Tên gọi các chữ cái phải được thống nhất Trong bảng chữ cái của mỗi nước, từng chữ cái đều có một tên gọi duy nhất, được xếp theo thứ tự của một hệ thống nhất định, để áp dụng thống nhất mọi lúc, mọi nơi trong mọi trường hợp. Dưới thời Pháp thuộc, bảng chữ cái Quốc ngữ Việt Nam được đọc tên chữ cái tương tự như Alphabet Pháp (a-bê-xê…), cách đánh vần cũng giống như trong tiếng Pháp: tên chữ cái ghép với nhau thành từ (xê-hát-a-cha, em(ờ)-e-me-nặng-mẹ…), nên tên chữ cái cũng luôn thống nhất trong mọi trường hợp.
Nhưng trong phong trào “Bình dân học vụ” sau Cách mạng tháng Tám, hệ thống tên chữ cái Quốc ngữ được đổi để gọi theo âm (a-bờ-cờ…), cách đánh vần cũng đổi theo cách ghép âm (a-i-ai-trờ-ai-trai, a-i-ai-gờ-ai-gai-sắc-gái…). Tuy nhiên, cách đọc chữ mới này chỉ được áp dụng cho học sinh tập ghép vần ở lớp đầu tiểu học; còn tất cả các cấp học khác trong nhà trường, hệ thống tên các chữ cái cũ (a-bê-xê…) vẫn được sử dụng trong tất cả các môn học. Như vậy là đã có sự lẫn lộn giữa hai hệ thống tên chữ cái ngay trong nhà trường.
Trên các phương tiện truyền thông, sự lẫn lộn đó còn nghiêm trọng hơn. Tên gọi tắt của các nhóm nước như G7, G8, G20… được các xướng ngôn viên Đài Truyền hình Trung ương (VTV) đọc là “gờ bảy”, “gờ tám”, “gờ hai mươi”; trong khi bạn đồng nghiệp của họ ở Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) đọc là “giê bảy”, “giê tám”, “giê hai mươi”… Đáng ngạc nhiên là, khi gặp chữ GM (tên viết tắt của công ti Mĩ nổi tiếng General Motors), chính những người của VTV lại đọc là “giê em”chứ không phải “gờ mờ”!
Tương tự, chữ GDP (viết tắt của “tổng sản phẩm quốc nội”), họ cũng đọc là “giê đê pê” (hoặc “gi đi pi”) chứ không phải “gờ dờ pờ”!
Giữa lúc hai hệ thống tên chữ tiếng Việt song song tồn tại, thì sự xâm nhập mạnh mẽ của tiếng Anh vào tiếng Việt đã làm cho vấn đề trở nên phức tạp thêm.
Đối với một số chữ viết tắt từ tiếng Anh, nhiều người đã dùng luôn tên chữ tiếng Anh để đọc cho người Việt nghe!
Thật rõ ràng, việc các chữ trong cùng một bảng chữ cái luôn được đọc bằng những tên gọi khác nhau ở từng nơi từng lúc đã làm cho tiếng Việt trở nên thiếu chặt chẽ và kém chính xác. Vậy, làm cách nào để bảng chữ cái tiếng Việt chỉ còn một hệ thống tên chữ cái duy nhất áp dụng ở mọi lúc mọi nơi?
Giải pháp của Bộ Giáo dục và Đào tạo (công bố năm 2003) là: hệ thống “a-bê-xê” được khẳng định là hệ thống tên chữ để sử dụng khi đọc từng chữ cái riêng biệt; còn hệ thống “a-bờ-cờ” là hệ thống âm của các chữ dùng để ghép vần. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa “âm” và “tên” chữ là rất trừu tượng, khó có thể phân biệt rạch ròi. Do vậy, cả nhà trường và giới truyền thông vẫn mặc nhiên sử dụng lẫn lộn cả hai hệ thống tên chữ như chưa hề có giải pháp này. Vì vậy, có lẽ sử dụng trở lại hệ thống a-bê-xê để ghép vần bằng chữ sẽ là giải pháp thỏa đáng hơn. [6, tr.223-231].
3.2.2. Cần điều chỉnh và bổ sung bảng chữ cái Quốc ngữ Việt Bảng chữ cái tiếng Việt hiện hành bao gồm 29 chữ cái, trong đó có 7 chữ được chế tạo riêng cho tiếng Việt, bằng cách “đội mũ thêm râu” cho các chữ cái Latin gốc, là Ă, Â, Đ, Ê, Ô, Ơ, Ư.
