TCCS
- Cạnh tranh địa - chính trị giữa các cường quốc ngày càng quyết liệt, tác động
lớn đến cục diện chính trị toàn cầu, dẫn tới nguy cơ cao các nước rơi vào “bẫy
địa - chính trị”, trong đó Đông Nam Á được xem là một trong những địa bàn quan
trọng. Các nhà lãnh đạo Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã sớm nhận
thấy và bước đầu tích cực triển khai các biện pháp nhằm ngăn chặn nguy cơ các
nước trong khu vực rơi vào “bẫy địa - chính trị”.
“Địa - chính trị’ và “bẫy địa - chính trị”
Khái niệm “địa -
chính trị” phản ánh sự phân tích các ảnh hưởng địa lý đối với các mối quan hệ
quyền lực trong quan hệ quốc tế. Những triết lý về tác động chính trị của địa
lý đã xuất hiện trong tư tưởng chính trị phương Tây sớm nhất từ thời kỳ Hy Lạp
cổ đại.
Vào cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX, các cuộc tranh luận phần lớn tập trung vào tác động đối với
chính trị thế giới của các cuộc cách mạng công nghiệp. Trong đó, nổi lên như
An-phrét Thay-ơ Ma-han (Alfred Thayer Mahan, Mỹ) với “thuyết sức mạnh biển”,
Hâu-pho Mác-kin-đơ (Halford Mackinder, Anh) với “thuyết sức mạnh trên đất
liền”... Năm 1897, nhà địa lý người Đức Phri-đơ-rích Rát-deo (Friedrich Ratzel)
cho rằng địa - chính trị bắt nguồn từ địa lý chính trị với “thuyết tổ chức nhà
nước” của ông và lý thuyết “không gian sinh tồn” được đưa ra sau đó. Đến năm
1899, Ru-đôn-phơ Ca-dơ-lân (Rudolf Kjellén) đã mô tả địa - chính trị là “lý
thuyết về quốc gia như một thực thể hoặc hiện tượng địa lý trong không gian”(1).
Ở Đức, A. Hít-le trong thời kỳ Đế chế thứ ba đã sử dụng lý thuyết về “không
gian sinh tồn” làm cơ sở để phát động Chiến tranh thế giới thứ hai. Đối với C.
Hau-sô-phơ, cha đẻ của địa - chính trị Đức, “địa - chính trị là khoa học quốc
gia mới về quốc gia,... một học thuyết về tính quyết định không gian của tất cả
quá trình chính trị, dựa trên nền tảng rộng lớn của địa lý, đặc biệt là địa lý
chính trị”(2). Gioóc-phrây Pác-cơ (Geoffrey Parker) cho rằng, địa -
chính trị là “nghiên cứu về quan hệ quốc tế từ góc độ không gian hoặc địa lý”(3),
trong khi Giôn A-gơ-niu (John Agnew) định nghĩa lĩnh vực này là “kiểm tra các
giả định, chỉ định và hiểu biết về địa lý tham gia quá trình hình thành chính
trị thế giới”(4). Bên cạnh đó, phân tích lịch sử của T. Ma-han(5) về
sự trỗi dậy của đế quốc Anh là điểm khởi đầu cho cuộc tranh luận địa - chính
trị. Ông lập luận rằng, việc kiểm soát các tuyến đường biển có ý nghĩa quyết
định bởi xu hướng thương mại hàng hải và tài sản thuộc địa được kiểm soát bởi
một quốc gia hàng hải có vị trí tốt. Với sự ra đời của đường sắt, H. Mác-kin-đơ(6) cho
rằng sức mạnh trên đất liền sẽ lấn át sức mạnh trên biển. Thông qua lý thuyết
“vùng trung tâm” của mình, vốn tập trung vào các khu vực nội địa rộng lớn của Á
- Âu có thể tiếp cận bằng đường sắt, H. Mác-kin-đơ lập luận bất kỳ quốc gia nào
có thể kiểm soát vùng trung tâm sẽ kiểm soát chính trị thế giới và do đó gây ra
mối đe dọa cho một đế chế trên toàn thế giới. Ngược lại, theo N. Xpai-cơ-men(7),
khu vực “ngoại vi” (rimland) của Á - Âu, trải dài theo hình lưỡi liềm từ châu
Âu đến Đông Á, có xu hướng thống nhất trong tay một quốc gia và quốc gia kiểm
soát nó sẽ có khả năng thống trị thế giới. Sự phổ biến của lý thuyết địa -
chính trị đã giảm sau Chiến tranh thế giới thứ hai do sự xuất hiện của vũ khí
hạt nhân và tên lửa đạn đạo đã làm giảm tầm quan trọng của các yếu tố địa lý
trong cán cân quyền lực chiến lược toàn cầu. Tuy nhiên, địa - chính trị tiếp
tục ảnh hưởng đến chính trị quốc tế, làm cơ sở cho chiến lược ngăn chặn (chủ
yếu là ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản) của Mỹ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh,
được phát triển bởi Gioóc-giơ Ken-nân (George Kennan)(8) như
một chiến lược địa - chính trị nhằm hạn chế sự mở rộng tầm ảnh hưởng của Liên
Xô. Các nhà địa lý chính trị cũng bắt đầu mở rộng khái niệm địa - chính trị,
bao gồm các yếu tố kinh tế cũng như quân sự. Trong thời kỳ đương đại, địa -
chính trị thường tập trung vào các quan niệm cụ thể về quyền lực góp phần vào
sự ổn định của quốc gia và hệ thống quốc tế(9). Địa - chính trị hiện
đại đã phát triển qua năm giai đoạn: cuộc chạy đua giành quyền bá chủ của đế
quốc, địa - chính trị Đức, địa - chính trị Mỹ, Chiến tranh lạnh - lấy quốc gia
làm trung tâm so với địa lý phổ quát và thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh. Cho đến nay,
quan niệm về địa - chính trị còn nhiều tranh cãi và có nhiều trường phái khác
nhau. Theo Giáo sư kinh tế Giép-phrây Đa-vít Sác (Jeffrey D. Sachs) của Đại học
Cô-lôm-bi-a (Mỹ)(10), hiện nay có ít nhất năm lý thuyết chính về địa
- chính trị. Ba lý thuyết đầu tiên là các biến thể của Lý thuyết ổn định bá
quyền. Lý thuyết thứ tư là trường phái của chủ nghĩa hiện thực quốc tế. Lý
thuyết thứ năm về chủ nghĩa đa phương dựa trên tầm quan trọng ưu việt của hợp
tác toàn cầu để giải quyết các vấn đề toàn cầu cấp bách. Do đó, nghiên cứu về
lý thuyết địa - chính trị được xem là “mê cung” đối với giới học thuật. Tuy
nhiên, có hai cách hiểu cơ bản về khái niệm “địa - chính trị”: 1- Địa -
chính trị cổ điển, trường phái này tập trung vào mối quan hệ qua lại
giữa lợi ích lãnh thổ và quyền lực của nhà nước và môi trường địa lý. Các học
giả và chính trị gia thường cho rằng địa lý là cố định và mang tính quyết định,
định hình mạnh mẽ các lựa chọn chính trị của các nhà lãnh đạo; 2- Địa -
chính trị phê phán, có xu hướng tập trung nhiều hơn vào vai trò của diễn
ngôn và ý thức hệ. Vì vậy, thay vì khái niệm hóa địa lý là bất định, địa lý
được coi là linh hoạt hơn và có thể được giải thích. Nếu địa - chính trị cổ
điển tập trung vào lãnh thổ, tài nguyên và vị trí, thì các cách tiếp cận phê
phán lại tập trung vào cách thức tương tác giữa con người và vật chất tạo ra
“địa - chính trị”.
Mặc dù chưa có sự
thống nhất khái niệm về địa - chính trị, song có thể khái quát: địa - chính trị
là cuộc đấu tranh giành quyền kiểm soát các “thực thể địa lý” với quy mô toàn
cầu, và việc sử dụng các thực thể địa lý đó vì lợi ích chính trị. Có thể thấy,
địa - chính trị là cách thức mà quyền lực chính trị được liên kết với không
gian địa lý. Nhưng ngày nay, địa - chính trị thường được sử dụng rộng rãi để chỉ
chính trị quốc tế và thậm chí là các khía cạnh của chính trị trong nước, đặc
biệt khi chính sách tác động đến quan hệ giữa các quốc gia.
Khái niệm “bẫy địa -
chính trị” là thuật ngữ phát triển từ khái niệm địa - chính trị và thiên về yếu
tố nguy cơ của địa - chính trị, do các quốc gia tạo ra có chủ đích (chủ yếu là
các nước lớn) trong các vấn đề chính trị quốc tế. Cho đến nay, trong giới học
thuật chưa có định nghĩa cụ thể nào về “bẫy địa - chính trị”. Tuy nhiên, có thể
hiểu “bẫy địa - chính trị” là khi một quốc gia rơi vào “nguy cơ” hay “rủi ro”
địa - chính trị dẫn đến phải trả giá cho nguy cơ đó, thậm chí quốc gia đó có
thể rơi vào xung đột và cao nhất là chiến tranh. Một số trường hợp bẫy địa -
chính trị hiện nay trên thế giới có thể kể đến, như cuộc xung đột Nga -
U-crai-na, khủng hoảng Thổ Nhĩ Kỳ - Hy Lạp, căng thẳng chính trị hai bờ eo biển
Đài Loan (Trung Quốc)(11).
Gần với khái niệm
“bẫy địa - chính trị” là khái niệm về nguy cơ hay rủi ro địa - chính trị. Rủi
ro địa - chính trị được hiểu là những nguy cơ tiềm ẩn về chính trị, kinh tế,
quân sự và xã hội có thể xuất hiện khi một quốc gia tham gia vào các hoạt động,
hợp tác quốc tế. Thông thường, chúng xuất hiện bất cứ khi nào có sự thay đổi
lớn về quyền lực, xung đột hoặc khủng hoảng. Những rủi ro này có thể có tác
động mạnh mẽ đến chính quốc gia đó và thế giới. Có nhiều yếu tố có thể góp phần
gây ra rủi ro địa - chính trị, chẳng hạn như sự bất ổn về kinh tế, quan hệ
chính trị đối ngoại hay sức mạnh quân sự của quốc gia đó. Trong những năm gần
đây, tiến trình toàn cầu hóa góp phần làm trầm trọng thêm những rủi ro này
thông qua gia tăng tính liên kết của các nền kinh tế - xã hội trên thế giới.
Hậu quả tiềm ẩn của rủi ro địa - chính trị có thể là tích cực hoặc tiêu
cực, một mặt, rủi ro có khả năng gây ra sự bất ổn về kinh tế và
chính trị, từ đó có thể dẫn đến bạo lực và xung đột; mặt khác, có
thể thúc đẩy đổi mới và sáng tạo khi các quốc gia nỗ lực giảm thiểu rủi ro. Rủi
ro địa - chính trị thường khó dự đoán theo cách này vì nó phụ thuộc vào cách
thức mà các quốc gia phản ứng.
