Nhiều năm qua, Việt Nam
luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đồng thời
thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức
phân biệt chủng tộc (CERD). Việt Nam đã bốn lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc
gia thực thi Công ước CERD. Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo cáo quốc
gia CERD 5, qua đó khẳng định những thành tựu trong công tác nhân quyền nói
chung và bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số nói riêng.
Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức
phân biệt chủng tộc (CERD) được thông qua và để ngỏ cho các quốc gia ký, phê
chuẩn theo Nghị quyết số 2106 A (XX) ngày 21/12/1965 của Đại Hội đồng Liên hợp
quốc. Công ước CERD ra đời với mục tiêu lên án, tiến tới xóa bỏ nạn phân biệt
chủng tộc, đồng thời xác lập nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên phải áp dụng
mọi biện pháp cần thiết và không trì hoãn các chính sách nhằm loại trừ các hình
thức phân biệt dựa trên chủng tộc, mầu da, dòng dõi, dân tộc hoặc gốc người thiểu
số.
Trong phần mở đầu, Công ước CERD khẳng
định: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và có quyền được pháp
luật bảo vệ một cách bình đẳng để chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử hay bất
kỳ sự kích động phân biệt đối xử nào”; đồng thời chỉ rõ: “Các quốc gia thành
viên cam kết sẽ cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm
bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng
tộc, màu da, nguồn gốc quốc gia hay sắc tộc” (Điều 5).
Nội dung của Công ước CERD có nhiều điểm
tương đồng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Việt Nam. Ngay từ
khi mới khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam) tại bản Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội thông qua đã xây dựng
trên các nguyên tắc: Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai,
giai cấp, tôn giáo; bảo đảm các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh
mẽ và sáng suốt của nhân dân.
Trên cơ sở đó, Hiến pháp 1946 khẳng định:
Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh
tế, văn hóa (Điều thứ 6); tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp
luật, đều được tham gia chính quyền và công cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và
đức hạnh của mình (Điều thứ 7); ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân
thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung (Điều
thứ 8).
Trải qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam ngày càng hoàn thiện, trong đó việc xóa
bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm và
bảo đảm tính thực thi. Tại Điều 5 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống
trên đất nước Việt Nam.
Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn
trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân
tộc. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ
viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và
văn hóa tốt đẹp của mình.
Nhà nước thực hiện chính sách phát triển
toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát
triển với đất nước”. Đồng thời, các quy định về bình đẳng, không phân biệt
chủng tộc được tiếp tục cụ thể hóa trong các văn bản luật, các chính sách, mục
tiêu quốc gia,… và triển khai đồng bộ ở mọi lĩnh vực nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho các nhóm dân tộc thiểu số phát triển bình đẳng trong đại gia đình các
dân tộc Việt Nam.
Chính sự tương đồng về quan điểm, mục
tiêu bảo vệ quyền con người nói chung, xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
nói riêng nên từ năm 1982, Việt Nam đã gia nhập Công ước CERD. Từ đó đến nay,
Việt Nam luôn thực hiện nghiêm túc các nội dung của Công ước CERD; tích cực
triển khai thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm bảo đảm, thúc đẩy quyền
của đồng bào dân tộc thiểu số.
Trong các năm 1983, 1993, 2000 và 2012,
Việt Nam đã bốn lần bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia thực thi Công ước CERD.
Điều này cho thấy những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong thực hiện Công ước
CERD, đặc biệt là việc bảo đảm quyền của các dân tộc thiểu số như xóa đói, giảm
nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới…
Năm 2023, Việt Nam tiếp tục xây dựng Báo
cáo quốc gia CERD 5 gửi đến Ủy ban Công ước và được xếp lịch bảo vệ tại kỳ họp
thứ 111 của Ủy ban (dự kiến tháng 11 và 12/2023). Thông tin về Báo cáo quốc gia
CERD 5, bà Trần Chi Mai - Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Ủy ban Dân tộc cho
biết báo cáo được xây dựng toàn diện trên cơ sở ý kiến đóng góp của các cơ quan
Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các cơ quan Đảng, Quốc hội, các tổ chức
chính trị-xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và
người dân.
Cụ thể trong Báo cáo CERD 5 tập trung thể
hiện kết quả Việt Nam thực thi Công ước CERD từ năm 2013-2019, tập trung vào
các nội dung: Hệ thống pháp luật Việt Nam và các thiết chế bảo đảm, thúc đẩy
quyền của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam; định nghĩa phân biệt chủng tộc
và đánh giá sự phù hợp của định nghĩa phân biệt chủng tộc trong các điều luật
của Việt Nam; vai trò quan trọng của công tác dân tộc và thực hiện các chính
sách dân tộc trong việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; kết quả thực
hiện các cam kết cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và bảo
đảm quyền bình đẳng trước pháp luật của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam;
các biện pháp bảo đảm cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam không phải chịu bất
cứ hành động phân biệt chủng tộc.
Với những nội dung nêu trên, có thể khẳng
định Báo cáo quốc gia CERD 5 sẽ cung cấp cho cộng đồng quốc tế một bức tranh
khá toàn cảnh về vấn đề chống phân biệt chủng tộc ở Việt Nam, từ những biện
pháp lập pháp, hành chính, tư pháp cũng như các biện pháp khác mà Việt Nam đã
xây dựng, triển khai cho đến kết quả tổ chức thực hiện các biện pháp đó trong
giai đoạn từ năm 2013 đến 2019 nhằm bảo vệ quyền con người, chống các hành vi
kỳ thị, phân biệt về chủng tộc tập trung vào người dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Báo cáo CERD 5 được trình bày và bảo vệ
tại Ủy ban Công ước sẽ là cơ hội để Việt Nam tuyên truyền về những thành tựu
bảo vệ nhân quyền nói chung và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
đối với người dân tộc thiểu số nói riêng. Với một quốc gia có tới 53/54 là dân
tộc thiểu số thì việc bảo đảm quyền cho đồng bào dân tộc thiểu số có ý nghĩa
hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Đồng thời cũng qua Báo cáo CERD 5, hình
ảnh đất nước, con người Việt Nam thuận hòa, đoàn kết, gắn bó, đề cao ý thức
tuân thủ pháp luật sẽ được lan tỏa đến cộng đồng quốc tế, nhằm tăng cường sự
hiểu biết và thúc đẩy các quan hệ hợp tác. Từ hiện thực sinh động, thuyết phục
này sẽ góp phần bác bỏ những luận điệu vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù
địch, thiếu thiện chí đối với Việt Nam, nhất là trong vấn đề thực hiện các
chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Đáng buồn là thời gian qua, trên một số
diễn đàn mạng xã hội và trong một bộ phận dân cư vẫn xuất hiện những quan điểm,
ý kiến lạc lõng, sai sự thật về cái gọi là “kỳ thị dân tộc”, “phân biệt đối xử
với đồng bào dân tộc thiểu số” ở Việt Nam.
Nguy hiểm hơn, các đối tượng chống phá,
thù địch thường xuyên lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào, các
tranh chấp, khiếu kiện, những vấn đề do lịch sử để lại,… coi đây là mục tiêu để
tấn công, hòng khoét sâu những bất đồng, mâu thẫu, kích động tư tưởng dân tộc
cực đoan. Địa bàn được các đối tượng chống phá nhắm đến là khu vực Tây Bắc, Tây
Nguyên và Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Như ở
khu vực Tây Bắc, các đối tượng chống phá dựng lên cái gọi là “Vương quốc Mông”,
và đưa ra yêu sách về “quyền tự trị”.
Còn ở Tây Nguyên, các đối tượng rêu rao
“Tây Nguyên là của người Thượng”, “người Kinh cướp đất của đồng bào trên chính
quê hương của mình” từ đó kích động “đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên phải liên
kết lại đuổi người Kinh về xuôi”. Tương tự ở Tây Nam Bộ, các đối tượng kích
động người dân tộc Khmer ly khai thành lập “Nhà nước Khơme Krôm độc lập”.
Song song đó, các đối tượng còn lôi kéo,
dụ dỗ, tổ chức các hoạt động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm
cho đời sống của đồng bào mất ổn định; từ đó rêu rao Việt Nam phân biệt chủng
tộc, vi phạm nhân quyền, kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Không
khó để nhận diện âm mưu của các đối tượng chống phá, thù địch này là hòng chia
rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà
nước, kích động bạo loạn, lật đổ chế độ.
Thực tế này cho thấy các thế lực thù địch
chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, thủ đoạn chống phá núp dưới chiêu bài kỳ thị dân
tộc, phân biệt chủng tộc hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Đặc biệt, việc
kích động, chống phá trên không gian mạng được chúng triệt để khai thác để tỏa
“chân rết” đi đến các vùng miền, xâm nhập vào các cộng đồng người dân tộc thiểu
số, tác động theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, hết sức nguy hiểm.
Thực tế này đòi hỏi các cấp ủy đảng,
chính quyền địa phương, cũng như các tổ chức đoàn thể cần tiếp tục thực hiện
tốt các chính sách dân tộc, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của nhân dân, nhất là đồng bào khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh
đó, các cơ quan chức năng cần phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm
theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng có hành vi chống phá, kích
động phân biệt chủng tộc.
Người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc
thiểu số cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo
của Đảng, Nhà nước, không tin, nghe theo sự lôi kéo, dụ dỗ của người khác để
thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Mỗi người dân cần phát huy tinh thần
trách nhiệm, kịp thời phát hiện những biểu hiện tiêu cực trong cộng đồng để báo
cáo tới cơ quan chức năng làm rõ.
Sự phối hợp đồng bộ của cả hệ thống chính
trị và người dân sẽ tạo khối đoàn kết gắn bó chặt chẽ, hiệu quả, giúp ngăn chặn
hiệu quả và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các đối tượng xấu.
(Nguồn:
Báo Nhân dân)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét