Thứ Tư, 11 tháng 1, 2023

Quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội

 

Quan điểm, nguyên tắc:

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo Cương lĩnh và các quan điểm, chủ trương của Đảng về tổ chức, hoạt động của Quốc hội; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà Hiến pháp, pháp luật quy định.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cần đi đôi với đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội và đặt trong tổng thể yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị theo phương châm thực hiện từng bước, có lộ trình hợp lý, phù hợp.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng tuân thủ nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đổi mới trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tiễn của Việt Nam và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng; bảo đảm phát triển bền vững trong tương lai.

Mục tiêu:

Mục tiêu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là nhằm xây dựng Quốc hội vì nhân dân, thực sự đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, phát huy dân chủ, pháp quyền, khoa học, tăng tính chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030 và định hướng đến năm 2045; cụ thể là:

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để thực hiện hiệu quả hơn nữa chức năng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, vừa bảo đảm phát huy vai trò của Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, vừa bảo đảm dân chủ trong hoạt động của Quốc hội. Tăng tính chuyên nghiệp, phát huy dân chủ, tính pháp quyền trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong khuôn khổ Hiến pháp; xác định rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phương thức hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội theo hướng rành mạch, chủ động, trách nhiệm, chuyên sâu, chuyên nghiệp, tăng tính nghiên cứu khoa học, nhạy bén, bao quát được hiệu lực hoạt động, đề xuất được sáng kiến nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội. Chất lượng hoạt động lập pháp được nâng cao, đổi mới quy trình, đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thực chất hơn; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát. Tăng tính công khai, minh bạch, bảo đảm thực hiện chức năng đại diện của nhân dân; đổi mới hình thức hoạt động của Quốc hội; xây dựng Quốc hội điện tử. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và cơ chế bảo vệ Hiến pháp, bảo đảm các nguyên tắc pháp quyền trong hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện bộ máy giúp việc khoa học, chủ động, chuyên nghiệp, chuyên sâu.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm xây dựng Quốc hội khoa học, hiện đại, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch, dân chủ, hướng tới hoạt động thường xuyên, thực sự vì nhân dân, là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; thực hiện đầy đủ, chuyên nghiệp chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy và nhân sự cấp cao của các cơ quan nhà nước, hiến định vị trí, vai trò của Hội đồng bầu cử quốc gia, của cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Phát huy vị trí, vai trò trung tâm của đại biểu Quốc hội; xây dựng hệ thống pháp luật khoa học, đồng bộ, thống nhất, ổn định, khả thi, công khai, minh bạch, thúc đẩy sáng tạo, bền vững, ứng phó kịp thời trước những chuyển biến nhanh của thực tiễn và hội nhập quốc tế sâu rộng, bảo đảm giữ vững quốc phòng - an ninh trong điều kiện mới.

HAIVAN

LỊCH SỬ NƯỚC TA!

Dân ta phải biết sử ta,
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.
Kể năm hơn bốn ngàn năm,
Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hoà.

Hồng Bàng là tổ nước ta.
Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang.
Thiếu niên ta rất vẻ vang,
Trẻ con Phù Đổng tiếng vang muôn đời.
Tuổi tuy chưa đến chín mười,
Ra tay cứu nước dẹp loài vô lương.
An Dương Vương thế Hùng Vương,
Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân.
Triệu Đà là vị hiền quân,
Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.
Nước Tàu cậy thế đông người,
Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam.
Quân Tàu nhiều kẻ tham lam,
Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?
Hai Bà Trưng có đại tài,
Phất cờ khởi nghĩa giết người tà gian,
Ra tay khôi phục giang san,
Tiếng thơm dài tạc đá vàng nước ta.
Tỉnh Thanh Hoá có một bà,
Tên là Triệu Ẩu tuổi vừa đôi mươi,
Tài năng dũng cảm hơn người,
Khởi binh cứu nước muôn đời lưu phương.
Phụ nữ ta chẳng tầm thường,
Đánh Đông, dẹp Bắc làm gương để đời,
Kể gần sáu trăm năm giời,
Ta không đoàn kết bị người tính thôn.
Anh hùng thay ông Lý Bôn,
Tài kiêm văn võ, sức hơn muôn người,
Đánh Tàu đuổi sạch ra ngoài.
Lập nên Triều Lý sáu mươi năm liền.
Vì Lý Phật Tử ngu hèn,
Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.
Thương dân cực khổ xót xa,
Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu,
Vì dân đoàn kết chưa sâu,
Cho nên thất bại trước sau mấy lần.

Ngô Quyền quê ở Đường Lâm,
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.
Đến hồi Thập nhị sứ quân,
Bốn phương loạn lạc, muôn dân cơ hàn.
Động Hoa Lư có Tiên Hoàng,
Nổi lên gây dựng triều đàng họ Đinh.
Ra tài kiến thiết kinh dinh,
Đến vua Phế Đế chỉ kinh hai đời.
Lê Đại Hành nối lên ngôi.
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành.
Vì con bạo ngược hoành hành,
Ra đời thì đã tan tành nghiệp vương.
Công Uẩn là kẻ phi thường,
Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta.
Mở mang văn hoá nước nhà,
Đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân.
Lý Thường Kiệt là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh,
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Họ Lý truyền được chín đời,
Hai trăm mười sáu năm giời thì tan.

Nhà Trần thống trị giang san,
Trị yên trong nước, đánh tan địch ngoài,
Quân Nguyên binh giỏi tướng tài:
Đánh đâu được đấy, dông dài Á, Âu,
Tung hoành chiếm nửa Âu châu,
Chiếm Cao Ly, lấy nước Tàu bao la,
Lăm le muốn chiếm nước ta,
Năm mươi vạn lính vượt qua biên thuỳ,
Hải quân theo bể kéo đi,
Hai đường vây kín Bắc Kỳ như nen.
Dân ta nào có chịu hèn,
Đồng tâm, hợp lực mấy phen đuổi Tàu.
Ông Trần Hưng Đạo cầm đầu,
Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang,
Mênh mông một giải Bạch Đằng,
Nghìn thu soi rạng giống dòng quang vinh,
Hai lần đại phá Nguyên binh,
Làm cho Tàu phải thất kinh rụng rời.
Quốc Toản là trẻ có tài,
Mới mười sáu tuổi ra oai trận tiền,
Mấy lần đánh thắng quân Nguyên,
Được phong làm tướng cầm quyền binh nhung.
Thật là một đấng anh hùng,
Trẻ con Nam Việt nên cùng noi theo.
Đời Trần văn giỏi võ nhiều,
Ngoài dân thịnh vượng, trong triều hiền minh.
Mười hai đời được hiển vinh,
Đến Trần Phế Đế nước mình suy vi.

Cha con nhà Hồ Quý Ly,
Giết vua tiếm vị một kỳ bảy niên.
Tình hình trong nước không yên,
Tàu qua xâm chiếm giữ quyền mấy lâu,
Bao nhiêu của cải trân châu,
Chúng vơ vét chở về Tàu sạch trơn.

Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn,
Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn.
Mấy phen sông Nhị núi Lam,
Thanh gươm yên ngựa Bắc, Nam ngang tàng.
Kìa Tuý Động nọ Chi Lăng,
Đánh hai mươi vạn quân Minh tan tành.
Mười năm sự nghiệp hoàn thành,
Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan.
Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.
Vua hiền có Lê Thánh Tông,
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành.

Trăm năm truyền đến cung hoàng,
Mạc Đăng Dung đã hoành hành chiếm ngôi.
Bấy giờ trong nước lôi thôi,
Lê nam, Mạc bắc rạch đôi san hà,
Bảy mươi năm nạn can qua.
Cuối đời mười sáu Mạc đà suy vi.
Từ đời mười sáu trở đi,
Vua Lê, Chúa Trịnh chia vì khá lâu.
Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau,
Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng.

Dân gian có kẻ anh hùng,
Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn,
Đóng đô ở đất Quy Nhơn,
Đánh tan Trịnh, Nguyễn, cứu dân đảo huyền.
Nhà Lê cũng bị mất quyền,
Ba trăm sáu chục năm truyền vị vương.
Nguyễn Huệ là kẻ phi thường,
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu,
Ông đà chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng.
Cho nên Tàu dẫu làm hung,
Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà.
Tướng Tây Sơn có một bà,
Bùi là nguyên họ, tên là Thị Xuân,
Tay bà thống đốc ba quân,
Đánh hơn mấy trận, địch nhân liệt là.
Gia Long lại dấy can qua,
Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài.
Tự mình đã chẳng có tài,
Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây.
Nay ta mất nước thế này,
Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà,
Khác gì cõng rắn cắn gà,
Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si.
Từ năm Tân Hợi trở đi,
Tây đà gây chuyện thị phi với mình.
Vậy mà vua chúa triều đình,
Khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan.
Nay ta nước mất nhà tan
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn.
Năm Tự Đức thập nhất niên,
Nam Kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây.
Hăm lăm năm sau trận này,
Trung Kỳ cũng mất, Bắc Kỳ cũng tan,
Ngàn năm gấm vóc giang san,
Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!
Tội kia càng đắp càng đầy,
Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng.

Nước ta nhiều kẻ tôi trung,
Tấm lòng tiết nghĩa rạng cùng tuyết sương.
Hoàng Diệu với Nguyễn Tri Phương,
Cùng thành còn mất làm gương để đời.
Nước ta bị Pháp cướp rồi,
Ngọn cờ khởi nghĩa nhiều nơi lẫy lừng;
Trung Kỳ đảng Phan Đình Phùng
Ra tay đánh Pháp, vẫy vùng một phương.
Mấy năm ra sức Cần Vương,
Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên,
Giang san độc lập một miền,
Ông Hoàng Hoa Thám đất Yên tung hoành.
Anh em khố đỏ, khố xanh,
Mưu khởi nghĩa tại Hà thành năm xưa,
Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa,
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn.
Kìa Yên Bái, nọ Nghệ An
Hai lần khởi nghĩa tiếng vang hoàn cầu.
Nam Kỳ im lặng đã lâu,
Năm kia khởi nghĩa đương đầu với Tây.
Bắc Sơn đó, Đô Lương đây!
Kéo cờ khởi nghĩa, đánh Tây bạo tàn.

Xét trong lịch sử Việt Nam,
Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng.
Nhiều phen đánh bắc dẹp đông,
Oanh oanh liệt liệt con Rồng cháu Tiên.
Ngày nay đến nỗi nghèo hèn,
Vì ta chỉ biết lo yên một mình.
Để người đè nén, xem khinh,
Để người bóc lột ra tình tôi ngươi!
Bây giờ Pháp mất nước rồi,
Không đủ sức, không đủ người trị ta.
Giặc Nhật Bản thì mới qua,
Cái nền thống trị chưa ra mối mành.
Lại cùng Tàu, Mỹ, Hà, Anh,
Khắp nơi có cuộc chiến tranh rầy rà.
Ấy là nhịp tốt cho ta,
Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông.
Người chúng ít, người mình đông
Dân ta chỉ cốt đồng lòng là nên.
Hỡi ai con cháu Rồng Tiên!
Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau.
Bất kỳ nam nữ, nghèo giàu,
Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn.
Người giúp sức, kẻ giúp tiền,
Cùng nhau giành lấy chủ quyền của ta.
Trên vì nước, dưới vì nhà,
Ấy là sự nghiệp, ấy là công danh.
Chúng ta có hội Việt Minh
Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh
Mai sau sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh!

Những năm quan trọng:

Trước Tây lịch
-2879 - Hồng Bàng
-111 - Tàu lấy nước ra lần đầu

Sau Tây lịch
40 - Hai Bà Trưng đánh Tàu
248 - Bà Triệu ẩu khởi nghĩa
544 - Vua Lý đánh Tàu
603 - Tàu lấy nước ta
939 - Vua Ngô khởi nghĩa
968 - Đời vua Đinh (12 năm)
981 - Đời vua Tiền Lê (29 năm)
1010 - Đời vua Hậu Lý (215 năm)
1073 - Lý Thường Kiệt đánh Tàu
1225 - Đời vua Trần (175 năm)
1283 - Trần Hưng Đạo đánh Tàu
1407 - Tàu lấy nước ta
1427 - Vua Lê khởi nghĩa
1543 - Đời vua Hậu Lê (360 năm)
1545 - Vua Lê Chúa Trịnh
1771 - Đời vua Tây Sơn (24 năm)
1789 - Vua Nguyễn Huệ đánh Tàu
1794 - Gia Long thông với Tây
1847 - Tây bắt đầu đánh nước ta
1862 - Vua nhà Nguyễn bắt đầu hàng Tây
1889 - Ông Đề Thám khởi nghĩa
1893 - Ông Phan Đình Phùng khởi nghĩa
1916 - Trung Kỳ khởi nghĩa
1917 - Thái Nguyên, Sầm Nưa khởi nghĩa
1930 - Yên Bái, Nghệ An khởi nghĩa
1940 - Bắc Sơn và Đô Lương khởi nghĩa
1941 - Nam Kỳ khởi nghĩa
1945 - Việt Nam độc lập

Đầu năm 1942
Hồ Chí Minh

Để giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân, phát huy lòng tự hào về lịch sử vẻ vang của dân tộc, động viên toàn dân đoàn kết và tham gia Mặt trận Việt Minh làm cách mạng, giành độc lập cho Tổ quốc, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc trong thời gian hoạt động ở Cao Bằng đã sáng tác bài diễn ca Lịch sử nước ta theo thể thơ lục bát, gồm 210 câu và một bảng ghi “Những năm quan trọng” kèm theo. Bộ Tuyên truyền của Việt Minh xuất bản và phát xuống cơ sở vào tháng 2-1942.

Nội dung Lịch sử nước ta ca ngợi những trang sử vẻ vang của dân tộc từ thời Hồng Bàng dựng nước đến năm 1942 khi tác phẩm ra đời, ca ngợi sự nghiệp chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập dân tộc, các anh hùng tiêu biểu. Qua tác phẩm, tác giả khẳng định truyền thống quý báu của dân tộc: yêu nước, đoàn kết, anh hùng. Truyền thống yêu nước đó đang được nhân dân tiếp tục phát huy trong giai đoạn chống thực dân Pháp với những tấm gương anh hùng tiêu biểu.

Tác phẩm viết bằng thể thơ lục bát, dễ đọc, dễ nhớ. Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, nó có tác dụng lớn trong việc tuyên truyền, giáo dục nhân dân, góp phần cổ vũ nhân dân đoàn kết, hăng hái tham gia cách mạng và tăng lòng tin vững chắc vào thắng lợi của cách mạng.
Nguồn:
1. Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000
2. Tổng tập Văn học Việt Nam (tập 38), NXB Khoa học Xã hội, 2000./.
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh xem bia ghi danh các Tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam (29-1-1960).
Yêu nước ST.

Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội


Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các hình thức, phương pháp, cách thức, quy chế, quy định, quy trình, phong cách, lề lối làm việc mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo, nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết của Đảng, để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định rõ phương thức lãnh đạo của Đảng, tập trung vào các nội dung chính là: Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ; Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội được triển khai, tổ chức nghiên cứu trên cơ sở các nội dung nêu trên. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Thông qua luật và nghị quyết, Quốc hội thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Đại hội XIII của Đảng xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị... Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền, tăng tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao”.

Đại hội XIII của Đảng đề ra yêu cầu đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội, đặt trong tổng thể nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thực hiện Chương trình công tác toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, Hội nghị Trung ương 6 đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 9-11-2022, “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới” và Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17-11-2022, “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”, trong đó đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng gắn với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong sự đổi mới tổng thể tổ chức bộ máy nhà nước.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa quyết định trong việc định hướng và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Thực tiễn những năm qua cho thấy, vai trò lãnh đạo của Đảng với Quốc hội trong thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng ngày càng rõ ràng, hạn chế sự chồng lấn, bao biện, làm thay. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội thể hiện ở việc xác định đúng vai trò, vị trí của Quốc hội, đề ra định hướng cơ bản, phát huy dân chủ, tăng cường vai trò chủ động, sáng tạo và tạo điều kiện thuận lợi để Quốc hội hoàn thành tốt nhiệm vụ.

HAIVAN

NGƯỜI ANH HÙNG PHI CÔNG ĐẶC BIỆT HIẾM CÓ TRÊN THẾ GIỚI

 

"...Tên Bảy, con thứ 7, đi bộ đội lúc 17 tuổi, học văn hóa 7 ngày lên 7 lớp, 7 lần bắn rơi 7 máy bay Mỹ bằng máy bay Mig 17, được phong Anh hùng năm 1967...".

Nhìn gương mặt và ánh mắt này, có lẽ chúng ta hiểu được phần nào những người lính của một đội quân chẳng hề biết sợ bất cứ kẻ thù nào. Dù đó có là ai !

P/s: Cố Đại tá, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Bảy, chưa ai lái Mig 17 mà bắn rơi nhiều máy bay hơn ông.# ST Trường Tồn

Chiến thắng Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không: Những con số biết nói

 Trong trận Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không, những phương tiện chiến tranh tối tân bậc nhất đương thời đã thất bại trước sức mạnh to lớn của ý chí Việt Nam, nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Trong trận Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không, những phương tiện chiến tranh tối tân bậc nhất đương thời đã thất bại trước sức mạnh to lớn của ý chí Việt Nam, nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam.

ST

Phong tục Lì xì may mắn


 Lì xì ngày đầu năm là nét văn hóa đặc sắc trong Tết Nguyên đán. Mặc dù cách đón Tết nay và Tết xưa đã có ít nhiều thay đổi, nhưng tục lệ này vẫn sẽ luôn được gìn giữ và trở thành một phần không thể thiếu trong dịp Tết của người Việt Nam.

Gia đình

 



Con người được sinh ra ở vạch số 0 và xây dựng, hoàn thiện bản thân dựa trên nhiều yếu tố, khía cạnh khác nhau của cuộc sống. Một yếu tố quan trọng làm nuôi dưỡng tâm hồn con người chính là tình cảm mà gốc rễ tình cảm là tình cảm gia đình.

Đào nở, Tết đã về!


Bàn về ngày lễ ở Việt Nam, không thể quên nhắc đến Tết. Nhắc đến Tết không thể quên nồi bánh chưng và cành mai, cành đào. Hình ảnh hoa đào, hoa mai đã trở thành linh hồn của ngày Tết. Nói đến mai là miền Nam rực rỡ sắc vàng, còn đào lại là sắc hồng thắm của miền Bắc. Hoa đào đã trở thành nét riêng của miền Bắc Việt Nam.

CHÚNG TA ĐI CON ĐƯỜNG CỦA MÌNH MỘT CÁCH ĐỘC LẬP VÀ SÁNG TẠO

 Chúng ta đi con đường của mình một cách độc lập và sáng tạo bằng những phương pháp và những biện pháp riêng của mình trên đường lớn nhân loại.

KẾ LY GIÁN – CHIÊU TRÒ ĐỐN MẠT CỦA CHỦ NGHĨA XÉT LẠI

 Nhằm hạ bệ tượng đài, đặc biệt là những tượng đài vĩ đại – anh hùng dân tộc, đám lật sử có chiêu thức rất khốn nạn như thế này: đó là đem so sánh tượng đài đó với một tượng đài khác lừng lẫy không kém, và nói rằng hai người xung đột lý niệm với nhau. Chúng

ĐÃ CÓ MỘT BỘ PHẬN KHÔNG NHỎ "NGƯỜI VIỆT NAM ĐANG LÃNG QUÊN QUÁ KHỨ " !


Tổng thống Nga Putin nói : " khi người ta không hiểu biết gì về Lịch sử, người ta sẵn sàng viết lại Lịch sử và sẵn sàng xuyên tạc Lịch sử".

TỰ HÀO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM

 Với quy mô kinh tế ngày càng tăng, quyền lực mềm và sức ảnh hưởng được công nhận rộng rãi, Việt Nam giữ vững vị thế trong top 30 quốc gia hùng mạnh nhất thế giới năm 2022, theo xếp hạng của hãng US News & World Report.

SỰ SẮP ĐẶT “NGẪU NHIÊN” CỦA TẠO HOÁ!

Một sự trùng hợp đến khó hiểu trong lịch sử Việt Nam - đó là sự xuất hiện cùng lúc của hai người phụ nữ kỳ tài tại Miền Nam Việt Nam trong những năm tháng chống Mỹ ,cứu nước ...


THÔNG ĐIỆP BÍ MẬT QUA THƠ CỦA BÁC HỒ


Ngay sau khi ra tù, để phục hồi thể lực, Bác Hồ kiên trì tập luyện: Tập khí công, tập bơi, tập leo núi,... tích cực chuẩn bị ngày lên đường trở về Tổ quốc thân yêu. Ngày Bác được tự do là ngày 10-9-1943; dự đoán bài thơ "Mới ra tù, tập leo núi" được Bác viết vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 10 năm 1943. Chữ "tân" trong nhan đề bài thơ cho ta niềm tin khẳng định đó.

Khi Bác đã trèo lên tận đỉnh ngọn núi cao. Bác đã xúc động viết bài thơ này:

"Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,

Giang tâm như kính tịnh vô trần;

Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh,

Dao vọng Nam thiên, ức cố nhân".

Dịch là:

“Núi ấp ôm mây, mây ấp núi

Lòng sông gương sáng bụi không mờ

Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh

Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa”

Bác đã ghi bài thơ vào rìa một tờ báo Trung Quốc, kèm theo dòng chữ: "Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng công tác. Ở bên này bình yên". Bài thơ không chỉ mang tính chất "đưa tin" một cách bí mật mà còn mang ý nghĩa của một văn kiện lịch sử của Cách mạng Việt Nam. Theo hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết, hồi ấy các yếu nhân của Tổng bộ Việt Minh tại căn cứ địa Cách mạng Cao -Bắc - Lạng vô cùng phấn khởi khi nhận được bài thơ này và đã phái người đi đón Bác./.

 

CHUYỆN VIÊN GẠCH HỒNG SƯỞI ẤM BÁC GIỮA MÙA ĐÔNG

 


Rất nhiều người Việt Nam biết đến câu thơ "Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả mùa băng giá" nói về giai đoạn Bác Hồ ở Paris trong bài thơ "Người đi tìm hình của nước" của nhà thơ Chế Lan Viên. Nhưng ít ai biết đến câu chuyện thú vị về loại gạch đặc biệt được nhắc đến trong bài thơ này.

“NGƯỜI LÍNH KHÔNG SỢ CHẾT, NHƯNG AI CŨNG MUỐN VỀ VỚI GIA ĐÌNH”!

Đó là câu nói của Đại tá Trương Hồng Anh quê ở huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Năm 16 tuổi khi còn học trung học, Ông đã bỏ vào chiến khu, nhập ngũ vào Sư đoàn 2/QK5.

DÀNH CHO NHỮNG AI CHƯA BIẾT THẾ NÀO LÀ “THUYẾT ÂM MƯU”

 Hiện nay, trong đời sống xã hội cũng như trên cộng đồng mạng, chúng ta thường bắt gặp cụm từ “thuyết âm mưu”. Vậy, thuyết âm mưu là gì và bản chất của nó như thế nào mà được nhiều người quan tâm như vậy? Thuyết âm mưu có phải là học thuyết hay là lý thuyết không?

Hội thảo trá hình - biểu hiện cần sớm ngăn chặn

 Chưa có con số thống kê đầy đủ, nhưng chắc chắn hằng năm ở nước ta đều đặn tổ chức hàng nghìn cuộc hội thảo diễn ra ở các cấp, các ngành, địa phương...

LỪA ĐẢO ĐỔI TIỀN TRÊN MẠNG XÃ HỘI – HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT



Hàng năm mỗi dịp cận Tết, nhu cầu đổi tiền mới dường như đã trở thành thói quen trong quan niệm của mỗi người Việt, đi kèm theo đó là các dịch vụ mời chào từ các trang

NHẬN DIỆN BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ CÁC HÀNH VI BẠO LỰC GIA ĐÌNH.


 Gia đình là mái ấm của hạnh phúc, cái nôi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ thơlà nơi tiếp cho ta sức mạnh và niềm tin để vững bước trên đường đời, là chỗ dựa vững chắc để ta có thể dựa vào khi yếu đuối, và là nơi luôn chào đón mỗi lần ta quay về.

HÃY CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ LỢI DỤNG KHÔNG GIAN MẠNG ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY.



Như chúng ta biết trong những năm gần đây sự bùng nổ của cuộc cách mạng 4.0 một cách nhanh chóng với lợi ích mà mỗi chúng ta không thể phủ nhận, qua đó từng

NHẬN DIỆN UY TÍN GIẢ

 Ở bất kỳ xã hội nào thì uy tín của cá nhân luôn được coi trọng và đó cũng chính là thước đo giá trị của con người. Uy tín của một cá nhân được tập thể và xã hội khẳng định trên

XỬ LÝ NGHIÊM CÁC HÀNH VI THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

 


Cách đây 3 - 4 năm, khi cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trở thành phong trào, không còn tình trạng " dưới lạnh " nữa thì có cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở vài thành phố nói rằng : thi hành kỷ luật như

KIÊN QUYẾT LOẠI BỎ NHỮNG NGƯỜI VƯỚNG VÀO THAM NHŨNG, HƯ HỎNG



Năm 2022, Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị được đẩy mạnh, tăng cường, kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn giữa " xây " và " chống ". Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu

 

Cán bộ nghiêm khắc với chính mình theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên một cách toàn diện về bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và phong cách công tác.

Với quan niệm, "Cán bộ là tướng của đoàn thể", "là gốc của mọi công việc"; "là nhịp cầu nối liền giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân", "là sợi dây chuyền của bộ máy", "là tiền vốn của đoàn thể", Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên một cách toàn diện về bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực và phong cách công tác. Chăm lo giáo dục, rèn luyện cán bộ đảng viên về ý thức tự giác tu dưỡng rèn luyện bản thân, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi người phải thực hiện nghiêm khắc với chính mình.

Cán bộ nghiêm khắc với chính mình theo tư tưởng Hồ Chí Minh - 1

Bác Hồ với các cán bộ (Ảnh tư liệu)

 

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh 

về hòa bình

Tư tưởng của Hồ Chí Minh trong lĩnh vực đối ngoại mang đậm dấu ấn truyền thống ngoại giao của dân tộc, đó là tư tưởng hòa bình, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển giữa các dân tộc.

Với vị trí địa - văn hóa giao thoa nên trong suốt chiều dài lịch sử của mình, Việt Nam đã tiếp xúc và giao lưu với nhiều nền văn hóa và văn minh.

Nắm bắt sự chuyển biến của thời đại

Cũng do vị trí chiến lược về địa - chính trị, Việt Nam thường xuyên phải tiến hành các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm mà kẻ thù luôn là các thế lực hùng mạnh và hung hãn. Liên tục trải qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và chịu nhiều hậu quả nặng nề của chiến tranh, Việt Nam là quốc gia hơn ai hết hiểu thế nào là giá trị của hòa bình.

 

"Kiểm soát khéo, bao nhiêu 
khuyết điểm lòi ra hết"

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc khi nói về "Cách lãnh đạo", Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định "Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết".

Nội dung này đề cập đến phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng là kiểm tra, giám sát. Quan điểm của Người mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết - 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh tư liệu).

 

Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa tương lai

Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại được bàn nhiều, sâu và rộng như hiện nay. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi văn hóa lâm nguy còn đáng sợ hơn Tổ quốc lâm nguy.

Văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất, như Đại văn hào Mácxim Goócky đã nói. Điều có ý nghĩa chân lý đó bị chúng ta bỏ quên quá lâu. Hãy trở về với Hồ Chí Minh, con người đã tỏa ra một nền văn hóa tương lai.

Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa tương lai - 1

Nhân dân thủ đô Vácxava nhiệt liệt hoan nghênh Hồ Chủ tịch sang thăm nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan (1957).

 

Phát huy vai trò Cựu Chiến binh trong báo chí về xây dựng, chỉnh đốn Đảng


Trong đội ngũ những người làm báo tâm huyết với nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, hiện nay có hàng trăm hội viên Hội Cựu chiến binh là nhà báo, hoặc cộng tác viên các cơ quan báo chí trên cả nước đang tích cực, dồn hết tâm sức cho nhiệm vụ khó khăn, phức tạp này. Nhiều cựu chiến binh tuy tuổi cao nhưng thường xuyên trăn trở với sự sống còn của Đảng.

Bác bỏ luận điệu Việt Nam không thực thi và đảm bảo nhân quyền!

Xuyên tạc sự thật việc thực thi và bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam về bản chất là cùng chung chiêu trò thâm độc để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, chống phá Đảng và chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến cùng lãnh đạo tỉnh Nghệ An đến thăm, chúc mừng lễ Giáng sinh năm 2021 tại Toà Giám mục Giáo phận Vinh. (Ảnh minh họa: TTXVN) Sau hơn 77 năm kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay, có thể khẳng định rằng nhân dân Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục được hưởng thụ ngày càng đầy đủ quyền con người theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam. Vì thế, dù các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, cơ hội cố tình xuyên tạc, bóp méo, bôi đen việc thực thi nhân quyền/quyền con người, quyền tự do, dân chủ ở Việt Nam; phao tin và cho rằng Việt Nam không xứng đáng khi đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, thì sự thật việc đảm bảo nhân quyền ở Việt Nam vẫn và luôn là không thể phủ nhận. VIỆT NAM CHÚ TRỌNG THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI Việt Nam nhận thức sâu sắc quyền con người là giá trị chung của các quốc gia, dân tộc và giá trị đó được cộng đồng quốc tế ghi nhận, được ghi rõ trong Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, vì thế tôn trọng, thực thi, bảo vệ nhân quyền là một chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Tuy Ngày Nhân quyền thế giới bắt đầu có từ 10/12/1948, nhưng quyền con người, quyền công dân của người dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được hiến định tại Hiến pháp 1946 và tiếp tục ngày càng được bổ sung, hoàn chỉnh, rõ ràng hơn, đầy đủ hơn tại các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và nhất là tại Hiến pháp 2013. Việt Nam cũng đã thông qua nhiều luật quan trọng như: Bộ luật Lao động; Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam; Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án; Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Luật Cư trú; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính... liên quan đến quyền con người, quyền công dân, phù hợp với các Công ước quốc tế, nhất là Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948. Gần nhất, năm 2021, Việt Nam tiếp tục thông qua và sửa đổi nhiều bộ luật quan trọng như Luật Phòng, chống ma túy sửa đổi; xem xét thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự. Thực tế cho thấy, việc lập Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh qua các năm luôn đảm bảo nguyên tắc ưu tiên đưa vào Chương trình các dự án luật nhằm triển khai thi hành các quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Cùng với đó, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản liên quan đến các lĩnh vực thương lượng tập thể, phòng chống phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao động cưỡng bức… Những thành tựu Việt Nam đạt được trong xây dựng hệ thống pháp luật, triển khai thực thi quyền con người; tham gia ký các công ước quốc tế, điều ước quốc tế về quyền con người và cam kết thực hiện, coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước; hoàn thành trước hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và đang tích cực triển khai thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDG)... nhất là đóng góp của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền (với chu kỳ III, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc, trách nhiệm 82,6% các khuyến nghị đã chấp thuận) và việc khởi động tiến trình Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV là thêm một minh chứng cho thấy không phải Việt Nam “sợ nhân quyền”, “không thực thi nhân quyền” mà là luôn chú trọng đảm bảo nhân quyền, quyền công dân cho người dân. Hằng năm, nhân dịp Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước đều ký Quyết định đặc xá tha tù trước thời hạn cho những phạm nhân có quá trình cải tạo tốt. Đây không chỉ là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà còn thể hiện sự nghiêm minh trong xét xử người phạm tội đi liền với sự khoan hồng, nhân đạo đối với những phạm nhân đã cải tạo tốt để trở lại làm người có ích cho xã hội. Bên cạnh đó, việc xem xét đặc xá cho những trường hợp có quốc tịch nước ngoài được thực hiện công bằng, minh bạch không chỉ góp phần làm cho cộng đồng quốc tế nhận thức rõ hơn về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam mà còn thúc đẩy, tăng cường mối quan hệ song phương với các nước có công dân được đặc xá. Ở Việt Nam, quyền dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của người dân ngày càng được bảo đảm tốt hơn. Trong đó, tự do báo chí được thể hiện, với việc cả nước có khoảng 800 cơ quan báo chí (hơn 100 báo có hoạt động báo điện tử; hơn 600 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập; 67 đài phát thanh, truyền hình với 182 kênh) và 18.000 nhà báo được cấp thẻ, khoảng 5.000 phóng viên; 60 nhà xuất bản và 20 cơ quan báo chí nước ngoài có phóng viên thường trú tại Việt Nam… Nói quyền tự do Internet, sử dụng mạng xã hội thì Việt Nam đang đứng top đầu thế giới như We Are Social & Hootsuite đã thống kê về chỉ số tiếp cận internet: “Việt Nam có tới 150 triệu kết nối mobile; khoảng 70 triệu người dùng internet; 58 triệu tài khoản sử dụng Facebook. Hạ tầng 3G/4G đã phủ sóng 99,8% dân cư và internet cáp quang đã tới 98% số phường, xã”(1). Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo và được khẳng định tại các bản Hiến pháp. Việc phát triển hệ thống báo chí, truyền thông không chỉ góp phần nâng cao dân trí và mức sống văn hóa của xã hội mà còn góp phần lan tỏa những thông điệp đúng đắn, sâu sắc, toàn diện trong cộng đồng để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. Việt Nam hiện có 42 tổ chức thuộc 15 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 95% dân số có tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó các tôn giáo sống hòa hợp trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và được Nhà nước tạo điều kiện cho in ấn, phát hành kinh sách… Đặc biệt, việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo khuôn khổ pháp lý để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân... Việt Nam cũng luôn tham gia tích cực, chủ động và trách nhiệm tại các diễn đàn đa phương quốc tế về quyền con người như: Phiên họp cấp cao và các Khóa họp thường kỳ trong năm 2022 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (Geneva, Thụy Sỹ); đồng chủ trì thúc đẩy thông qua bằng đồng thuận Nghị quyết về “Biến đổi khí hậu và quyền lương thực” với số nước đồng bảo trợ cao tại Khoá 50 Hội đồng Nhân quyền (tháng 7/2022); tham gia các cuộc họp của Uỷ ban 3 Đại hội đồng Khoá 74 (tháng 10 -11/2022)… và triển khai xây dựng Báo cáo thực hiện Công ước Liên hợp quốc về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR); Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn (CAT); Báo cáo lần thứ 9 thực hiện Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW); nộp và chuẩn bị bảo vệ Báo cáo Công ước về chống phân biệt đối xử (CERD); tổ chức Hội thảo quốc tế về bảo đảm quyền các nhóm dễ tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Hội thảo quốc tế nhân dịp kỷ niệm Ngày nhân quyền quốc tế và khởi động tiến trình UPR chu kỳ IV,v.v.. Việt Nam cũng đã thiết lập cơ chế bảo hộ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo Hiến pháp và các điều ước quốc tế về hợp tác lao động thông qua cơ quan đại sứ quán, lãnh sứ quán, hội người Việt Nam ở các quốc gia sở tại; phát huy thế mạnh của cộng đồng người Việt Nam hướng về xây dựng quê hương, đất nước gắn liền với việc tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại về chủ trương, đường lối, về thành tựu dân chủ, nhân quyền của Việt Nam… Thực tế, Việt Nam không chỉ ủng hộ những tư tưởng tiến bộ về quyền con người được Liên hợp quốc khẳng định trong Tuyên ngôn và các văn kiện quan trọng khác, mà còn nỗ lực xây dựng, triển khai các chính sách để bảo vệ, thúc đẩy quyền con người phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và sự quyết tâm, thực thi đó đã đạt được các kết quả nổi bật, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việc thực thi quyền con người ở Việt Nam đúng như nhận định của ông Jean - Pierre Archambault, nguyên Tổng thư ký Hội Hữu nghị Pháp - Việt khi cho rằng: “Bảo đảm tốt quyền con người là một trong những thành tựu của công cuộc Đổi mới ở Việt Nam, những kết quả đạt được trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận”. NHÂN QUYỀN NGÀY CÀNG ĐƯỢC BẢO ĐẢM DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được triển khai từ sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời: tổ chức Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội khóa I ngày 6/1/1946 theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, đoàn kết và bỏ phiếu kín để Quốc hội trao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ chính thức, thông qua Hiến pháp 1946… Sau đó, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản theo tư tưởng của Người được triển khai, vận dụng sáng tạo phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam trên tinh thần: Dựa vào dân, lấy dân làm gốc; nhân dân là nguồn gốc và chủ thể của quyền lực Nhà nước và tất cả vì lợi ích của nhân dân. Trong Nhà nước đó, các cơ quan trong tổ chức bộ máy Nhà nước và cả hệ thống chính trị đều vì nhân dân phục vụ, thực hành theo nguyên tắc “các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(2) và “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức lên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(3) như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định. Những nội dung nêu trên đều được khẳng định tại Văn kiện các kỳ Đại hội của Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), mà điểm nhấn chính là: Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, và chế độ “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ… con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”(4). Điều này cũng đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Chúng ta xây dựng “một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có” và hệ thống chính trị đó “hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người” trong tác phẩm Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực tế, việc “xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước”(5) và “thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân; tăng cường tạo đồng thuận xã hội”(6) tiếp tục là một nội dung quan trọng được khẳng định tại Đại hội XIII của Đảng. Bởi rằng, ở Việt Nam, dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (nền dân chủ cho đại đa số nhân dân lao động, phục vụ lợi ích cho đại đa số) khác với các nền dân chủ tư sản (nền dân chủ cho thiểu số, phục vụ lợi ích cho thiểu số); trong đó, nội dung cốt lõi là tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân gắn với trách nhiệm và nghĩa vụ công dân được quy đinh trong Hiến pháp. Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, dân chủ, pháp luật, kỷ cương xã hội không loại trừ, mà thống nhất biện chứng, là tiền đề phát triển của nhau nhằm phát huy mọi khả năng của con người trong vai trò làm chủ, trong việc thụ hưởng giá trị của tự do, dân chủ, được sống, được hạnh phúc… trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Trong chế độ xã hội đó, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của đất nước trên hành trình đổi mới và hội nhập quốc tế, hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Theo đó, quyền con người, quyền công dân được thực thi khi nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ (quyền bầu cử, bãi nhiệm; quyền ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước của công dân; quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân; quyền tham gia xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền giám sát đối với cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức; quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước…) theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Có thể nói, với 36 điều trong tổng số 120 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định tại Chương II, Hiến pháp năm 2013 đã không chỉ khẳng định sự nhất quán về nội dung quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong các bản Hiến pháp trước đó, mà còn thể chế hóa/luật hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân phù hợp với thực tiễn Việt Nam, với chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia. Thực tế cho thấy rằng, ở bất cứ quốc gia nào, thể chế chính trị nào mà đời sống vật chất, tinh thần người dân ngày càng được nâng cao và quyền con người, quyền công dân ngày càng được bảo đảm thì nơi đó là hạnh phúc. Cho nên, việc giới dân chủ hải ngoại hay nhóm những người mượn danh dân chủ, đấu tranh cho dân chủ xuyên tạc tình hình thực thi và đảm bảo nhân quyền ở Việt Nam; mượn các sự kiện “tù nhân lương tâm như Phạm Chí Dũng, Phạm Thị Đoan Trang, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Tư, Trịnh Bá Phương, Lê Dũng Vova, Bùi Tuấn Lâm…” để làm rùm beng trên các trang Việt Tân, Quyenduocbiet.com, TiengDan.com… và mạng xã hội chắc chắn đó không phải là “những người đang đấu tranh cho tương lai tốt đẹp của đất nước” như các thế lực thù địch ảo tưởng tự nhận. Thủ đoạn, một mặt, tô vẽ cho các “nhà báo tự do”, “nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền”, “tù nhân lương tâm”, “công dân yêu nước” hay trao các loại “giải thưởng nhân quyền”…; mặt khác xuyên tạc sự thật việc thực thi và bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam về bản chất là cùng chung chiêu trò thâm độc để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, chống phá Đảng và chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và đưa đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa. Cho nên, các luận điệu xuyên tạc sự thật mà các thế lực thù địch hay nhóm những người giả danh dân chủ, nhân quyền, đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền “vinh danh những cá nhân đã hoạt động tích cực đấu tranh cho nhân quyền của người dân Việt Nam” nhằm mục đích khuyến khích, ủng hộ và đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam như việc trao “giải thưởng nhân quyền năm 2022” cho Nguyễn Tường Thụy… chỉ là sự cổ xúy cho những người đã “làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm” nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 117, Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các hoạt động đó không phải là “sự quy tụ của những người có nhiệt huyết, trách nhiệm, hoạt động vì tình yêu đất nước và thương dân” và “bị chụp mũ cho cái tên phản động”, mà đó đích thị là các hoạt động lấy cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, nhằm gây sức ép và hạ uy tín của Việt Nam để tìm cách can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng. Cùng với đó, những luận điệu “buôn” dân chủ, “buôn” nhân quyền, cổ xúy cho những người đã, đang cam tâm chống phá Đảng và chế độ; sự tuyên truyền xuyên tạc làm rối loạn tình hình chính trị ở Việt Nam để “tụng niệm” các giá trị dân chủ tư sản phương Tây, tuyệt đối hóa tính phổ cập của quyền con người nhằm chụp mũ “Việt Nam đã vi phạm quyền cơ bản của con người”, vi phạm tự do, dân chủ… cũng chính là một trong những thủ đoạn nằm trong chiến dịch phá hoại tư tưởng, hạ thấp uy tín của Việt Nam khi Việt Nam vừa được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tại phiên họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77, ngày 11/10/2022. Trên thực tế Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, truyền thông, báo chí… đều vào cuộc, đều không ngừng nỗ lực để mỗi người dân Việt Nam được thụ hưởng đầy đủ nhất và “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”(7). Cho nên, cần phải nhận diện đúng và tiếp tục khẳng định rằng: Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhân quyền/quyền con người, quyền công dân đã được thực thi, được bảo đảm bằng Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Việc cần phải bác bỏ mọi luận điệu bôi đen, bịa đặt, xuyên tạc, thâm chí vu khống về tình hình thực thi nhân quyền ở Việt Nam của các thế lực thù địch là quan trọng và cần thiết!./.

 

Tư tưởng "người trước, súng sau" trong hoạt động quân sự 

của Hồ Chí Minh

Trong di sản mà Hồ Chí Minh để lại cho hậu thế, tư tưởng "người trước, súng sau" về giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong hoạt động quân sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới đã hiến dâng trọn đời cho nền độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam. Trong di sản mà Hồ Chí Minh để lại cho hậu thế, tư tưởng "người trước, súng sau" về giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong hoạt động quân sự có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, đang được Đảng, Nhà nước, Quân đội ta kiên định, chủ động, linh hoạt vận dụng và phát triển sáng tạo trong tình hình mới.

Tư tưởng người trước, súng sau trong hoạt động quân sự của Hồ Chí Minh - 1

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Tiểu đoàn súng máy tự hành 241 và Đại đội 1, Trung đoàn Pháo cao xạ 234 tại sân bay Bạch Mai, ngày 19-7-1965. (Ảnh tư liệu)

Cơ sở khoa học-thực tiễn để bác bỏ luận điệu “chủ nghĩa xã hội là ảo vọng”

Cơ sở khoa học-thực tiễn để bác bỏ luận điệu “chủ nghĩa xã hội là ảo vọng” Thời gian qua, trên một số diễn đàn, mạng xã hội và trang tin điện tử tiếng Việt của một số cơ quan báo chí nước ngoài, có ý kiến vẫn cố tình cho rằng, “tương lai thế giới này không có chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa xã hội là hoang tưởng”, "chủ nghĩa xã hội-đường đi không đến đích", “chủ nghĩa xã hội là ảo vọng”. Ảnh minh họa / tuyengiao.vn Những ý kiến trên mang hàm ý hoài nghi về tính hiện thực của lý tưởng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà nhân loại đang hướng tới và có dụng ý phủ nhận con đường XHCN mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, đang xây dựng và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Xu hướng xã hội hóa, dân chủ hóa là tất yếu Theo quan niệm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, CNXH trước hết và tiêu biểu là sự vận động của đời sống hiện thực theo xu hướng xã hội hóa. Nó đối lập với xu hướng tư nhân hóa của xã hội hiện tồn. Vậy, biểu hiện của “xu hướng xã hội hóa trên thực tế” là như thế nào? Đó là xu hướng ngày càng tăng lên các mối liên kết xã hội trong sản xuất như hợp tác, liên kết, phối hợp, phân công trong sản xuất hoặc dịch vụ. Thực tiễn sản xuất ngày càng mang tính chất xã hội hóa thì cách tổ chức quản lý xã hội cũng buộc ngày càng phải dân chủ hóa. Theo C.Mác, đây là những xu hướng hiện thực cơ bản cho sự ra đời của CNXH. Lý tưởng về xây dựng một xã hội trên các nguyên tắc: Công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... cũng được xây dựng và hiện thực hóa từ những xu hướng này. Thế nhưng, phải đến thế kỷ 19 thì những nhân tố cho việc định hình xu hướng xã hội hóa trên thực tiễn mới rõ ràng. Đại công nghiệp hay quá trình công nghiệp hóa hoặc các cuộc cách mạng công nghiệp là biểu hiện thực tế tiêu biểu nhất cho xu hướng này. Cùng với sự trưởng thành của phong trào công nhân, sự hình thành các đảng cộng sản, cuộc đấu tranh cho lý tưởng công bằng, bình đẳng, dân chủ, tự do... đã có thêm sự dẫn đường của lý luận CNXH khoa học. Cái tất yếu và cái tự giác hòa quyện với nhau cùng nâng tầm nhận thức và hiệu quả hành động cho nhân loại. Tính hiện thực của CNXH thể hiện ở nhiều cấp độ Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra các cấp độ hiện thực hóa của CNXH như sau: Cấp độ thứ nhất, tính hiện thực của CNXH được thể hiện qua những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa ngay trong thực tế phát triển của chủ nghĩa tư bản. Điển hình là sự phổ biến phương thức sản xuất công nghiệp, sự tăng lên các mối liên kết của nhân loại trong sản xuất, dịch vụ và sự định hình hệ thống pháp luật-công pháp quốc tế để cùng nhau giải quyết một cách công bằng, bình đẳng những vấn đề của phát triển hiện đại. Cấp độ thứ hai, tính hiện thực của CNXH thể hiện ở những phong trào, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... Thực chất là những xu hướng vận động, những cuộc đấu tranh vì tiến bộ xã hội với các mục tiêu hòa bình, độc lập, cùng phát triển trong dân chủ, công bằng và bền vững. Cấp độ thứ ba là thông qua các cuộc cách mạng xã hội, xác lập chế độ dân chủ XHCN, thông qua đó xác lập quyền làm chủ của nhân dân, chế độ kinh tế XHCN trên cơ sở công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu, phát triển nền kinh tế, thực hiện nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động... Đặc trưng chính trị của chế độ XHCN là giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo thông qua vai trò cầm quyền lãnh đạo của đảng cộng sản, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện thông qua nhà nước XHCN. Cấp độ thứ tư là sự xác lập trên thực tế hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa-chủ nghĩa cộng sản. Một xã hội mới phát triển ở trình độ rất cao cả về sản xuất dịch vụ và tổ chức quản lý, được xây dựng trên nguyên tắc “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”, con người được phát triển tự do, xã hội không còn giai cấp, không còn nhà nước, môi trường thiên nhiên được bảo vệ bền vững; hòa bình và hữu nghị trở thành quan hệ phổ biến và tất định trong quan hệ quốc tế. Loài người trên trái đất này bước vào một giai đoạn phát triển với trình độ mới: Xã hội cộng sản văn minh. Phản ánh các cấp độ phát triển của CNXH hiện thực là lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Hiện thực hóa lý luận này tiêu biểu nhất là quá trình xây dựng CNXH hiện thực trên thế giới mà khởi đầu là Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và các xu hướng đi lên CNXH hơn 100 năm qua. Trải qua khá nhiều thăng trầm, tính hiện thực của CNXH vẫn được thể hiện trên nhiều phương diện và cấp độ. CNXH hiện diện ở nhiều quốc gia là minh chứng khách quan Ở cấp độ là những nhân tố, tiền đề mang tính chất xã hội hóa, cùng với các cuộc cách mạng công nghiệp đang nối tiếp nhu cầu thúc đẩy xu hướng này, khiến cho sản xuất, dịch vụ, tiêu dùng ngày càng gắn bó. Cùng với đó là các biểu hiện mới của xã hội hóa hiện đại, như: Toàn cầu hóa, phân công và hợp tác lao động quốc tế, sự hình thành các chuỗi giá trị toàn cầu là một dây chuyền sản xuất, kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế, chế tạo, tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng. Các liên kết hợp tác, đồng thuận giữa nhiều nước trong quản trị để giải quyết các vấn đề toàn cầu cũng ngày càng được phát triển và hoàn thiện. Tất cả xác định rằng, xu thế xã hội hóa hiện nay đang rất mạnh mẽ. Ở cấp độ là những xu hướng, trào lưu XHCN hướng tới công bằng, bình đẳng, dân chủ... mà biểu hiện cụ thể là tìm tới một mô hình tổ chức xã hội khác với chủ nghĩa tư bản. Đó là sự phủ định kiểu tổ chức xã hội “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”-như nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”. Hiện nay, mô hình phát triển này đang là thực tiễn ở nhiều nước Bắc Âu và một số quốc gia phát triển khác. Ở những nước này, như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tuy vẫn còn là chế độ tư bản chủ nghĩa nhưng khá nhiều giá trị XHCN, nhân tố XHCN đã và đang được tích lũy. Giá trị xã hội, lợi ích xã hội, mục tiêu xã hội, ý nghĩa xã hội của các hoạt động rất được xem trọng và được coi như những nhân tố hữu cơ của các quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Những thành quả ấy trước hết là kết quả cuộc đấu tranh của nhân dân nhưng mặt khác, cũng cần thấy rằng, chính quy luật của cuộc sống-ở đây là xu thế xã hội hóa, đã thúc đẩy những tiến bộ xã hội ấy. Cơ sở khoa học-thực tiễn để bác bỏ luận điệu “chủ nghĩa xã hội là ảo vọng” Ở cấp độ là chế độ XHCN, sau cuộc khủng hoảng của một mô hình xây dựng CNXH ở Đông Âu và Liên Xô (1989-1991), nhiều nước vẫn giữ vững chế độ XHCN, tiến hành cải cách đổi mới và đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. CNXH hiện thực đang là thực tế ở nhiều quốc gia như Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba... Ở những quốc gia này, tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ đã và đang gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Chế độ dân chủ XHCN, vai trò lãnh đạo của các đảng cộng sản, nhà nước XHCN, quyền làm chủ và lợi ích của nhân dân đều là những thực tế không thể phủ nhận. Đổi mới tư duy về CNXH và con đường đi lên CNXH trong cải cách đổi mới ở các nước XHCN hiện nay không chỉ xác nhận xu thế đi lên CNXH ở cấp độ quốc gia mà còn cống hiến những con đường, biện pháp mới mẻ để xây dựng CNXH. Những cống hiến đó đã được các đảng cộng sản và đảng công nhân, các lực lượng tiến bộ trên thế giới thừa nhận như những giải pháp đúng đắn, phù hợp với bối cảnh, xu thế thời đại ngày nay. Những “mảnh ghép” tốt đẹp đang định hình xã hội tương lai Điều khá thú vị là, một số “mảnh ghép” của xã hội tương lai-chủ nghĩa cộng sản, cũng đang dần xuất hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống hiện nay. Chế độ tự quản của các cộng đồng dân cư, cái mà C.Mác cho rằng sẽ thay thế cho nhà nước trong xã hội cộng sản, hiện nay cũng đã xuất hiện ở nhiều nước trong một số lĩnh vực quản trị xã hội. Giáo sư Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh thế thế giới và cũng là tác giả của khái niệm “cách mạng công nghiệp 4.0” nhận định rằng: Hiện nay chúng ta đã có chủ nghĩa cộng sản về thông tin! Hàm ý của ông phản ánh một thực tế là hiện nay, nếu bạn có phương tiện nối mạng, nếu bạn có nhu cầu tìm hiểu, chỉ cần tra một từ khóa vào công cụ tìm kiếm, sẽ có ngay hàng triệu thông tin và gần như hoàn toàn miễn phí! Ngay ở Việt Nam, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, rất nhiều hành động thiện nguyện tự giác cũng phản ánh lối tư duy và hành động của con người trong xã hội tương lai: “Bánh mì miễn phí”, “nước uống miễn phí”, “dịch vụ sửa xe miễn phí”... Chúng ta có thể coi những ví dụ trên là những “mảnh ghép” của hiện thực đang định hình cho xã hội tương lai-xã hội cộng sản chủ nghĩa. Như vậy, với một cách nhìn khoa học, chúng ta có thể khẳng định CNXH vẫn đang là một thực tế với nhiều cấp độ trên thế giới hiện nay. Thực tế đó đang biểu hiện rất sinh động, có sức hấp dẫn mạnh mẽ với nhân loại. Thế giới đang đi lên CNXH với nhiều con đường, cách thức khác nhau. Như lời C.Mác và Ph.Ăng-ghen: “Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”