Nguy
cơ “bẫy địa - chính trị” ở Đông Nam Á và hàm ý đối với Việt Nam
Nhìn tổng thể, nguy
cơ về rủi ro địa - chính trị ngày càng hiện hữu ở khu vực Đông Nam Á khi cạnh
tranh địa - chính trị ngày càng gia tăng giữa các nước lớn. Đông Nam Á nói
chung là một trong những khu vực nhạy cảm về địa - chính trị, là “vùng trũng”
an ninh của thế giới, do đó các nước trong khu vực phải đối diện với các nguy
cơ an ninh và mâu thuẫn chính trị - an ninh ngày càng lớn. Việc các nước lớn
gia tăng tranh giành ảnh hưởng địa - chính trị sẽ tạo sức ép đối với các quốc
gia trong khu vực và nguy cơ các nước trở thành đối tượng của “chiến tranh ủy
nhiệm” là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Khi một quốc gia trở thành công cụ địa
- chính trị trong chiến lược cạnh tranh của các nước lớn thì rõ ràng quốc gia
đó sẽ rơi vào “bẫy địa - chính trị”, nhất là khi các nước lớn sử dụng chiến lược
kiềm chế, ngăn chặn, hoặc gia tăng sức ép buộc các nước nhỏ trong khu vực phải
liên kết với bên thứ ba nhằm chống lại sức ép đó. Chính vì vậy, việc tránh nguy
cơ “bẫy địa - chính trị” là vấn đề quan trọng nhằm duy trì không gian sinh tồn
và phát triển đối với các quốc gia Đông Nam Á.
Từ kinh nghiệm lịch
sử, các nước Đông Nam Á luôn phải đề phòng trước sự can dự hoặc cạnh tranh của
các cường quốc bên ngoài. ASEAN phải lường trước những kịch bản xấu nhất, đó là
buộc phải tham gia vào cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn hoặc sự thống trị của
các nước lớn với cái giá phải trả là lợi ích của ASEAN(12). Khi
ASEAN được thành lập vào năm 1967, khu vực này đã phải đối mặt với một loạt
thách thức rất khác so với hiện nay bởi Đông Nam Á một lần nữa nổi lên như một
địa bàn trọng điểm trong cạnh tranh địa - chính trị giữa các cường quốc. Khoảng
cách địa lý gần gũi với Trung Quốc đã khiến Đông Nam Á trở thành mục tiêu tự
nhiên cho những nỗ lực của nước này nhằm mở rộng lợi ích địa - chính trị của
mình, bao gồm cả việc khẳng định các yêu sách lãnh thổ với việc gia tăng sức
mạnh quân sự ở Biển Đông và bảo vệ Sáng kiến “Vành đai, Con đường” (BRI)(13).
Trong khi đó, Mỹ tiếp tục duy trì hệ thống đồng minh theo mô hình “trục và nan
hoa” ở châu Á - Thái Bình Dương, mà hiện tại là “trục và nan hoa +” (mạng lưới
đồng minh và đối tác).
Không chỉ vậy, ASEAN
đang phải đối mặt với nguy cơ về sự thiếu đoàn kết nội bộ. Nếu không có sự cải
tổ, các quốc gia thành viên của khối có thể trở thành tâm điểm trong bối cảnh
cạnh tranh chiến lược của các nước lớn. Khi căng thẳng giữa các nước lớn gia
tăng, ASEAN chịu sức ép từ cả hai bên, cũng như bị chi phối bởi các lợi ích,
phải chọn bên và đánh mất vai trò trung tâm trong khu vực(14). Nếu
mâu thuẫn địa - chính trị giữa các nước lớn vượt tầm kiểm soát thì có thể đẩy
khu vực Đông Nam Á vào “bẫy địa - chính trị”. Kịch bản “Chiến tranh
lạnh mới” giả định rằng, khi mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ xấu đi, cuộc
xung đột kéo dài giữa Trung Quốc và Mỹ có thể tạo ra một thế giới bị phân cực
tương tự như Chiến tranh lạnh. Một thế giới như vậy sẽ khiến nhiều quốc gia nằm
giữa các phạm vi ảnh hưởng và có thể dẫn đến các xung đột ủy nhiệm hay còn gọi
là chiến tranh ủy nhiệm(15).
Điều đáng lo ngại
nhất của các quốc gia Đông Nam Á hiện nay đối với cục diện địa - chính trị khu
vực theo như đánh giá của Thủ tướng Ma-lai-xi-a Ma-ha-thia Mô-ha-mét năm 2019,
đó là về xung đột quân sự có thể phát sinh từ những nỗ lực của Mỹ nhằm triển
khai sức mạnh hải quân ở Biển Đông nhằm đối phó với sự hiện diện ngày càng gia
tăng của Trung Quốc(16). Theo học giả Pi-tơ T.C. Chang, Đông Nam Á
coi Trung Quốc là một thách thức, nhưng không phải là mối đe dọa hiện hữu như
Mỹ nhìn nhận về Trung Quốc. Những nỗ lực của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc có
nguy cơ lôi kéo thế giới vào chiến tranh(17). Theo đó, việc gây áp
lực buộc các nước Đông Nam Á lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc có thể tạo nguy cơ
làm suy giảm vai trò của Mỹ tại khu vực, bởi phần lớn các quốc gia Đông Nam Á
coi cạnh tranh nước lớn là nhân tố gây bất ổn đối với cục diện chính trị khu
vực. Các nhà lãnh đạo trong khu vực dường như đều không muốn bị buộc phải lựa
chọn giữa Trung Quốc và Mỹ. Năm 2019, Thủ tướng Xin-ga-po Lý Hiển Long đã cảnh
báo cả Trung Quốc và Mỹ không nên cố chia rẽ Đông Nam Á hoặc gây áp lực cho các
nhà lãnh đạo của khu vực này. Ông nhấn mạnh, các sáng kiến hợp tác khu vực có
thể củng cố các thỏa thuận hợp tác hiện có lấy ASEAN làm trung tâm. Những sáng
kiến này không được “tạo ra các khối đối thủ, khoét sâu thêm các đường đứt gãy
hoặc buộc các nước phải đứng về bên nào”(18). Tại Trung tâm nghiên
cứu chiến lược và quốc tế Hoa Kỳ (CSIS), trước thềm Hội nghị Cấp cao đặc biệt
ASEAN - Hoa Kỳ (tháng 5-2022), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định,
“trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn,
Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải
trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc”(19).
Ngày 14-7-2023, Tổng thống In-đô-nê-xi-a Giô-cô Uy-đô-đô nhấn mạnh rằng, ASEAN
sẽ không trở thành “đấu trường cạnh tranh” hay lực lượng ủy nhiệm cho bất kỳ
quốc gia nào, đồng thời kêu gọi tôn trọng luật pháp quốc tế một cách nhất quán(20).
Vậy, ASEAN và các
quốc gia thành viên, trong đó có Việt Nam, làm thế nào để tránh nguy cơ rơi vào
“bẫy địa - chính trị”? Mục tiêu của các quốc gia ASEAN cần duy trì đó là thúc
đẩy một khu vực vì sự hợp tác chứ không phải là khu vực của cạnh tranh giữa các
nước lớn. ASEAN cần vận dụng kinh nghiệm trong việc ứng phó với các nước lớn,
phải cùng nhau hành động để bảo đảm khu vực sẽ được hưởng lợi từ cả Mỹ và Trung
Quốc. Điều này sẽ làm giảm nguy cơ các nước trong khu vực đối diện với “bẫy địa
- chính trị”.
Ngoài ra, ASEAN cần
nỗ lực duy trì chính sách cân bằng hoặc chính sách phòng ngừa rủi ro, đồng thời
thực hiện phương châm “không chọn bên” trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nước
lớn. Do vậy, bên cạnh việc không ngừng củng cố vai trò trung tâm của mình, các
nước ASEAN không chỉ tập trung vào Mỹ và Trung Quốc, mà còn cả các quốc gia tầm
trung. Điều này được xem là yếu tố then chốt để ASEAN cũng như các quốc gia
thành viên không bị cuốn vào vòng xoáy chiến lược của các nước lớn. Trung lập
và không liên kết là con đường phía trước của khối(21).