Nếu chỉ sử dụng để ghép vần, đọc, viết hay biên soạn Từ điển, thì sự tồn tại của những chữ đó trong bảng chữ cái không có vấn đề gì. Nhưng trong những công dụng khác của nó, thì bảng chữ cái lại có vấn đề phát sinh từ 7 chữ này.
Khi cần sắp xếp một hệ thống nào đó theo vần chữ cái, người ta hoàn toàn loại bỏ 7 chữ đó. Chẳng hạn, trong việc ghi kí hiệu các hạng ghế của hội trường, nhà hát, rạp chiếu bóng, sân vận động hay một số phương tiện giao thông.
Khi cần trình bày các luận điểm theo thứ tự vần chữ cái, người ta cũng thản nhiên bỏ qua những chữ đó. Trong các môn học ở nhà trường, khi cần dùng bảng chữ cái để trình bày các kí hiệu hay công thức, những chữ này cũng không bao giờ được áp dụng. Nếu xét trên góc độ ngôn ngữ học, việc 7/29 tức gần ¼ số chữ cái không được sử dụng trong các trường hợp nêu trên đã cho thấy sự không bình thường của bảng chữ cái chính thức:
7 chữ nêu trên không được coi là bình đẳng với những chữ khác. Thêm nữa, bảng chữ cái tiếng Việt có thêm 7 chữ “biến thể” nêu trên, nhưng lại không có 4 chữ khác là F, J, W và Z.
Việc giám mục Alexandre de Rhodes loại bỏ F để thay bằng vần PH, loại bỏ J để thay bằng GI và loại bỏ Z để thay bằng D, rồi lại phải tạo ra chữ Đ để thay cho D là điều khó hiểu. Căn cứ vào tiếng Việt hiện hành, có thể nhận thấy dùng F thay cho PH, dùng J thay cho GI và dùng Z thay cho D sẽ thuận tiện và hợp lí hơn.
Mặt khác, trong nhà trường và ngoài xã hội, người Việt Nam đang sử dụng rất nhiều cả 4 chữ cái mà giám mục Alexandre de Rhodes đã loại bỏ. Đã từ lâu, nhà trường quen với “lực F”, thang nhiệt độ F, với nguyên tố hóa học Flo hay kí hiệu của sắt là Fe, với “Kỉ Jura”, các kí hiệu công suất điện W và KW, nguyên tố Wolfram, nguyên tố Zn, các đơn vị KHz và MHz, ẩn số x-y-z… Trong xã hội, 4 chữ cái này còn được dùng nhiều hơn nữa trong các chữ viết tắt như HUFLIT FPT, TOEFL, VFF, FIFA, UEFC, AFC, FIBA, FIDE, TFS, FAFIM, FAHASA, UNICEF, FAO, IMF, FBI, FM, WTO, WHU, WC, Z751, Z755,Z25…; trong các từ ngoại nhập như máy fax, đèn flash, các cửa hàng cafe hay bánh flan, võ judo, quần jeans, nhạc jazz… Trong các thuật ngữ chuyên môn khoa học - kĩ thuật và công nghệ thông tin, 4 chữ cái này còn được dùng nhiều hơn nữa.
Được dùng rất nhiều trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, F, J, W và Z đã trở thành các chữ cái thông dụng trong tiếng Việt, nhưng chúng không hiện diện trong bảng chữ cái tiếng Việt. Sự bất cập khi sử dụng 7 chữ “đội mũ thêm râu” và việc thiếu sót 4 chữ F, J, W và Z đòi hỏi phải cải tiến bảng chữ cái Quốc ngữ Việt Nam. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cải tiến bảng chữ cái và cách ghép vần theo một quan điểm xác đáng [7, tr.57-61]. Phát triển quan điểm đó, giải pháp cải tiến có thể là bổ sung 4 chữ còn thiếu, bỏ chữ Đ để dùng D thay cho Đ, rồi dùng Z thay cho D hiện hành;
6 chữ “đội mũ thêm râu” còn lại sẽ đặt vào một vị trí phụ trong bảng. Theo đó, bảng chữ cái cải tiến có thể trình bày như sau (với 26 chữ cơ bản và 6 phụ chú trong dấu ngoặc): A (Ă, Â), B, C, D, E (Ê), F, G, H, I, J, K, L, M, N, O (Ô, Ơ), P, Q, R, S, T, U(Ư), V, W, X, Y, Z. Bảng chữ cái này sẽ được áp dụng nhất quán, chính xác và hợp pháp mọi lúc, mọi nơi trong mọi trường hợp./.
Yêu nước ST.





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét