sẻ giữa các doanh
nghiệp và người lao động. Thúc đẩy tinh thần kinh doanh, tạo một môi trường
kinh doanh năng động. Hỗ trợ người lao động, nhất là nhóm yếu thế, chuyển đổi
sang công việc, việc làm mới./.
Các quyết sách của Việt Nam rất đúng đắn
Trả lờiXóa