Cạnh tranh địa -
chính trị gay gắt giữa các nước lớn hiện nay làm gia tăng nguy cơ với các quốc
gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, rơi vào “bẫy địa chính trị”.
Thứ
nhất, rủi ro địa - chính trị sẽ khó tránh khỏi nếu các
nước lớn, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc “lựa chọn” Đông Nam Á trở thành nơi cọ
xát địa - chính trị và các bên đều không ngừng tiến hành các hành động cứng rắn
tại khu vực, trong đó có Biển Đông; đồng thời, các bên có thể có những tính
toán sai lầm và rơi vào “bẫy Thucydides”(22). Điều đó sẽ khiến Việt
Nam và các quốc gia Đông Nam Á có thể sẽ rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan về
mặt an ninh, nguy cơ làm suy giảm, thậm chí mất đi sự tự chủ về mặt chiến lược.
Do đó, việc buộc phải “chọn bên” trong đối đầu giữa các nước lớn, hoặc là nơi
ủy nhiệm cho một bên nào đó (như cách nói của Tổng thống In-đô-nê-xi-a Gi.
Uy-đô-đô) là điều đặc biệt nghiêm trọng đối với các nước trong khu vực.
Thứ
hai, cạnh tranh địa - chính trị giữa các nước lớn ở
trạng thái nguy hiểm khi các nước lớn, nhất là giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng
các hành động cạnh tranh theo mô hình “trò chơi có tổng bằng không”, mà thiếu
vắng yếu tố hợp tác tại khu vực. Điều này sẽ đặt các nước nhỏ trong khu vực rơi
vào “hiểm cảnh” hay thế tiến thoái lưỡng nan. Do vậy, nỗ lực chống chính trị
cường quyền và ý định của các nước lớn muốn sử dụng khu vực Đông Nam Á thành
địa bàn cạnh tranh địa chiến lược, đồng thời gia tăng yếu tố đối thoại và hợp
tác giữa các nước tại khu vực; chủ động và tích cực trong việc bảo vệ luật pháp
quốc tế và nâng cao chính nghĩa, thúc đẩy thượng tôn luật pháp quốc tế chính là
yếu tố then chốt để các nước trong khu vực bảo vệ quốc gia trước rủi ro ngày
càng gia tăng của cạnh tranh địa - chính trị giữa các cường quốc hiện nay.
Trong bối cảnh cạnh
tranh địa - chính trị phức tạp hiện nay, để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc,
tránh rơi vào thế kẹt trong quan hệ giữa các nước lớn, Việt Nam tiếp tục kiên
trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ
quốc tế, thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”; coi ASEAN là một trong
những yếu tố có tính “nền tảng” trong chính sách đối ngoại và tích cực ủng hộ
vai trò trung tâm của ASEAN - phương cách bảo đảm tương lai phát triển của
khối, cũng như củng cố vai trò, vị trí và tiếng nói của các quốc gia thành
viên; đề cao chủ nghĩa đa phương, tiếp tục gia tăng hợp tác với các quốc gia
tầm trung, như Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a,...; đẩy mạnh “tự chủ
chiến lược”, gia tăng “sức đề kháng” trong bối cảnh cạnh tranh địa - chính trị
ngày càng phức tạp, khó dự báo như hiện nay.
Tóm
lại, hiện nay cạnh tranh địa - chính
trị ngày càng phức tạp, khó dự báo, rủi ro địa - chính trị ngày càng gia tăng
và “bẫy địa - chính trị” ngày một rõ nét, đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông,
khiến ASEAN và các nước thành viên dễ lâm vào tình thế buộc phải chọn bên khi
căng thẳng Mỹ - Trung Quốc gia tăng và vượt tầm kiểm soát. Trước bối cảnh đó,
việc kiên trì thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN, cũng như chính sách trung
lập trong quan hệ quốc tế có thể giúp các quốc gia trong khu vực tránh bị cuốn
vào xung đột địa - chính trị quốc tế hiện nay./.
(Nguồn:
Báo Nhân dân)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét