Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã chỉ rõ :Nam nữ bình quyền” là một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của ách mạng Việt Nam, dược ghi nhận trong cương lình chính trị của đảng năm 1930. Cương lĩnh chính trị của Đảng năm 1930 nêu rõ “giải phomngs phụ nữ phải gắn với giải phóng với dân tộc và giải phóng giai cấp. Hiến pháp 1946, Điều 9 “Đàn bà ngang quyền với dàn ông về mọi phương diện”. Nghị quyết 152- NQ/TW ngày 10/1/1967 về “Một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận”. Chỉ rõ “ Tư tưởng phong kiến đối với phụ nữ còn tồn tại khá sâu sắc trong một số cán bộ, dảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo. Thể hiện rõ nhất tư tưởng hẹp hòi “trọng nam, khinh nữ”, chưa tin vào khả năng quản lý kinh tế của phụ nữ, chưa thấy hết những khó khan trở ngại của phụ nữ…”. Chỉ thị 44-CT/TW ngày 7/6/1984 của Ban Bí thư về “Một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ”. Chỉ rõ “nhiều cấp ủy đảng và lãnh đạo các ngành buông lỏng việc chỉ đạo thực hienj các nghị quyết của Đảng về công tác daog tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ…; còn tư tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công bằng với chị em”. Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về “đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”, mục tiêu nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của phụ nữ trong công cuộc đổi mới đất nước, tạo điều kiện cho phong trào phụ nữ có những bước tiến mới và tang số lượng, chất lượng cán bộ nữ trong hệ thống tổ chức Đảng, Nhà nước, ác doàn thể và các tổ chức kinh tế xã hội. Chỉ thị 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thứ trung ương Đảng về “một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”. Chỉ rõ “Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, tham gia quản lý kính tế xã hội là yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là diều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ. Chống những biểu hiện lệch lạc, coi thường phụ nữ, khắt khe, hẹp hòi trong dánh giá, đề bạt cán bộ nữ.” Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước (là nghị quyết ban hanhfsau 10 năm thực hiện chỉ thị 37). Mục tiêu: “Phán đấu dến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn chuyên môn, nghiệp vụ dáp ứng yêu cầu CNH-HĐH và hội nhập quốc tế; có việc làm, dược cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; dóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia dình. Phấn dấu dề nước ta là một trong các quốc gia có thành tự bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực”. Thông báo số 196-TB ngày 16/3/2015 về kết luận của Ban Bí thư về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giaosi và sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới” tiếp tục thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước Việt nam về công tác phụ nữ và bình đẳng giới. Dề án thống qua việc triển khai một số giải pháp bảo đảm thực hienj bình đẳng giới, góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ và giảm khoảng cách giới trong một số lĩnh vực, nhành vùng, dịa phương có bất bình dẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳnggiới cao. Văn kiện đại hội XII của Đảng: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thienj chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, chế độ thai sản, nghỉ dưỡng, khám, chữa bệnh, bình đẳng giới. Thực hiện tốt chiến lược dân só, gia đình, chương trình hành động trẻ em…, dầu tư nang cao chất lượng dân số, chỉ số phát triển con người, bảo đảm tổng tỷ suất sinh thay thế, giảm dần sự mất cân bằng tỷ lệ giới tính khi sinh…”. Hội nghị TW6 khóa XII, dã thong qua nghị quyết 20NQ-TW về tang cườn công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Và Nghị quyết số 21- NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới, trong dó có những quan điểm chỉ đạo và mục tiêu cụ thể đẻ đạt dược cacsmucj tiêu liên quan đến bình đẳng giới.
Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2022
Phương pháp tiếp cận vấn đề thời đại hiện nay
Từ góc độ
chính trị- xã hội, Chỉ rõ: Nền tảng vật chất của chế độ CTXH; Chỉ rõ: Bản chất
của chế độ CTXH; Chỉ rõ: Bộ mặt của chế độ CTXH; Chỉ rõ: Quy luật vận động,
phát triển của chế độ CTXH. Muốn làm
rõ các vấn đề trên phải đi từ HTKTXH và giai cấp trung tâm của thời đại. Trong lịch sử đã có nhiều nhà tư
tưởng bàn đến vấn đề thời đại. Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau, việc phân
chia thời đại dựa vào các tiêu chí khác nhau dẫn đến quan điểm về thời đại cũng
khác nhau. Nhà xã hội học Vicô người Italia (1668-1744) phân chia thời đại như
phân chia các giai đoạn của một vòng đời: Thơ ấu, thanh niên, thành niên và
cuối cùng là tuổi già. Heghen phân chia lịch sử nhân loại thành 3 thời kỳ: Thời
kỳ phương Đông, cổ đại, giecmani. Phurie chia lịch sử nhân loại thành 4 giai
đoạn: Mông muội, dã man, gia trưởng, văn minh. Moocgăng Người Mỹ lại chia thành
3 thời đại: Thời đại Mông muội, dã man, văn minh. Lấy công cụ sản xuất làm tiêu
chí phân chia lịch sử thành các thời kỳ: đồ đá, đồ đồng, thời đại cối xay gió,
thời đại máy hơi nước, kỷ nguyên hạt nhân. Tiếp cận thời đại theo nền văn minh Anvin
Toffler trong tác phẩm “làn sóng thứ ba” đã chia lịch sử nhân loại thành 3 nền
văn minh: nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp. Tiếp cận theo dân tộc, quốc gia - dân tộc. Đây là cách tiếp cận lấy lợi ích quốc
gia dân tộc làm bản vị. Cách tiếp cận này đã căn cứ vào sự đấu tranh, cạnh
tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia dân tộc đang diễn ra phổ biến trên thế giới
hiện nay để khẳng định: thời đại ngày nay là thời đại của lợi ích quốc gia dân
tộc. Tiếp cận thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội là phương pháp tiếp cận
của chủ nghĩa Mác - Lênin. Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã vạch ra cơ sở
khách quan khoa học để xem xét phân chia thời đại, đó là: “Trong mọi thời đại
lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản
xuất kinh tế mà ra, - cả hai cái đó cấu thành cơ sở lịch sử chính trị và lịch
sử tư tưởng của thời đại ấy”[1]. Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã đưa ra
tiêu chí tổng hợp để xem xét thời đại gồm: LLSX, QHSX, CSHT và KTTT, tức toàn
bộ các yếu tố cấu thành nội dung của thời đại từ kinh tế, chính trị, xã hội đến
văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Hơn nữa, lý luận hình thái kinh tế - xã hội còn
chỉ rõ đối với xã hội có giai cấp, giai cấp nào là giai cấp đứng ở vị trí trung
tâm của một thời đại, là động lực xã hội chủ yếu chi phối sự vận động của thời
đại đó. Với cách tiếp cận trên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân kỳ lịch sử xã hội
loài người đến thế kỷ XIX thành 4 hình thái kinh tế - xã hội là: cộng sản
nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và rút ra kết luận
hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa tất yếu sẽ ra đời, nhân loại sẽ
bước sang thời đại mới - thời đại cộng sản chủ nghĩa.Phương pháp tiếp cận vấn
đề thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội là cách tiếp cận khoa học, vì nó
xuất phát từ những cơ sở vật chất khách quan. Song cần lưu ý thời đại và hình
thái kinh tế - xã hội là 2 khái niệm khác nhau, chúng có quan hệ chặt chẽ,
nhưng không đồng nhất. Đó là: hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cấu thành
thời đại; còn thời đại là thời kỳ hình thành, phát triển và bắt đầu ngự trị của
một hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ nhất trong khi vẫn còn sự tồn tại của
các hình thái kinh tế - xã hội thấp hơn. Hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ
nhất chính là đặc trưng cho tính chất và xu hướng phát triển của một thời đại.
Đảng ta thống nhất với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phương pháp tiếp
cận thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội, bởi đó là cách tiếp cận khoa học
để hiểu thực chất thời đại trên các mặt cơ bản của đời sống xã hội. Tuy nhiên
Đảng ta không tuyệt đối hóa phương pháp tiếp cận thời đại của chủ nghĩa Mác -
Lênin, mà có sự kế thừa, tiếp thu những yếu tố hợp lý từ các cách tiếp cận khác
để nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn vấn đề thời đại nói chung, thời đại ngày
nay nói riêng.
Tiêu chí cơ bản nhận diện giai cấp công nhân hiện nay
Từ cách
tiếp cận giai cấp công nhân ở góc độ kinh tế - xã
hội và chính trị - xã hội, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Giai cấp công nhân là sản phẩm và là chủ
thể của quá trình công nghiệp hóa. Họ gắn liền với quá trình sản xuất vật chất
hiện đại, là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng
cao. Trong chủ nghĩa tư bản, họ là người làm thuê do không có tư liệu sản xuất,
buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng
dư. Đó là giai cấp có sứ mệnh phủ định chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên
toàn thế giới.
Giai cấp công nhân là sản phẩm và là chủ thể
của quá trình công nghiệp hóa
C.Mác và Ph.Ăngghen dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về giai cấp
công nhân như: Giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công
nhân đại công nghiệp... Mỗi khái niệm mà các ông dùng
nhằm nhấn mạnh một đặc trưng của giai cấp công nhân, song về mặt nội hàm thì đó
là những từ đồng nghĩa.
C.Mác
và Ph.Ăngghen còn dùng những thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ các loại công
nhân trong các ngành khác nhau, trong những giai đoạn phát triển khác nhau của
công nghiệp: Công nhân công xưởng, công nhân khai khoáng, công nhân luyện kim,
công nhân cơ khí.
Từ thực
tế của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (từ giữa thế kỷ XVIII) và theo quan
niệm duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy, giai cấp vô sản là sản phẩm
của bản thân nền đại công nghiệp và là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất: “Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công
nghiệp sản sinh ra; cuộc cách mạng này xảy ra ở Anh vào nửa sau của thế kỷ trước,
và sau đó tái diễn ở tất cả các nước văn minh trên thế giới. Sở dĩ có cuộc cách
mạng đó, là do có sự phát minh ra máy hơi nước, các thứ máy kéo sợi, máy dệt và
hàng loạt những thiết bị máy móc khác”[1].
Giai
cấp công nhân là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày
càng cao - phương thức lao động công nghiệp.
Đây
là tiêu chí thứ nhất để phân biệt giai cấp công nhân với các giai cấp,
tầng lớp lao động khác bởi phương thức lao động công nghiệp của họ. Phương thức này có những đặc điểm sau: sản xuất bằng máy móc
ngày càng hiện đại, lao động có tính chất xã hội hóa, năng suất lao động cao và
tạo ra những tiền đề cho xã hội mới.
Trong
đó, lực lượng công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp là bộ phận cơ bản
và là hạt nhân của giai cấp công nhân và ngày càng phát triển. Quan điểm này
được C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và
tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại
là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”[2].
Từ
lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân còn là sản phẩm xã
hội của quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa, một xã hội có điều kiện tồn tại
dựa trên cơ sở chế độ làm thuê.
Trong
chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán
sức lao động để sống và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư.
Đây là tiêu chí thứ hai
để xác định giai cấp công nhân: dựa vào tiêu chí xét về vị trí trong quan hệ
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bởi vì, giai cấp
công nhân là sản phẩm xã hội của quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa, một xã
hội có “điều kiện tồn tại dựa trên cơ sở chế độ làm thuê”. Giai cấp vô sản là
giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản
thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống. Đây là thuộc tính nói
lên một trong những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản
chủ nghĩa, khiến cho những người công nhân trở thành giai cấp đối kháng trực
tiếp với giai cấp tư sản. C.Mác chỉ ra: “Những công nhân ấy buộc phải tự bán mình kiếm ăn từng bữa một, là một
hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ một món hàng nào khác, vì thế
họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường”.
Khái
niệm giai cấp công nhân là khái niệm mang tính lịch sử, luôn vận động
và phát triển cùng với sự vận động và phát triển của giai cấp công
nhân. Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, khái niệm giai
cấp công nhân có sự biến đổi theo xu thế phát triển chung của thời
đại. Tuy nhiên, nội dung cơ bản và xuất phát của chủ nghĩa Mác - Lênin
về điều kiện ra đời, phát triển của giai cấp công nhân đến nay vẫn
còn nguyên giá trị.
Dựa vào phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác-Lênin, các nhà khoa học ở Việt Nam đã nêu ra nhiều định nghĩa về giai cấp công nhân.
Hội đồng lý luận Trung
ương đã định nghĩa về giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động sản
xuất trực tiếp hoặc gián tiếp trong các ngành công nghiệp, thuộc các trình độ kỹ
thuật khác nhau; địa vị kinh tế - xã hội tùy thuộc vào chế độ xã hội đương thời.
Ở các nước tư bản, họ là những người không có hoặc cơ bản không có tư liệu sản
xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản, bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng
dư. Ở các nước xã hội chủ nghĩa họ là những người cùng với nhân dân lao động
làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động cho mình.
Định nghĩa trên thể hai thuộc
tính cơ bản: Về phương thức lao động, giai cấp công nhân là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp trong các lĩnh vực
công nghiệp hoặc có tính chất công nghiệp ngày càng xã hội hóa cao. Về quan hệ
sản xuất, ở hai chế độ xã hội (Tư bản chủ nghĩa và XHCN) thì vị trí quan hệ sản xuất
khác nhau... Hai thuộc tính trên nói lên điều gì? Đó là địa vị
chính trị của giai cấp công nhân trong hai chế độ (tư bản chủ nghĩa và XHCN) có
sự khác nhau và đối lập nhau.
Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đây là giải pháp cơ bản quan trọng nhất, thể
hiện quan điểm nhất quán của Đảng là thực hiện công tác tôn giáo là công tác
vận động quần chúng. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ làm cơ sở để thực hiện các
giải pháp còn lại, bởi lẽ, khi đã làm tốt công tác giáo dục tuyên truyền, vận
động thì đồng bào mới tin và đi theo cách mạng, mới phát huy hết khả năng của
mình để cống hiến cho xã hội, cho cách mạng, để thực hiện tốt giải pháp này cần
thực hiện tốt các biện pháp cơ bản sau:
Phải đa dạng hóa các hình thức vận động để phù hơp
với từng đối tượng; trước hết thực hiện tốt việc vận động các chức sắc, chức
việc, các tín đồ có uy tín; sau đó là việc vận động các tín đồ tôn giáo yêu
nước; đồng thời giáo dục, động viên những tín đồ lẫm lỡ quay về với cách mạng. Thực
hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức
công tác vận động quần chúng, tín đồ các tôn giáo; biết vận dụng khai thác các
điểm tốt trong các giáo lý, đạo đức tôn giáo; chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng
tôn giáo của các thế lực thù địch để đồng bào các tôn giáo nhận diện và đấu
tranh.
Căn cứ vào đặc điểm của mỗi tôn giáo, tình hình cụ thể của
mỗi địa phương, nhất là những nơi có đông đồng bào tôn giáo để có hình thức,
biện pháp vận động, tuyên truyền. Thực hiện tốt phương châm: kiên trì, khéo
léo, tế nhị, tự tin trong tuyên truyền vận động quần chúng tín đồ, phát huy sức
mạnh tổng hợp của các lực lượng, thành phần thích hợp trong tiến hành công tác
vận động quần chúng, tranh thủ tối đa sự ủng hộ giúp đỡ của các chức sắc, nhà
tu hành trong tuyên truyền vận động tín đồ các tôn giáo. Vì vậy, phải có cơ
chế, phương thức phối hợp và kế hoạch cụ thể trong công tác vận động quần
chúng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động các chức sắc và
tín đồ tôn giáo vẫn giữ nguyên giá trị. Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu, học
tập và vận dụng điều kiện mới. Phương pháp vận động quần chúng theo tư tưởng Hồ
Chí Minh phải đạt được ba yêu cầu: “hợp thời, hợp lòng dân và chu đáo”[1] Muốn
làm tốt công tác vận động các chức sắc và đồng bào tín đồ tôn giáo trong điều
kiện hiện nay, theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần làm tốt các
biện pháp sau:
Đối với các chức sắc, chức việc tôn giáo: chúng ta luôn chủ động, tranh thủ, tiếp cận, thuyết phục
giác ngộ họ, kéo họ về với sự nghiệp chung của toàn dân tộc. Sự giác ngộ về lợi
ích quốc gia dân tộc của các chức sắc tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc tập hợp tín đồ trong mái nhà chung của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vì tiếng
nói của họ có sức mạnh to lớn đối với các tín đồ tôn giáo. Vì vậy Hội đồng giáo
dục quốc phòng và an ninh Trung ương cần trú trọng bồi dưỡng kiến thức quốc
phòng, an ninh cho đối tượng là các chức sắc, chức việc của các tôn giáo, để
qua họ tác động đến đông đảo tín đồ nâng cao nhận thức, hành động vì sự nghiệp
củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước.
Đối với đồng bào tín đồ tôn giáo: chúng ta cần tuyên truyền, giải thích cho đồng bào hiểu
rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Muốn làm cho đồng bào tin thì
cán bộ tuyên truyền nói phải đi đôi với làm, chính sách phải đem lại kết quả
thiết thực. Chúng ta cần học tập các cha cố truyeèn đạo về tính kiên nhẫn, bền
bỉ, không nóng vội. Điều quan trọng là không được mắc sai lầm dẫn đến mất lòng
tin của đồng bào và để kẻ thù lợi dụng bôi xấu cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh
chỉ rõ rằng: “Lực lượng của chúng (của kẻ thù) gồm có: một là, lực lượng của
bản thân chúng; hai là: khuyết điểm của cán bộ ta. Những khuyết điểm mà cán bộ
ta phạm phải là đồng minh đắc lực của địch”[2]. Để
nâng cao hiệu quả vận động quần chúng tín đồ, đòi hỏi chúng ta khi tuyên truyền
phải khéo léo, tinh tế, biết kết hợp giữa giá trị các tôn giáo với giá trị của
cách mạng trong tuyên truyền, giáo dục; đồng thời cần làm cho đồng bào nhận rõ
âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm của địch lợi dụng tôn giáo, làm
phương hại đến sự đoàn kết dân tộc và đời sống đồng bào, để đồng bào tín đồ
đứng lên đấu tranh vạch mặt kẻ địch.
Phát huy quyền làm
chủ của nhân dân, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám
sát, dân thụ hưởng”, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân theo đúng quy
định của Hiến pháp, pháp luật; luôn đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức
vận động đồng bào tín đồ phù hợp với đặc điểm sinh hoạt của từng tôn giáo cụ
thể. Tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời,
đẹp đạo”. Phát huy tinh thần của đồng bào có đạo trong tự giác, phối hợp đấu
tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn
giáo cùng với lợi dụng các vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền chống phá sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ gìn, củng cố an ninh quốc gia,
trật tự an toàn xã hội.
Các dân tộc Việt Nam rất đoàn kết trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước.
Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc, dân tộc
Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Tính đến 01/4/2019,
dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số cả
nước. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh
đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi
định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Dân tộc tại chỗ như dân tộc Việt (còn gọi là
dân tộc Kinh ngày nay); dân tộc Việt - Mường
(còn gọi là dân tộc Mường ngày nay). Di cư từ Trung Quốc như dân tộc Thái, Hoa,
Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán chỉ và Giáy
di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước. Di cư
từ Lào có dân tộc Chăm. Di cư từ Camphuchia có dân tộc Kheme v.v... Thời
kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung
Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ sang làm việc, sinh sống tại Việt Nam…
Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn
kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một
quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt nam.
Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhiều dân tộc có
chung cội nguồn. Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều truyền thuyết
như truyện: Quả bầu mẹ giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc; truyện:
Đôi chim đẻ ra hàng trăm, hàng ngàn trứng nở ra người Kinh, người Mường,
người Thái, người Khơ-mú...; truyện của dân tộc Ba-na, Ê-đê kể rằng người Kinh,
người Thượng là anh em một nhà; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ
đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha xuống biển trở
thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc thiểu số. Vua Hùng
được coi là Tổ tiên chung của cả nước.
Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử, có nhiều điểm
đương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi, gắn bó với nhau. Song dù cùng hoặc
không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong tục, tập
quán... thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh gắn chặt
với nhau, các dân tộc trên đất nước Việt nam luôn kề vai, sát cánh bên nhau,
thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.Các dân tộc ở Việt Nam đoàn kết bởi hai lý do: Thứ
nhất, do phải đoàn kết để chế ngự tự nhiên và chống giặc ngoại xâm. Việt Nam
ở khu vực địa lý có nhiều thuận lợi, song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc
nghiệt. Do nắng lắm, mưa nhiều nên hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt. Do yêu
cầu tồn tại và phát triển ở một nước nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư
dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại, hợp sức để khai phá đất hoang, chống thú
dữ, xây dựng các hệ thống thủy lợi, đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất.
Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong lao động
sản xuất của đồng bào các dân tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức.
Cùng với lịch sử trinh phục thiên nhiên, nhân dân
Việt Nam còn có lịch sử chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Do Việt nam ở
vào nơi thuận tiện trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây của thế
giới, có tài nguyên, thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý - chính trị có tính
chiến lược. Cho nên các thế lực bành trướng, xâm lược luôn nhòm ngó và tìm cách
thôn tính Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt nam là lịch sử chống giặc
ngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh chống lại
những thế lực hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới. Chính vì vậy mà
cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tục đứng lên chống
giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược. Thứ hai, dân tộc Việt Nam có
lòng yêu nước nồng nàn và lòng nhân ái, vị tha cao cả. Lòng yêu nước Việt nam
đã được hun đúc từ bao thế hệ phát triển thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Với
chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, càng khó khăn gian khổ, càng hiểm nguy thì người
dân Việt Nam càng thương yêu nhau hơn, càng quyết tâm hơn, càng đồng lòng hơn
để vượt qua. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã là cơ sở, động lực rất quan
trọng để mọi con dân đất Việt đoàn kết, yêu thương, tương trợ giúp đỡ lẫn nhan.
Cùng với đó Người dân Việt nam luôn có tấm lòng nhân ái vị tha cao cả. Lòng
nhân ái của người Việt Nam không chỉ trong nội tộc mà còn đối với cả thế giới. Đoàn
kết trong lao động và đấu tranh là truyền thống nổi bật nhất của các dân tộc
Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử. Trong sự nghiệp cách mạng do
Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống đoàn kết dân tộc được phát
huy cao độ, là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam.
Những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới
rất to lớn và đáng tự hào cho thấy khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam đã
được nâng lên tầm cao và chiều sâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát
triển của đất nước, làm cho thế và lực của cách mạng Việt Nam ngày càng được
tăng cường.
Tuy nhiên bên cạnh mặt đoàn kết là cơ bản, có nơi,
có lúc vẫn xẩy ra những va chạm trong quan hệ dân tộc, còn có những biểu hiện
mặc cảm, thành kiến dân tộc. Chính vì thế ở một số nơi, các lực lượng thù địch
đã lợi dụng để kích động chia rẽ dân tộc. Do đó việc tăng cường đoàn kết, nâng
cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại khối
đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ của mỗi người dân Việt Nam.
Nắm vứng vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc dưới chủ nghĩa xã hội làm cơ sở để thực hiện tốt công tác dân tộc trong tình hình hiện nay
Hiện nay, khái
niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa phổ biến nhất, thứ nhất khái niệm dân tộc
theo nghĩa quốc gia dân tộc, là một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân
một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý
thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh
tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình
lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước.
Dân tộc hay
quốc gia - dân tộc là cộng đồng chính trị xã hội được hình thành ổn định và lâu
dài trong lịch sử, chịu sự chỉ đạo bởi một nhà nước trong một quốc gia như: dân
tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Anh, dân tộc Đức…Trải qua quá trình
lịch sử lâu dài, các cộng đồng tộc người cùng sống trên một địa bàn lãnh thổ,
do nhu cầu tồn tại và phát triển, có mối quan hệ với nhau đã đi tới thành lập
các quốc gia - dân tộc, bao gồm: địa bàn sinh sống của một hay nhiều tộc người.
Ở phương Tây, quá trình này gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và sự
hướng tới thành lập các quốc gia - dân tộc độc lập. Dân tộc hiểu theo nghĩa
quốc gia gồm những đặc trưng chủ yếu sau:
Chịu sự quản lý của một nhà nước; nhà nước
- dân tộc đó phải là một nhà nước độc lập;
Có lãnh thổ chung ổn định, là địa bàn
cư trú của cộng đồng dân tộc. Vận mệnh dân tộc - một phần rất quan trọng gắn
với việc xác lập và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ;
Có chung phương thức sinh hoạt kinh tế,
là liên kết tự nhiên, chặt chẽ, bền vững của cộng đồng dân tộc;
Có ngôn ngữ chung, làm công cụ giao
tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, tình cảm…;
Có chung một nền văn hóa, thể hiện qua tâm
lý, tính cách phong tục, tập quán…tạo nên bản sắc riêng của cộng đồng dân tộc.
Thứ hai, khái niệm dân tộc - tộc người: Là một cộng đồng người
có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ
riêng, văn hóa có những đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát
triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức
tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.
Nâng
cao nhận thức về khái niệm dân tộc nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng trong
việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc. Nắm vững những đặc trưng của
dân tộc để tránh những hạn chế của việc ra chính sách trung tính, chính sách
chung chung, không có con người, vùng miền cụ thể. Chính sách phù hợp sẽ góp
phần củng cố, tăng cường sự thống nhất quốc gia trên nền tảng kinh tế, thúc đảy
sản xuất hàng hóa phát triển, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng;
củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Đồng thời nắm vững đặc điểm dân
tộc để ban hành những chính sách phù hợp, mang tính đặc thù cho từng dân tộc,
tạo điều kiện cho từng dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số, phát triển gắn
với sự phát triển chung của cả cộng đồng.
Theo đó, vấn đề dân tộc là: Đó là những mâu thuẫn xung đột trong thực hiện các quyền cơ bản như quyền tự quyết đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội… của các tộc người trong quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau. Ví dụ trình độ phát triển không đồng đều giữa DTTS và người Kinh ở Việt Nam và một số nước trên thế giới hoặc sự can thiệp của Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch với một số nước ở Châu Mỹ la tinh… Giải quyết vấn đề dân tộc dưới CNXH: Thực hiện bình đẳng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trong quốc gia hoặc thực hiện hòa bình hợp tác, phát triển giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới để không có mâu thuẫn, xung đột dân tộc. Đây cũng chính là xu hướng của các nước trên thế giới hiện nay, luôn coi trọng, đề cao vấn đề bình ổn trong nội tộc để làm cơ sở vững chắc cho quá trình hội nhập
Tư tưởng cốt lõi về bình đẳng giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Thứ nhất, phụ nữ là một nửa xã hội, muốn xây dựng CNXH phải giải phóng phụ nữ. Đây là quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về bình đẳng giới. Bác nói “Non song gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà them tốt đẹp, rực rỡ”. Có thể nói, Người có những luận điểm thể hiện tầm nhìn chiến lược khi đặt vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trong tương quan phát triển của xã hội mới, của chủ nghĩa xã hội “Nói phụ nữ là nói phần nửa của xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng CNXH chỉ một nửa”. Thứ hai, giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và bản than chị em phụ nữ. Người nhận định: Đối với Đảng, Nhà nước. Các cấp ủy đảng và chính quyền “ phải có phương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao hơn nữa địa vị của phụ nữ”. Người còn nói, nếu cán bộ lãnh đạo là nữ mà ít, đấy là một thiếu sót của Đảng. Nguyên nhân của tình trạng phụ nữ ít được tham gia lãnh dạo, quản lý, theo Người là vì “ Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai”. Người khẳng định giải phóng phụ nữ phải bằng pháp luật, chính sách, biện pháp cụ thể “ Từ nay các cấp Đảng, chính quyền địa phương khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ để ngày them nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân của phụ nữ thì phải có gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”. Đối với chị em phụ nữ “Phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập”.
Nhận thức đúng về thời đại làm cơ sở đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch
Thời
đại là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử xã hội, phân biệt những
nấc thang phát triển của xã hội loài người.[1] Thời đại,
được tiếp cận ở đây là từ góc độ triết
học - chính trị - xã hội, nghĩa là đi từ điểm xuất phát con người làm nên
lịch sử và tổ chức nên đời sống xã hội của mình; lịch sử nhân loại là một quá
trình phát triển hết sức lâu dài, quanh co, phức tạp bắt đầu từ mông muội, dã
man tới văn minh, hiện đại như ngày nay. Bằng tư duy lý luận, con người có thể
nhận thức được quá trình lịch sử của mình. Để làm rõ sự khác nhau của những nấc
thang xã hội, cần chỉ rõ: Nền tảng vật chất, bản chất, bộ mặt và quy luật vận
động phát triển của chế độ chính trị - xã hội. Thời đại, thực chất là sự phân kỳ, chia các nấc thang lịch sử xã
hội loài người. Theo V.I. Lênin, thời đại còn là thời kỳ, giai đoạn lịch
sử; từ đó có thể tiến hành phân chia thời đại lớn thành các thời đại nhỏ, thành
các thời kỳ, giai đoạn cụ thể trong đó. Chẳng hạn, có thể phân chia thời đại tư
bản chủ nghĩa thành các giai đoạn: tư bản tự do cạnh tranh, tư bản độc quyền và
tư bản hiện đại ngày nay.Cơ sở phân chia thời đại: từ HTKT- XH và giai cấp trung
tâm trong xã hội. Mác viết : “ chúng ta không thể xét một thời đại cách mạng
căn cứ theo ý thức của chính bản thân thời đại đó được. Trái lại phải giải
thích ý thức đó bằng mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột giữa
những điều kiện sản xuất và những điều kiện của năng xuất... Về đại thể, có thể
coi phương thức sản xuất á châu, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những
thời đại ngày càng tiến lên trong lịch sử các hình thái kinh kế của xã hội”[2]. Sự phân chia lịch sử thành các
thời đại khác nhau, không phải một cách chủ quan, tùy tiện theo ý muốn của con
người mà là dựa trên những dấu hiệu,
những đặc điểm bản chất của nó, nghĩa là phải dựa trên những tiêu chuẩn (tiêu
chí) khách quan, khoa học để phân chia. Qua đó có thể phân biệt được sự
khác nhau về chất của các thời đại, các nấc thang lịch sử khác nhau.
V.I. Lênin đã từng chỉ rõ và nhấn
mạnh rằng chỉ trên cơ sở hiểu đúng thời đại, “chúng ta mới có thể định ra đúng
đắn sách lược của chúng ta; và chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm
cơ bản của một thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết
của nước này hay nước nọ”[3]
Như vậy, theo V.I. Lênin, việc
nhận thức đúng thời đại mang ý nghĩa trọng đại ở tầm chiến lược đối với con
người, nhất là đối với những người cách mạng, bởi lẽ:
Thứ
nhất, hiểu đúng
thời đại, tức là nắm bắt được bản chất, quy luật, xu hướng vận động phát triển
tất yếu của thời đại - đó là cơ sở khoa học, là điều kiện tiên quyết để những
người cách mạng định ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn trong cuộc đấu
tranh nhằm xóa bỏ trật tự xã hội cũ lỗi thời lạc hậu, xây dựng một xã hội mới
tiến bộ hơn.
Thứ
hai, hiểu đúng
thời đại, nắm bắt được quy luật chung, đặc điểm chung, cơ bản của thời đại còn
là cơ sở để những người cách mạng tiến hành vận dụng sáng tạo quy luật chung
vào đặc thù của một nước cụ thể, tức là “cá biệt hóa” cái chung vào cái riêng
phù hợp với “những đặc điểm chi tiết” của từng nước, tránh được sự giáo điều
kinh viện.
Bởi lẽ, lịch sử của nhân loại đã
khẳng định không thể có mô hình phát triển chung cho mọi quốc gia dân tộc, vì
sự phát triển của mỗi nước, ngoài bị chi phối bởi quy luật chung, còn chịu sự
quy định của các quy luật đặc thù và đặc điểm truyền thống văn hóa riêng của
từng quốc gia dân tộc cụ thể.
Qua đây cho thấy “Sự nhận thức
sai lệch về thời đại chắc chắn đưa lại những tổn thất cho sự nghiệp cách mạng
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho sự nghiệp giải phóng của các
dân tộc và sự nghiệp giải phóng con người”[4].
Thực tiễn trên bình diện quốc tế
hiện nay đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề bức thiết, có liên quan trực tiếp
đến sự cần thiết phải nhận thức thời đại ngày nay, nổi lên là 3 vấn đề lớn sau
đây:
Một
là, chế độ xã
hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội đang tạm thời lâm
vào thoái trào, trong khi đó chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng điều chỉnh,
thích nghi để phát triển. Chủ nghĩa xã hội không còn tồn tại với tư cách là một
hệ thống thế giới như trước đây mà chỉ còn lại một số nước như Trung Quốc, Việt
Trước thực tế này, đã có không ít
người, thậm chí có cả người cách mạng cũng tỏ ra hoang mang, dao động, dẫn đến
từ bỏ mục tiêu lý tưởng; còn kẻ thù của chủ nghĩa xã hội thì lớn tiếng cho rằng
thời đại ngày nay vẫn là thời đại của chủ nghĩa tư bản!
Hai
là, cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đưa loài người bước vào kỷ
nguyên mới, kỷ nguyên của sự phát triển xã hội dựa trên cơ sở nền kinh tế tri
thức
Từ sự biến đổi này, đã xuất hiện
quan điểm cho thời đại ngày nay không phải là thời đại của chủ nghĩa tư bản và
cũng không phải là thời đại của chủ nghĩa xã hội, mà là thời đại “hậu công
nghiệp”, thời đại “văn minh tin học”, “văn minh trí tuệ”...
Ba là, vấn đề giai cấp và dân tộc, nhất là lợi ích quốc gia dân tộc đang nổi
lên và diễn ra hết sức phức tạp. Các nước đã và đang thực hiện ưu tiên đặt
lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu trong xử lý các quan hệ quốc tế.
Căn cứ vào đặc điểm này, nhiều
người đã cho rằng thời đại ngày nay là thời đại của quốc gia dân tộc chứ không
còn là thời đại quốc tế vô sản.
Với những biến đổi nhanh chóng và
phức tạp trên của đời sống quốc tế, để nhận thức đúng bản chất của thời đại
ngày nay, đòi hỏi chúng ta phải có cách tiếp cận khoa học về thời đại.
[1]
Hội đông Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn
khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa
học, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2010, tr. 200.
[2] V. I. Lênin, tt, t1, Sđd, tr. 161
[3] V.I.Lênin: Toàn tập, NXB. Tiến
bộ, Matxcowva, 1980, tập 26, tr. 174.
[4] .Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác
– Lênin trong thời đại hiện nay, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.124.
NGHIÊN CỨU SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA
Sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội
khoa học. Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được đánh giá là
một trong những cống hiến vĩ đại của chủ nghĩa Mác. Sau khi chủ nghĩa xã
hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực phản động ra sức phủ nhận học thuyết Mác về sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội
hiện thực. Tuy nhiên, thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của
chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn không ngừng phát triển trong điều kiện mới và dành được những thành tựu to lớn. Điều đó,
khẳng định học thuyết Mác về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân vẫn còn
nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Vấn đề đặt
ra là cần nghiên cứu nắm vững những vấn đề cơ bản lý luận về sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những biến đổi của giai cấp công
nhân hiện nay dưới sự tác động của nhân tố thời đại, nhận thức rõ
về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay.
Nắm vững những nội dung cốt lõi về sứ mệnh lịch sử của gia cấp công nhân
làm cơ sở củng cố lập trường, niềm tin khoa học vào sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội vì
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời, tích cực đấu tranh với những quan điểm phản động,
sai trái.
THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC DÂN TỘC, TÔN GIÁO CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY
Dân tộc, tôn giáo là những vấn đề phức tạp có liên
quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế
giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy,
khi nào vấn đề dân tộc, tôn giáo được giải quyết thành công thì xã hội mới có
sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất
ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt
công tác dân tộc, tôn giáo, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi
các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.
Đặc biệt trong
tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh
chiến lược “diễn biến hoà bình” chống cách mạng Việt Nam với phương châm lấy
chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế làm mũi nhọn, ngoại giao
làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy
hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự. Vì
vậy, công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ có thể
thành công trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, đồng thời phải xuất phát từ
hoàn cảnh cụ thể của đất nước và gắn với đặc điểm của thời đại hiện nay. Tiến
hành công cuộc đổi mới đất nước, trước hết đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy,
nhìn nhận và đánh giá đúng những vấn đề lý luận và thực tiễn, trong đó có vấn
đề dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ có nhiều biểu hiện mới, đa dạng,
phức tạp, cần giải quyết đúng đắn.
Nắm vững đường
lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn
giáo và thực hiện tốt công tác tôn giáo có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp
bách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Nắm vững thời đại hiện nay có ý nghĩa quan trọng trong xác định chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Hiện nay, chúng ta đang sống
trong một thế giới với đầy biến động, phức tạp và diễn biến nhanh chóng, khó
lường đã phản ánh vào ý thức tư tưởng con người, dẫn đến sự hình thành các quan
điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về thời đại ngày nay. Vì vậy, việc nhận
thức đúng bản chất, xu hướng vận động, phát triển tất yếu của thời đại là một
vấn đề có ý nghĩa chiến lược không chỉ đối với chúng ta, mà còn đối với mọi
quốc gia, dân tộc trong việc lựa chọn con đường phát triển sao cho phù hợp với
xu thế khách quan của thời đại.
Do vậy, để hoạch định xây dựng
đất nước cần nắm vứng một số vấn đề cơ
bản về thời đại ngày nay theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm
của Đảng ta. Qua đó góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ tư duy, năng
lực vận dụng ở tầm chiến dịch, chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc ở thời kỳ cách mạng mới.
Hồ Chí Minh quan tâm đến nam nữ bình quyền và giải phóng phụ nữ từ rất sớm
Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai
trò phụ nữ từ rất sớm, năm 1922, Người có bài viết” Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của
Pháp”. Đăng trên báo Le paria: Bài báo đã bóc trần thực tế đối sử tàn bạo của
ché độ thực dân đối với phụ nữ nước ta dưới vỏ bọc “văn minh”, “tự do”, “công
lý”. Năm 1926, tại Quảng Châu, Trung Quốc, Người viết bài Mục dành cho phụ nữ: Về sự bất công của phụ nữ. Chỉ qua vài dòng ngắn
ngủi, Người đã lột tả được sự bất công về giới cao độ trong xã hội Việt Nam thời
đó và kết luận bằng một lời hiệu triệu kêu gọi phụ nữ đứng lên dòi các quyền
chính đáng của mình. Năm 1952, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
dang trong thời kỳ dầy khó khan, thách thức, nhân ngày Quốc tế phụ nữ 8-3, Người
đã viết bài Nam nữ bình quyền, nêu rõ
thực chất cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ ở Việt Nam: “nhiều người lầm tưởng
đó là một việc dễ, chỉ: hôm nay anhnaus cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét
nhà, nấy cơm, rửa bát thế là bình đẳng, bình quyền. Lầm to”. Đó là một cuộc
cách mạng khá to và khó. Vì sao. Vì trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy
ngìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng
lớp xã hội…Thứ hai: Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị,
kinh té, văn hóa, pháp luật.Phải cách mạng từng người, từng gia đình, đén toàn
dân. Dù to và khó nhưng nhất định thành công.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng giới
Do sự bất bình đẳng về kinh tế dẫn
tới sự thống trị của đàn ông đối với đàn bà và bất bình đẳng giới nảy sinh. Ph.Ăng
ghen khẳng định “tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã
hội trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là
kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế”. Bên cạnh đó truyền thống văn
hóa và xã hội (Phong tục, tập quán lạc hậu), được sự cổ vũ mạnh mẽ của tôn giáo
và sự bảo vệ vững chắc của pháp luật tư sản cũng là nguồn gốc rất cơ bản dẫn tới
bất bình đẳng nam nữ, làm tang them gánh nặng áp bức đối với phụ nữ. Ph.Ănggen
cho rằng: “Tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân, thì một phần là kết quả của
điều kiện kinh tế, trong đó chế độ một vợ, một chồng phát sinh, và phần nữa là
một truyền thống của thời kỳ trong đó mối liên hệ giữa những điều kiện kinh tế ấy
với chế độ một vợ, một chồng còn chưa được người ta hiểu một cách đúng đắn, và
đã bị tôn giáo thổi phồng lên”. Bản thân người phụ nữ với sự cam chịu, nhẫn nhục,
kém hiểu biết càng làm cho sự bất bình đẳng giới trở lên trầm kha trong xã hội
tư bản.
Con đường và điều kiện để giải
phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trong thực tế- đó là con đường cách mạng
xã hội nhằm xóa bỏ nguồn gốc kinh tế, trong đó chế độ sở hữu tư nhân phải được
thay thế bằng sở hữu xã hội; phải đưa phụ nữ tham gia ngày càng nhiều công việc
xã hội. Ph. Ăngghen nhấn mạnh: “…điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ là
làm cho toàn bộ nữ giới trở lại tham gia nền sản xuất xã hội, và điều kiện đó lại
đòi hỏi phải cho gia đình cá thể không còn là một đơn vị kinh tế của xã hội nữa”.
Đồng thời càn phải tổ chức lại cách phân công lao động xã hội và gia đình theo
hướng giảm nhẹ gánh nặng gia đình cho phụ nữ bằng cách xã hội hóa một phàn công
việc gia đình. Luật pháp hóa mục tiêu bình đẳng nam, nữ, bình đẳng giữa vợ và
chồng, giữa hai giới. Khẳng định điều này Ăng gen viết: “…đặc tính của sự thống
trị của người chồng đối với người vợ trong gia đình hiện đại, và sự tất yếu phải
xác lập sự bình đẳng xã hội thật sự giữa hai bên, cũng như phương thức xác lập
sự bình đẳng ấy, chỉ bộc lộ ra hoàn toàn rõ rang một khi mà cả vợ lẫn chồng đều
hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật”.V.L. Lê nin cũng rất quan tâm đến địa vị
vai trò người phụ nữ “ Địa vị của phụ nữ về mặt pháp lý là cái tiêu biểu nhất
cho trình độ văn minh”. Theo V.L. Lê nin: Để xóa bỏ vĩnh viễn tình trạng bất
bình đẳng, cần sự nỗ lực to lớn của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội nhưng trước hết
và quyết định nhất là sự nỗ lực của chính bản thân phụ nữ. “Việc giải phóng phụ
nữ lao động…phải là việc của bản than phụ nữ lao động”. Và nội dung đầu tiên phải
thực hiện là “Muốn để giải phóng phụ nữ, muốn làm cho hộ thật sự bình đẳng với
nam giới, thì phải có nền kinh tế chung của xã hội, phải để cho phụ nữ tham gia
lao động sản xuất chung. Như thế phụ nữ mới có địa vị bình đẳng với nam giới”. Biện
Pháp:: Mau chóng xóa bỏ khoảng cách giữa “bình đẳng về mặt pháp luật” và “bình
đẳng trong thực tế đời sống
Thực tế ở Nhà nước Xô viết, ông xác định biện pháp: “phải làm sao cho phụ nữ công nhân ngày càng tham gia nhiều hơn nữa vào việc quản lý các xí nghiệp công cộng, vào việc quản lý nhà nước”. Với việc này Lê nin hoàn toàn tin tưởng rằng “…Phụ nữ sẽ học tập nhanh chóng và đuổi kịp dược nam giới”. Toàn bộ những quan điểm trên về phụ nữ, giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng nam- nữ được xây dựng trên cơ sở triết học mác xít. Đây là phương pháp tiếp cận khoa học, đồng thời là cơ sở lý luận để phát triển khoa học, hướng tới mục tiêu bình đẳng giới trong xã hội hiện nay.
BÀN CỜ THẾ GIỚI: TRUNG QUỐC VỪA MUA CHUỘC VỪA CHIẾM ĐOẠT!
Có hai yếu tố mà từ đó kích thích Trung quốc thực hiện chủ nghĩa bành trướng. Một là, Trung quốc trong mấy thập kỷ qua đã trở thành công xưởng của thế giới. Một khi đã là thế, thì phải có đường đi cho hàng hóa ra toàn cầu. Thế là con đường tơ lụa mới hình thành. Thế là chương trình “vành đai và con đường” được thực hiện và để có thể rút ngắn đường đi của hàng hóa, Trung quốc đang tính đến việc mở con đường qua miền bắc cực.
Hai là, Trung quốc phát triển cần rất nhiều năng lượng và nguyên liệu mà tài nguyên trong nước không dồi dào, phong phú nên phải khai thác ở nước ngoài, đặc biệt là châu Phi và Trung đông. Độc chiếm biển Đông cũng vì mục đích này.
Con đường tơ lụa là một khái niệm đã có từ thời phong kiến Trung Hoa, chính xác là để các triều đại phong kiến Trung quốc xuất khẩu tơ lụa. Ngày nay hàng hóa qua lại con đường này không chỉ là tơ lụa mà tất cả những gì Trung quốc xuất khẩu ra thế giới và những gì mà Trung quốc nhập về (chủ yếu là khoáng sản và năng lượng). Con đường tơ lụa trên bộ xuất phát từ Phúc Châu, qua Mông Cổ, Ấn độ, Afghanistan, Kazakhstan, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy-lạp đến châu Âu. Đó là hướng tây; hướng đông đến Triều Tiên, Nhật Bản; hướng nam đi xuống Đông nam Á.
Còn chương trình “vành đai và con đường” (nhất đới, nhất lộ) thì lại đi theo đường biển. Chính vì vậy mà Trung quốc đã đầu tư khá nhiều cảng biển từ đông nam Á (Campuchia), sang Nam Á (Pakistan, Sri Lanka, Myanmar), sang Trung đông rồi đến tận Italy.
Gần đây, Trung quốc tính toán mở thêm một con đường vận tải, đó là đi qua bắc cực. Muốn đi qua đây, Trung quốc không thể vượt mặt nước Nga và một số nước Bắc Âu như Phần Lan chẳng hạn. Đây chính là điểm phát sinh mâu thuẫn giữa Trung quốc với Nga và các nước trong khu vực. Xưa nay giữa Nga và Trung quốc vẫn tồn tại những tranh chấp lãnh thổ. Trung quốc muốn đòi lại phần đất mà tổ tiên họ đã dâng cho Nga hoàng.
Cũng như Biển Đông ở phía nam mà bản đồ thế giới gọi là Nam hải, thì ở phía đông Trung quốc muốn kiểm soát biển Hoa đông, tạo nên sự tranh chấp với Nhật Bản.
Chiêu bài mà Trung quốc thường viện dẫn trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ là “tồn tại lịch sử”. Đối với Ấn độ, với Nga, với Nhật và với Việt Nam họ đều có cùng một thủ đoạn. Buồn cười và thô bỉ nhất là họ cứ bấu chặt lấy cái đường lưỡi bò ở Biển Đông mà tên bại tướng Tưởng Giới Thạch vẽ ra vào năm 1949, rồi bảo đó là “tồn tại lịch sử!”.
Tóm lại, Trung Quốc hiện nay đã là một nước có nền kinh tế phát triển, dự trữ ngoại tệ rất lớn, là chủ nợ của rất nhiều nước, đặc biệt là các nước nghèo và các nước đang phát triển. Với một nền kinh tế như vậy, Trung quốc dễ dàng mua chuộc lãnh đạo nhiều nước, trao cho họ những món nợ khổng lồ (vượt quá khả năng trả nợ của họ), cuối cùng kẻ đi vay không có khả năng trả nợ thì gán nợ bằng công trình, bằng tài nguyên đất nước.
Chẳng thế mà, Myanmar - một đất nước đã có một lịch sử huy hoàng (đánh bại quân Thanh, Trung quốc), một nền kinh tế hùng hậu nhất châu Á vào thập niên 50-60, một nền công nghiệp đứng đầu đông nam Á, thậm chí là nước đầu tiên phát minh ra robot chứ không phải Mỹ hay Nhật vân vân. Thế mà ngày nay, thì sao? Trở thành một nước phụ thuộc Trung quốc, điển hình là tháng 12 vừa qua, chính phủ quân sự đã cho phép lưu hành đồng nhân dân tệ song song với đồng tiền quốc gia. Và còn nhiều nữa mà tôi không thể nói hết trong bài này.
Nói cho đúng bản chất của các khoản đầu tư của Trung quốc ở nước ngoài khoác dưới chiếc áo rất đẹp là “viện trợ phát triển” song không khác gì chủ nghĩa thực dân mới. Chủ nghĩa thực dân cũ dùng vũ lực để cướp tài nguyên của quốc gia bị xâm lược, thì nay Trung quốc dùng tiền để mua chuộc và chiếm đoạt.
Xem ra cuộc chinh phạt này diễn ra rất êm ái, một khi “tiền đã trao” thì “tài nguyên sẽ được múc đem đi”. Sau một ít năm nhìn lại thì hỡi ôi, tài nguyên xưa nay còn đâu!
Ảnh trong bài: Vừa ăn cướp vừa la làng
Yêu nước ST.
8 DẤU ẤN NHIỆM KỲ 2020 - 2021 CỦA VIỆT NAM TẠI LIÊN HỢP QUỐC
Xứng đáng với lòng tin và kỳ vọng của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã hoàn thành nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (UVKTT HĐBA) Liên hợp quốc (LHQ) năm 2020-2021 với những dấu ấn quan trọng, đóng góp lớn vào tổng thể triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước; đặc biệt là nâng tầm đối ngoại đa phương, mang lại lợi ích thiết thực cho đất nước, nâng cao vai trò, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Ngày 7/6/2019, trong khuôn khổ Khoá 73 Đại hội đồng LHQ, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu làm UVKTT HĐBA nhiệm kỳ 2020-2021 với số phiếu cao kỷ lục (192/193 phiếu). Đây là lần thứ hai Việt Nam vinh dự đảm nhận trọng trách quan trọng này, thể hiện sự tín nhiệm, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế dành cho một Việt Nam đổi mới, phát triển mạnh mẽ và hội nhập sâu rộng, là minh chứng cho uy tín và vị thế đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Điều này cũng thể hiện sự tin tưởng, kỳ vọng của quốc tế đối với năng lực và sự tham gia có trách nhiệm của Việt Nam trong nỗ lực chung nhằm duy trì hòa bình, ổn định, an ninh ở khu vực và trên thế giới.
Bước vào nhiệm kỳ UVKTT lần này, Việt Nam phải đương đầu với thách thức chung chưa từng có đối với nhân loại. Đó là đại dịch COVID-19 xuất hiện, lan nhanh và tạo thành cuộc đại khủng hoảng, đa khủng hoảng trên toàn thế giới, tác động tiêu cực, đa chiều đến mọi mặt của đời sống quốc tế trong đó có hoạt động của LHQ: phải đóng cửa, chuyển sang hoạt động trực tuyến, trong khi các quốc gia phải điều chỉnh ưu tiên, tập trung vào ứng phó và kiểm soát dịch bệnh. Bên cạnh đó, các thách thức an ninh truyền thống như căng thẳng, xung đột, bất ổn vẫn tiếp diễn, thậm chí gay gắt và phức tạp hơn trước ở khu vực Trung Đông - Châu Phi, các điểm nóng cục bộ ở châu Âu, châu Á… Trong khi đó, cạnh tranh chiến lược và tập hợp lực lượng của các nước lớn tiếp tục diễn ra hết sức quyết liệt; chủ nghĩa dân tộc, chính trị cường quyền, tranh chấp lãnh thổ, các hành vi đơn phương vi phạm luật pháp quốc tế gia tăng; chủ nghĩa đa phương bị thách thức nghiêm trọng, tạo nên trạng thái quan hệ quốc tế bất định, bất ổn và bất an.
Trong bối cảnh đầy thách thức đó, với thông điệp chủ đề “Đối tác vì hòa bình bền vững”, Việt Nam đã quyết tâm và làm hết sức mình để hiện thực hóa cam kết xây dựng quan hệ đối tác, sẵn sàng hợp tác với tất cả các thành viên HĐBA, thành viên LHQ vì mục tiêu chung là thúc đẩy mạnh mẽ nỗ lực xây dựng hòa bình bền vững và cuộc sống tốt hơn cho tất cả mọi người dân trên thế giới, phù hợp với quan tâm chung của cộng đồng quốc tế và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng của người dân về phòng ngừa xung đột, giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế. Việt Nam cũng đã chủ động, tích cực đóng góp cho công việc chung của cộng đồng, thể hiện sinh động hình ảnh Việt Nam đổi mới, hội nhập quốc tế toàn diện, yêu chuộng hòa bình, tích cực và trách nhiệm, có năng lực, bản lĩnh và bản sắc đối ngoại theo phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, qua đó, tạo thêm giá trị, nền tảng lâu dài cho việc hiện thực hóa khát vọng, tầm nhìn phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ nhất, Việt Nam đã cùng các thành viên khác đảm bảo hoạt động thông suốt của HĐBA với chương trình nghị sự phong phú, nội dung rộng khắp, bao quát tình hình ở tất cả các châu lục, nhiều điểm nóng và vấn đề được quốc tế quan tâm hàng đầu. Trong năm 2020-2021, HĐBA đã có gần 900 cuộc họp cấp đại sứ trở lên, hàng nghìn cuộc tham vấn các cấp, thông qua 247 văn kiện (trong đó có 111 nghị quyết, 37 tuyên bố Chủ tịch, 100 tuyên bố báo chí); thảo luận các vấn đề quốc tế nóng nhất từ ứng phó COVID-19, biến đổi khí hậu, hoạt động gìn giữ hòa bình, bảo vệ thường dân, chống khủng bố… đến xung đột, bất ổn tại Libya, Israel-Palestine, Ethiopia, Syria, Myanmar…
Thứ hai, Việt Nam tích cực tham gia bàn thảo, tìm giải pháp cho tất cả các vấn đề trong chương trình nghị sự HĐBA ở tất cả các khu vực, trong đó có các cuộc xung đột ở châu Phi, khủng hoảng nhân đạo ở khu vực Trung Đông, cũng như các vấn đề chủ đề quan trọng như chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, bảo vệ thường dân trong xung đột vũ trang, an ninh biển, biến đổi khí hậu, ứng phó với đại dịch COVID-19... Thúc đẩy đồng thuận chung, thúc đẩy hợp tác, đối thoại, giảm căng thẳng, đối đầu; tìm giải pháp công bằng, hợp lý cho các vấn đề đe doạ hoà bình, an ninh khu vực và quốc tế; giữ vững nguyên tắc song vẫn đảm bảo linh hoạt, khéo léo trong ứng xử với các nước, các bên.
Thứ ba, Việt Nam đã quan tâm và thúc đẩy xử lý một cách tổng thể các thách thức về hòa bình an ninh từ phòng ngừa xung đột, giải quyết xung đột đến xử lý hậu quả xung đột, trong đó nhấn mạnh vấn đề giải quyết hậu quả bom mìn, đề cao yêu cầu giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của xung đột, đồng thời đề cao các nỗ lực, kinh nghiệm của Việt Nam trong quá trình tái thiết và phát triển đất nước. Việt Nam đã tổ chức thành công phiên thảo luận mở do Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn chủ trì về khắc phục hậu quả bom mìn và thông qua Tuyên bố Chủ tịch về vấn đề này vào tháng 4/2021. Đây là Tuyên bố đầu tiên của HĐBA đề cập riêng đến vấn đề khắc phục hậu quả bom mìn, nhấn mạnh mối liên hệ giữa khắc phục hậu quả bom mìn với duy trì hòa bình, ổn định và phát triển bền vững, đề cao sự cần thiết phải tăng cường hợp tác quốc tế và đặc biệt là khẳng định cam kết của HĐBA đối với lĩnh vực này - điều các văn kiện trước đó chưa làm được.
Đóng góp của Việt Nam trên cương vị UVKTT HĐBA LHQ được bạn bè đối tác đánh giá cao. Tổng thư ký LHQ Antonio Guiteres ghi nhận “Việt Nam đã luôn là đối tác mạnh mẽ của LHQ kể từ khi gia nhập tổ chức vào năm 1977. Giờ đây, sau hơn 40 năm, Việt Nam đang thể hiện là một nhân tố quan trọng đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực".
Thứ tư, Việt Nam cũng đã thể hiện tinh thần đoàn kết ASEAN, phối hợp chặt chẽ với Indonesia trong năm 2020 (khi cả hai nước là UVKTT HĐBA), thúc đẩy vai trò trung tâm của ASEAN và hợp tác giữa ASEAN và LHQ nói chung và với HĐBA nói riêng. Trên vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và nước ASEAN duy nhất tại HĐBA năm 2021, Việt Nam đã củng cố và nâng cao vai trò trung tâm của ASEAN trong việc giải quyết các vấn đề an ninh khu vực và tăng cường hợp tác giữa ASEAN và HĐBA LHQ thông qua việc tổ chức Phiên thảo luận mở đầu tiên của HĐBA về hợp tác giữa ASEAN và LHQ vào tháng 1/2020 và Phiên thảo luận mở về vai trò các tổ chức khu vực trong phòng ngừa xung đột và xây dựng lòng tin, thúc đẩy thông qua tuyên bố; đề cao vai trò của ASEAN trong thảo luận và văn kiện của HĐBA về vấn đề Myanmar.
Thứ năm, kiên trì lập trường nhất quán tuân thủ Hiến chương LHQ và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế: thúc đẩy hòa bình, độc lập dân tộc, chống chiến tranh, tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng có lợi giữa các nước, tôn trọng độc lập, chủ quyền, nguyên tắc không can thiệp công việc nội bộ, giải quyết hòa bình tranh chấp… Trong lần đầu tiên đảm nhiệm vai trò Chủ tịch HĐBA (tháng 1/2020), Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đã chủ trì Phiên thảo luận mở với chủ đề “Thúc đẩy tuân thủ Hiến chương LHQ trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế” với sự tham gia và phát biểu của 111 diễn giả từ 106 quốc gia, cũng là số diễn giả cao nhất từ trước đến nay trong các cuộc thảo luận mở của HĐBA. Cũng tại phiên thảo luận này, lần đầu tiên trong lịch sử, HĐBA thông qua một Tuyên bố Chủ tịch riêng về tuân thủ Hiến chương LHQ, khẳng định giá trị bền vững của Hiến chương trong duy trì hòa bình và an ninh quốc tế và điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia, nhấn mạnh tất cả các nước, các cơ quan LHQ, các tổ chức khu vực cần bảo đảm xử lý các vấn đề liên quan đến hòa bình và an ninh quốc tế phù hợp với Hiến chương LHQ.
Thứ sáu, Việt Nam đã để lại dấu ấn về tinh thần nhân văn của dân tộc. Xuất phát từ chính những kinh nghiệm của Việt Nam từng trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh, Việt Nam đã thúc đẩy các vấn đề nhân đạo như bảo vệ thường dân trong xung đột vũ trang, nhất là các đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em trong xung đột vũ trang; luôn đề cao lợi ích của người dân trong các biện pháp, cách thức xử lý của HĐBA (như trong vấn đề Syria, Yemen...). Sự kiện do Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn chủ trì và thông qua Nghị quyết 2573 về Bảo vệ cơ sở hạ tầng thiết yếu đưa ra những quy định tổng thể, dài hạn đối với việc bảo vệ hệ thống các cơ sở hạ tầng thiết yếu cũng như nhân viên vận hành.
Thứ bảy, Việt Nam đã thúc đẩy một cách hiệu quả các ưu tiên và khẳng định vai trò quốc tế của Việt Nam như giới thiệu và thúc đẩy Đại hội đồng LHQ thông qua Nghị quyết về Ngày quốc tế phòng, chống dịch; thành lập và đưa vào hoạt động Nhóm bạn bè Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) với hơn 113 nước tham gia; tái cử thành công vào Ủy ban Luật pháp quốc tế LHQ (ILC) nhiệm kỳ 2021-2026; vận động ứng cử vào các cơ quan LHQ khác như Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025; tích cực tham gia, khẳng định lập trường trong thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, công bằng trong tiếp cận vaccine, biến đổi khí hậu, an ninh biển.
Thứ tám, Việt Nam cũng có những đóng góp rất thiết thực đối với công việc của HĐBA, như cử Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 3 lên đường nhận nhiệm vụ tại Phái bộ Gìn giữ hòa bình (GGHB) LHQ tại Nam Sudan vào cuối tháng 3/2021; mở rộng lĩnh vực, địa bàn và quy mô lực lượng tham gia hoạt động GGHB LHQ, trong đó lần đầu tiên triển khai Đại đội công binh tại Phái bộ UNISFA ở Abyei (Sudan/Nam Sudan). Tham gia của Việt Nam đối với các hoạt động GGHB LHQ được LHQ và bạn bè quốc tế, đặc biệt là người dân sở tại ghi nhận và trân trọng, góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam. Đó cũng là tiền đề để 3 sĩ quan Việt Nam đã được lựa chọn trúng tuyển vào làm việc tại Trụ sở LHQ trong giai đoạn 2021 – 2023.
Đóng góp của Việt Nam trên cương vị UVKTT HĐBA LHQ được bạn bè đối tác đánh giá cao. Tổng thư ký LHQ Antonio Guiteres ghi nhận “Việt Nam đã luôn là đối tác mạnh mẽ của LHQ kể từ khi gia nhập tổ chức vào năm 1977. Giờ đây, sau hơn 40 năm, Việt Nam đang thể hiện là một nhân tố quan trọng đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực". Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Thường trực Vương quốc Anh bên cạnh LHQ Barbara Woodward ca ngợi “Việt Nam là một đối tác rất tuyệt vời trong HĐBA trong việc giải quyết tất cả các vấn đề. Dù là vấn đề gần với Việt Nam về địa lý như Myanmar, hay xa xôi như Afghanistan, Ethiopia, Sudan... Việt Nam đều tìm được cách tiếp cận rất tốt”.
Đây chính là thành quả của quyết tâm, nỗ lực chung của toàn Đảng và toàn dân, sự vào cuộc của hệ thống chính trị, sự chỉ đạo sát sao và tham gia trực tiếp của lãnh đạo cấp cao, sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của các bộ, ngành, ý chí đoàn kết và sự đồng lòng của cả dân tộc, sự hỗ trợ của LHQ và bạn bè quốc tế cũng như sự ủng hộ rộng rãi của các đối tác. Kết quả đó cũng là nhờ thế và lực mới của đất nước đạt được sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập sâu rộng; kinh tế - xã hội phát triển ổn định, tiềm lực và quy mô kinh tế tăng, đời sống nhân dân tiếp tục được nâng cao; quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu, trong đó, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược/đối tác toàn diện với 30 nước, bao gồm tất cả các nước UVTT HĐBA. Đó cũng là do ta đã biết phát huy kinh nghiệm ngoại giao đúc kết hơn 75 năm qua, nhất là từ nhiệm kỳ UVKTT HĐBA LHQ giai đoạn 2008-2009 và bài học chân lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại, vừa đặt mục tiêu cao nhất là lợi ích quốc gia - dân tộc, vừa có cách làm sáng tạo, chính trực, xử lý hài hòa quan tâm chung của các nước, các đối tác. “Lửa thử vàng gian nan thử sức” - Chính những thách thức trong thời gian qua đã một lần nữa khẳng định bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, tâm thế sẵn sàng cho các “cuộc chơi” lớn./.
TẾT LÀ MỘT DI SẢN VĂN HÓA
Tết truyền thống của Á Đông theo lịch mặt trăng là một di sản văn hóa cực kì to lớn của người dân trong khu vực, nhất là của người Việt Nam ta. Tất cả mọi sinh hoạt, mọi tình cảm, mọi toan tính của con người đều bị chi phối bởi ngày tết. Tết cuốn mọi điều của cuộc sống con người vào đấy.
Ý nghĩa văn hóa lớn thứ nhất là có tính tâm linh. Đó là ngày con người kết nối với thần thánh, chuẩn bị cho một tương lai mới với khoảng thời gian của một năm mới, nên đủ nghi lễ phải thực hiện. Tết cũng là dịp tưởng nhớ tổ tiên, cúng kiếng, mời rước đưa tiễn thân thiết vô cùng. Tết cũng là những ngày được cho là dễ hiện ra những điềm báo trước cuộc đời, nên người ta hay tò mò bói toán (kể cũng vui)
Ý nghĩa văn hóa thứ hai là có tính xã hội, con người lúc đó buộc phải tìm cách cải thiện mối quan hệ với tất cả mọi người dù trước kia có trục trặc gì đó. Đặc biệt là quan hệ với gia đình là cốt lõi của mọi mối quan hệ, sự sum vầy, chúc tụng, quà tặng (lì xì là một biểu hiện của việc muốn củng cố tình cảm). Ai gặp nhau cũng phải vui, phải cười, phải chào hỏi. Nhờ vậy sự xung đột xã hội cũng giảm bớt. Tết có sức mạnh buộc mọi người phải cải thiện quan hệ xã hội, một cách tự nhiên, thiêng liêng.
Ý nghĩa văn hóa thứ ba là giáo dục đạo đức. Sự giáo dục này không có bài bản rõ rệt, mà trở thành tiềm thức của dân tộc. Mọi hành vi của con người phải cẩn thận chu đáo. Nhà cửa phải sạch sẽ đẹp đẽ. Quần áo phải tươm tất lịch sự. Câu chào tiếng nói đều phải đạt đến mức độ văn minh lễ nghĩa. Tết là dịp con người nâng cao tư cách của mình lên một chút.
Ý nghĩa văn hóa thứ tư là tạo niềm vui cho nhau. Những ngày tết không ai được xúc phạm ai, chỉ cố gắng làm cho nhau vui. Có nhiều cách thức tạo niềm vui cho nhau, nhưng đôi khi không khéo cuộc vui lại end up ở bài bạc, nhậu nhẹt, la hét, bây giờ thêm karaoke khủng bố hàng xóm. Làm sao tạo niềm vui cho nhau mà vẫn đàng hoàng lành mạnh là hay nhất.
Dĩ nhiên tết cũng tạo ra một số điều phiền toái, cũng trở thành áp lực khi ta không đủ điều kiện đáp ứng yêu cầu văn hóa lớn lao của tết. Tuy nhiên, nếu ta có lòng, nếu ta có phước, thì tết thật sự là quà tặng của tổ tiên để lại cho muôn đời sau. Ta hãy xem mỗi dịp tết là một lần ta improve ourselves về mọi thứ. Tết là cơ hội, và cũng là thử thách.