Thứ Năm, 12 tháng 6, 2025

Sự ra đời, phát triển của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là toàn bộ những thể chế, thiết chế, cơ chế chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa, thể hiện và bảo đảm quyền lực thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa được phôi thai từ thực tiễn đấu tranh giai cấp ở Pháp là Công xã Paris (1871), tuy nhiên, chỉ đến khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, với sự ra đời của nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa mới được xác lập, đánh dấu bước phát triển mới về chất của dân chủ. Quá trình phát triển của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, có sự kế thừa giá trị của các chế độ dân chủ trước đó, và bổ sung, làm sâu sắc thêm những giá trị của chế độ dân chủ mới. Nguyên tắc cơ bản của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Càng hoàn thiện bao nhiêu, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa lại càng tự tiêu vong bấy nhiêu. Thực chất của sự tiêu vong này theo V.I.Lênin, đó là tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi trên cơ sở không ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ thể quyền lực của nhân dân, tạo điều kiện cho họ tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản lý xã hội (xã hội tự quản). Quá trình đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt xã hội để đến lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ, tức là mất đi tính chính trị của nó. Tuy nhiên, theo chủ nghĩa Mác - Lênin, đây là quá trình lâu dài, khi xã hội đạt đến trình độ phát triển rất cao, xã hội không còn sự phân chia giai cấp, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện, khi đó dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là một chế độ nhà nước cũng tiêu vong, không còn nữa.

Các tổ chức chính trị - xã hội.

 


Các tổ chức chính trị - xã hội là nơi tập hợp quần chúng, phản ánh ý chí, nguyện vọng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân. Các tổ chức chính trị - xã hội là bộ phận không tách rời của hệ thống chính trị và là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, một trong những công cụ bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Những tổ chức này có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng đảng, nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với đảng, nhà nước, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân  lao động làm chủ.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa

 


Nhà nước xã hội chủ nghĩa là trụ cột của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Nhà nước là phương tiện quan trọng nhất của nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Trên cơ sở đường lối quan điểm của Đảng, Nhà nước thể chế hoá thành Hiến pháp, pháp luật và các quy định pháp luật khác để quản lý xã hội. Hoạt động của nhà nước đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng nhưng có tính độc lập tương đối, với các công cụ và phương thức quản lý riêng. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, được tổ chức và thực hiện theo nguyên tắc: quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Đảng Cộng sản vừa là thành tố, vừa là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

 


Đảng Cộng sản vừa là thành tố, vừa là lực lượng lãnh đạo hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Mục đích của Đảng Cộng sản là xây dựng một xã hội độc lập, dân chủ, công bằng, không còn người  bóc  lột  người,  thực hiện  thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền, do đó giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị và trong xã hội: Đảng không chỉ là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị mà còn là lực lượng lãnh đạo toàn hệ thống chính trị và lãnh đạo toàn bộ xã hội. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.

Đặc điểm hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

 


Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ra đời, tồn tại, phát triển gắn với sự ra đời, phát trỉển của nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, đảng cầm quyền với nhiều tên gọi khác nhau (như đảng cộng sản, đảng lao động, đảng nhân dân cách mạng) ra đời trong phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã tập hợp và lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội nhằm xoá bỏ nhà nước cũ (nhà nước phong kiến nhà nước tư sản) và thiết lập nhà nước mới - nhà nước xã hội chủ nghĩa. Kể từ khi nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời thì hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa cũng được hình thành, trong đó bao gồm nhà nước, đảng cầm quyền và các tổ chức chính trị - xã hội khác, nó tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Như vậy, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới được thiết lập gắn liền với sự ra đời của nhà nước Nga xô viết sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917.

Các tổ chức thành viên hệ thống chính trị đều là những tố chức hợp pháp, được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; có sự phân định rõ ràng về nhiệm vụ cơ bản nhằm thực thi quyền lực nhân dân trong xã hội. Sự tồn tại, hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đều được quy định chặt chẽ trong hiến pháp và các đạo luật. Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, đảng cộng sản nắm quyền lãnh đạo nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội bằng các phương thức khác nhau; nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lí tập trung, thống nhất xã hội theo chủ trương, đường lối, chính sách của đảng cộng sản và trên cơ sở hiến pháp, pháp luật; các tổ chức chính trị xã hội tham gia quản lí nhà nước, quản lí xã hội theo hiến pháp, pháp luật.

Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mang bản chất dân chủ, gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân. Đây là đặc điểm có tính nguyên tắc của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Đặc điểm này khẳng định hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa không chỉ gắn với chính trị, quyền lực chính trị, mà còn gắn với xã hội. Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, có các tồ chức chính trị (như Đảng, Nhà nước), các tổ chức vừa có tính chính trị, vừa có tính xã hội (các tổ chức chính trị xã hội). Do vậy, hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa không đứng trên xã hội, tách khỏi đời sống xã hội (như những lực lượng chính trị áp bức xã hội trong các xã hội có bóc lột), mà là một bộ phận của xã hội, gắn bó chặt chẽ với xã hội. Cầu nối quan trọng giữa hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa với xã hội chính là các tổ chức chính trị xã hội. 

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

 


Hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội có mối quan hệ với nhau, vận hành theo một cơ chế chính trị nhất định, bảo đảm cho việc thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền trong quan hệ với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội khác. Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự thống trị của giai cấp, nhà nước và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó hệ thống chính trị mang bản chất giai cấp của giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị gồm hai bộ phận cơ bản. Thứ nhất, là các tổ chức chính trị xã hội bao gồm các đảng phái chính trị, nhà nước; các tổ chức chính trị khác; Các tổ chức chính trị- xã hội được thừa nhận và liên kết trong một chỉnh thể. Thứ  hai, là cơ chế chính trị bảo đảm cho sự vận hành của hệ thống chính trị, xác định vị trí và mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị, giữa toàn bộ hệ thống chính trị và của mỗi thành tố hệ thống chính trị đối với xã hội. Việc hình thành và hoạt động của các thành tố trong hệ thống chính trị được quy định và chi phối bởi hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền, quan điểm của các đảng phái chính trị, các chuẩn mực và truyền thống chính trị, cũng như hiện thực đời sống chính trị trong điều kiện lịch sử xác định. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể, bao gồm toàn bộ những tổ chức chính trị - xã hội hoạt động hợp pháp, cùng với những cơ chế chính trị bảo đảm thực hiện quyền lực xã hội thuộc về nhân dân nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể các tổ chức chính trị- xã hội bao gồm: Đảng cộng sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa và các tổ chức chính trị- xã hội khác (Mặt trận, Công đoàn, Phụ nữ, Thanh niên...) hoạt động hợp pháp, với những cơ chế chính trị thích hợp bảo đảm vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội đó và giải quyết các mối quan hệ giữa các thành tố đó với nhau, và của cả hệ thống chính trị với xã hội, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa đồng nhất với hệ thống chuyên chính vô sản, đó là hệ thống chính trị nhất nguyên do Đảng cộng sản lãnh đạo, vận hành theo cơ chế: Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân lao động làm chủ. Cơ chế này xác định và bảo đảm cho vị trí, vai trò và mối quan hệ của các thành tố trong hệ thống chính trị, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. V.I.Lênin khẳng định: “Không có một đảng sắt thép được tôi luyện trong đấu tranh, không có một đảng được sự tín nhiệm của tất cả những phần tử trung thực trong giai cấp, không có một đảng biết nhận xét tâm trạng của quần chúng và biết tác động vào tâm trạng đó thì không thể tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ấy được”1. Do đó, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng Mác - Lênin đối với hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa và toàn xã hội là nguyên tắc tối cao, là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa có chức năng cơ bản là xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Mỗi thành tố cấu thành hệ thống chính trị, tuỳ theo đặc điểm, tính chất, nhiệm vụ của mình có chức năng xác định. Trong đó, Đảng cộng sản vừa là hạt nhân lãnh đạo, vừa là một thành tố của hệ thống chính trị, là thành viên của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng cộng sản đại biểu cho ý chí và lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc, liên hệ mật thiết với nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật xã hội chủ nghĩa.



1 V.I.Lênin, toàn tập, tập 41, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2005, tr. 34.

Trách nhiệm Quân đội nhân dân Việt Nam trong xu thế phát triển của thời đại ngày nay

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Việc nắm vững những vấn đề lý luận về thời đại góp phần làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ cơ sở khoa học tất yếu của sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Đảng và nhân dân ta. Đi lên chủ nghĩa xã hội là lựa chọn hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế tất yếu của lịch sử. Mặc dù, trong những giai đoạn khác nhau của thời đại, cuộc đấu tranh cách mạng không tránh khỏi những khó khăn, thử thách, nhưng nếu có nhận thức lý luận vững vàng về  thời đại, chúng ta sẽ không nao núng, luôn giữ vững được niềm tin cách mạng.

Nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong Quân đội phải ra sức học tập, rèn luyện nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, bản chất giai cấp công nhân; hiểu biết sâu sắc về thời đại hiện nay, nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, lý luận về thời đại, không ngừng xây dựng niềm tin, bản lĩnh, ý chí cách mạng. Bên cạnh đó, phải không ngừng trau dồi tri thức lý luận, rèn luyện bản lĩnh cách mạng, tham gia đấu tranh có hiệu quả chống lại các quan điểm phản động, sai trái liên quan đến vấn đề thời đại, góp phần bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Xu thế các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt.

 


Mặc dù giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội còn mâu thuẫn và đối lập nhau về lợi ích, ý thức hệ nhưng sự hợp tác và đấu tranh đã trở thành xu thế vận động tất yếu của thế giới hiện nay. Bởi vì các nước xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế phát triển thấp, khoa học và công nghệ chưa phát triển, cần tranh thủ công nghệ của các nước tư bản phát triển để nâng cao đời sống, tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập. Còn các các nước tư bản chủ nghĩa với mục đích thu lợi nhuận đòi hỏi phải mở rộng đầu tư, giao lưu, hợp tác, kể cả với các nước xã hội chủ nghĩa.

Đấu tranh và hợp tác cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị- xã hội khác nhau là nguyên tắc, phương pháp xử lý quan hệ quốc tế hiện nay. Khi nhu cầu hội nhập ngày càng gia tăng, thì môi trường hoà bình, ổn định là điều kiện để hội nhập tốt hơn, hiệu quả hơn. Trước bối cảnh cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, xu hướng toàn cầu hoá và những vấn đề mang tính toàn cầu, các quốc gia dân tộc không thể tự mình độc lập giải quyết mọi vấn đề, buộc phải có sự hợp tác, liên kết. Hơn nữa, xu thế hòa bình giúp cho các nước liên kết, hợp tác sâu rộng trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, với hình thức hợp tác từ song phương đến đa phương, từ khu vực đến quốc tế.

Dù không đồng đều, song sự hợp tác liên kết giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau đã đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho các bên. Tuy nhiên, do bản chất chế độ và lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc, giai cấp, lực lượng khác nhau nên sự hợp tác, liên kết đó chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Cội nguồn của những mâu thuẫn là vấn đề lợi ích, nhất là lợi ích kinh tế. Các bên tham gia hợp tác, liên kết đều muốn lợi nhiều. Nhưng nhiều khi lợi cho đối tượng này lại có thể gây tổn hại cho đối tượng khác. Vì thế, quá trình hợp tác, liên kết cũng là nơi diễn ra cuộc đấu tranh giữa các lợi ích, mà chủ thể của các lợi ích này là các tập đoàn kinh tế, các giai cấp, dân tộc, quốc gia và liên quốc gia.

Xu thế các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, tiến bộ kiên trì đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.


Phong trào cộng sản quốc tế có những dấu hiệu phục hồi rõ nét và vẫn là một lực lượng chính trị to lớn trong thời đại ngày nay. Các đảng cộng sản cầm quyền đã vượt qua được những thử thách khắc nghiệt nhất, tiếp tục lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cải cách và đổi mới. Các đảng cộng sản chưa cầm quyền có những điều chỉnh đường lối chiến lược và sách lược, đấu tranh bằng nhiều hình thức đa dạng, đổi mới tập hợp lực lượng, cải thiện vai trò, vị trí trong đời sống chính trị đất nước.

Sự củng cố, lớn mạnh của các đảng cộng sản cầm quyền và sự phục hồi nhất định của các đảng cộng sản ở các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển, đặc biệt là sự phát triển của trào lưu cánh tả Mỹ Latinh đang mở ra triển vọng mới cho phong trào cộng sản, công nhân quốc tế trong thế kỷ XXI. Mặc dù chủ nghĩa xã hội đang gặp khó khăn rất lớn do sự chống phá của các thế lực thù địch, nhưng các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân quốc tế vẫn là lực lượng đi đầu, là nòng cốt trong cuộc đấu tranh chống lại những thế lực gây chiến, bảo vệ hòa bình thế giới cũng như sự phát triển và tiến bộ của nhân loại. 

Các dân tộc nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.

 


Đối với các nước đang phát triển, do sự phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển về khoa học, công nghệ và vốn, nên họ đang đứng trước những thách thức lớn. Việc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đấu tranh chống sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh quốc tế hiện nay. Cùng với việc khắc phục khó khăn để phát triển kinh tế - xã hội, nhiều nước đang cố gắng giữ ổn định về chính trị, tạo môi trường hoà bình, thực hiện chính sách hoà giải, hoà hợp dân tộc, chủ động hội nhập quốc tế, góp phần xây dựng một trật tự kinh tế quốc tế công bằng, bình đẳng và hợp lý.

Các dân tộc ngày càng hiểu rõ giá trị của độc lập, tự chủ, tự cường. Bài học thực tiễn sâu sắc là mất độc lập, tự chủ, đất nước thường rơi vào cảnh đói nghèo, bất công, vị thế trên trường quốc tế giảm sút. Đồng thời, những tấm gương về một dân tộc nhỏ bé đã chủ động, sáng tạo đấu tranh giành độc lập, tự chủ và phát triển đang cổ vũ cho các dân tộc khác noi theo. Hiện nay, các dân tộc đang tích cực đấu tranh đòi độc lập, tự chủ chống lại mưu đồ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Tuy gặp nhiều khó khăn, song các nước khác vẫn quyết tâm chống lại các hình thức can thiệp, áp đặt của các nước tư bản, đòi thiết lập trật tự thế giới mới công bằng, bình đẳng, giữ gìn độc lập tự chủ.

Vai trò, trách nhiệm Quân đội nhân dân Việt Nam vể công tác tôn giáo

 


Quán triệt sâu sắc quan điểm chủ nghĩa  Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và tôn giáo, quan điểm chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, nội dung công tác dân tộc, tôn giáo của quân đội. Nắm chắc tình hình ở đơn vị và địa bàn. Tích cực tuyên truyền về chính sách đại đoàn kết dât tộc, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo với nhau. Tăng cường công tác dân vận, nhất là dân vận vùng tôn giáo.

Thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo đối với quân nhân có đạo và người đồng bào dân tộc. Tích cực giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng quân nhân có đạo và dân tộc ít người trở thành quân nhân tốt, cán bộ, đảng viên phục vụ quân đội và địa phương sau khi giải ngũ. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn các hiện tượng mê tín dị đoan, vi phạm chính sách dân tộc, tôn giáo trong đơn vị. Phối hợp cùng chính quyền, đoàn thể làm tốt công tác vận động nhân dân nâng cao cảnh giác cách mạng để vô hiệu hoá mọi sự lợi dụng tôn giáo của kẻ thù. Tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. 

Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay.

 


Thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trên cơ sở pháp luật. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đảm bảo cho đồng bào có cuộc sống sống “tốt đời, đẹp đạo”. Hướng dẫn các chức sắc tôn giáo, giáo hội hoạt động theo đúng pháp luật, ủng hộ các xu hướng tiến bộ trong các tôn giáo, làm cho giáo hội ngày càng gắn bó với dân tộc và sự nghiệp cách mạng của toàn dân, thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của tôn giáo ở một quốc gia độc lập.

Luôn luôn cảnh giác, kịp thời chống lại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân, chống chủ nghĩa xã hội. Những quan hệ quốc tế và đối ngoại liên quan đến tôn giáo phải tuân theo chế độ và chính sách chung về quan hệ quốc tế đối ngoại của Nhà nước và theo quy định của pháp luật. 

Quan điểm về tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay.

 


Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và không theo đạo, cũng như giữa các tôn giáo khác nhau. Đoàn kết gắn bó đồng bào theo các tôn giáo và không theo tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân. Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; gìn giữ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.

Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được bảo đảm. Những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và phát huy. Mọi hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để làm mất trật tự an toàn xã hội, phương hại nền độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đoàn kết toàn dân, chống lại Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây tổn hại các giá trị đạo đức, lối sống, văn hoá của dân tộc, ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo thực hiện nghĩa vụ công dân, đều bị xử lý theo pháp luật. Hoạt động mê tín phải phê phán và loại bỏ.                        

Các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, các tổ chức xã hội và các tổ chức tôn giáo có trách nhiệm làm tốt công tác vận động quần chúng và thực hiện đúng đắn chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.

Đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam

 


Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo, các tôn giáo hoạt động ôn hoà; một số tôn giáo ngoại nhập ít nhiều bị Việt Nam hoá;  các tôn giáo mang đậm tính chất dân tộc, vì dân, vì nước. Đời sống tôn giáo ở Việt Nam thay đổi theo hoàn cảnh chính trị, tôn giáo vận hành theo lối tiểu nông. Hiện nay, một số tôn giáo bị các thế lực thù địch phản động trong và ngoài nước lợi dụng vì mục đích chính trị; hoạt động tôn giáo trong những năm gần đây có biểu hiện mang tính chất thị trường.

Tình hình tôn giáo ở Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo khác nhau, chủ yếu du nhập từ nước ngoài vào. Có tôn giáo du nhập vào nước ta từ những thế kỷ đầu của công nguyên. Hiện nay, ở nước ta có 6 tôn giáo lớn đang tồn tại và hoạt động, đó là Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài, Hoà hảo với số tín đồ trên 26,5 triệu[1]. Có người cùng lúc tham gia nhiều hành vi tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Trong những năm gần đây hoạt động của các tôn giáo có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt đời sống của cá nhân và đời sống xã hội.

Tín đồ tôn giáo ở nước ta đại bộ phận là nông dân và nhân dân lao động. Đây là yếu tố quan trọng phản ánh lợi ích cơ bản của họ thống nhất với lợi ích của giai cấp công nhân, lợi ích dân tộc, là cơ sở khách quan thuận lợi trong đoàn kết dân tộc, tập hợp lực lượng thực hiện sự nghiệp cách mạng của Đảng. Thực tế, mặc dù có tín ngưỡng tôn giáo, nhưng cơ bản đồng bào các tôn giáo là người có tinh thần yêu nước, có ý thức gắn bó cùng dân tộc, dễ gần và đi theo cách mạng. Nhiều tín đồ, chức sắc tôn giáo đã tích cực góp phần xứng đáng cùng khối đại đoàn kết toàn dân trong các cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc và trong xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta có phần đóng góp đáng kể của đông đảo quần chúng có tín ngưỡng tôn giáo.

Trong những năm qua, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong đó có đồng bào các tôn giáo được cải thiện, cơ sở thờ tự được tu bổ, xây dựng mới khang trang, đẹp đẽ. Các lễ hội tôn giáo diễn ra đa dạng và sôi động ở nhiều nơi.

Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo được cải thiện đã làm cho đồng bào tôn giáo tăng thêm niềm tin vào Đảng, Nhà nước. Đồng bào ngày càng nhận rõ lợi ích của bản thân và lợi ích của tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của đất nước. Ý thức dân tộc, ý thức, trách nhiệm công dân của đồng bào tôn giáo được nâng lên, đồng thời ý thức tình cảm tôn giáo cũng được tôn trọng, đảm bảo.

Tuy nhiên, tình hình tôn giáo hiện nay còn có những biểu hiện phức tạp, tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định. Vẫn còn một số người chưa tuân thủ pháp luật, các hiện tượng truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan vẫn còn diễn ra, ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt đời sống của cá nhân và đời sống xã hội.

Một bộ phận đồng bào tôn giáo chưa thật sự thông hiểu đầy đủ luật pháp và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, khi tình cảm tôn giáo bị kích động, đồng bào dễ bị lôi kéo vào những hoạt động trái pháp luật. Ở một số nơi nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, kẻ địch đang ra sức lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành hoạt động chống đối, kích động tín đồ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị.



[1] Sách trắng "Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam".

Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

 


Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới: Điều đó nói lên rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảo tưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảo tưởng ấy. Đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong tôn giáo là gián tiếp đấu tranh với cái thế giới đang cần có ảo tưởng. Điều cần thiết trước hết phải xác lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công, nghèo đói và thất học cùng những tệ nạn nảy sinh trong xã hội.

Có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo: Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã hội không như nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội luôn có sự khác biệt. Vì vậy cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo.

Tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tính ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân: Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật. Quyền ấy không chỉ thể hiện về mặt pháp lý mà còn được thực hiện trên thực tiễn một cách nhất quán, xuyên suốt, lâu dài của Đảng. Tuy nhiên, đi đôi với việc tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tính ngưỡng phải chống lại những kẻ lợi dụng tự do tín ngưỡng để chống phá cách mạng.

Phân biệt hai mặt nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo (mặt chính trị và mặt tư tưởng): Vì có sự phân biệt được hai mặt đó mới tránh khỏi khuynh hướng tả hoặc hữu trong quá trình quản lý, ứng xử với những vấn đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo. Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo sẽ còn tồn tại lâu dài, phải được tôn trọng và bảo đảm. Mọi biểu hiện vi phạm quyền ấy là trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo

 


Nguồn gốc nảy sinh, tồn tại tôn giáo vẫn còn như: Nguồn gốc nhận thức (nguồn gốc tự nhiên); nguồn gốc kinh tế - xã hội; nguồn gốc tâm lý; nguồn gốc chính trị - xã hội; nguồn gốc văn hoá.

Về nguồn gốc nhận thức (nguồn gốc tự nhiên), trong chủ nghĩa xã hội, trình độ khoa học, trình độ dân trí đã có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hiện tượng tự nhiên, xã hội mà khoa học chưa thể lý giải, hoặc khoa học đã lý giải được, nhưng người dân vẫn chưa nhận thức được hoặc nhận thức chưa đầy đủ, dẫn đến còn niềm tin tôn giáo.

Về nguồn gốc kinh tế - xã hội, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu; nhiều giai cấp với những lợi ích khác nhau, điều đó dẫn đến trong xã hội vẫn còn tồn tại những bất bình đẳng, bất công, phân hóa giàu nghèo, làm cho con người vẫn có tâm trạng bi quan, chán nản, cầu mong sự giúp đỡ, che chở của những lực lượng siêu nhiên, muốn tìm sự bình an nơi tôn giáo.

Về nguồn gốc tâm lý, sự sợ hãi, lo âu của con người trước sức mạnh của tự nhiên, các hiện tượng dịch bệnh; cùng với đó là những rủi ro trong cuộc sống, trong sản xuất kinh doanh, dẫn đến tình trạng thua lỗ, phá sản... mà đưa người ta đến với tôn giáo, tin vào may rủi của số phận. Rồi, lòng biết ơn, sự ngưỡng mộ, kính trọng của nhân dân đối với những người có công với dân, với nước, những anh hùng dân tộc dẫn đến việc tôn thờ như những vị thánh, đó cũng chính là đưa người ta trở lại với tín ngưỡng, tôn giáo.

Về nguồn gốc chính trị - xã hội, tôn giáo có những điểm còn phù hợp với chủ nghĩa xã hội, với đường lối, chính sách của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Giá trị đạo đức, văn hoá của tôn giáo đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận nhân dân. Chính vì vậy, trong một chừng mực nhất định, tôn giáo vẫn có sức thu hút mạnh mẽ đối với một bộ phận quần chúng.

Về nguồn gốc văn hoá, trong thực tế, sinh hoạt tôn giáo đã đáp ứng được phần nào nhu cầu văn hoá tinh thần của cộng đồng xã hội và trong một mức độ nhất định, có ý nghĩa giáo dục ý thức cộng đồng, phong cách, lối sống của cá nhân trong cộng đồng. Vì vậy, sinh hoạt tôn giáo đã lôi cuốn một bộ phận nhân dân xuất phát từ nhu cầu văn hoá tinh thần, tình cảm của họ.

Từ những sai lầm, khuyết điểm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong quản lý kinh tế, xã hội và giải quyết vấn đề tôn giáo: Một số chủ trương, chính sách, pháp luật trong quản lý kinh tế - xã hội và giải quyết vấn đề tôn giáo chưa xuất phát từ thực tiễn, xa rời lý luận. Quá trình quản lý nóng vội, chủ quan, duy ý chí. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa được quan tâm đúng mức, dẫn đến một bộ phận cán bộ đảng viên thoái hóa, biến chất, xa rời quần chúng nhân dân.

Tín ngưỡng tôn giáo còn đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân: Xoa dịu nỗi đau, sự mất mát, những rủi ro trong cuộc sống. Văn hóa, đạo đức tôn giáo còn những điều phù hợp với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; khuyên con người làm việc thiện, tránh điều ác, mơ ước giải phóng con người khỏi áp bức, khổ đau.

Tính bảo thủ, lạc hậu của ý thức tôn giáo: Tôn giáo là một trong những hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất, đã in sâu vào đời sống tinh thần, ảnh hưởng khá sâu đậm đến nếp nghĩ, lối sống của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệ. Vì vậy, dù có thể có những biến đổi lớn lao về kinh tế, chính trị, xã hội thì tôn giáo cũng không thay đổi ngay.

Sự điều chỉnh, biến đổi của tôn giáo: Cải cách, đổi mới theo hướng “hiện đại hóa”; “quần chúng hóa”; thế tục hóa và tham gia ngày càng sâu rộng vào các hoạt động chính trị - xã hội.

Các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng: Tôn giáo là vấn đề rất nhạy cảm, kẻ thù lợi dụng nhằm kích động, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc, là một thủ đoạn trong âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Xu thế toàn cầu hóa trong thời đại ngày nay

 


Do sự phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng mang tính chất quốc tế, toàn cầu hóa trở thành một xu thế vận động khách quan. Biểu hiện của nó là việc các quốc gia càng phụ thuộc lẫn nhau. Các nước phát triển phụ thuộc vào nguồn nguyên, nhiên liệu và thị trường của các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển phụ thuộc vào vốn, khoa học công nghệ, máy móc thiết bị và thị trường của các nước phát triển. Các nước đều điều chỉnh chiến lược, chính sách phát triển, tăng cường tự do hóa, mở cửa và hội nhập quốc tế, hoàn thiện hệ thống luật pháp tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư và phát triển kinh tế.

Xu thế toàn cầu hoá thúc đẩy sự phát triển sâu rộng của các quan hệ kinh tế quốc tế, mở ra khả năng cho các quốc gia tham gia nhanh chóng và hiệu quả vào hệ thống phân công lao động quốc tế, tận dụng mọi nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển. Các nước có điều kiện, cơ hội bày tỏ chính kiến, bảo vệ lợi ích. Nó cũng thúc đẩy các hoạt động giao lưu văn hoá và tri thức, tăng cường sự hiểu biết, tin cậy và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Các quốc gia dân tộc ngày càng phụ thuộc lẫn nhau là cơ hội để loại bỏ mọi biểu hiện của ý đồ thiết lập mối quan hệ một chiều, áp đặt, chi phối của các siêu cường đối với các quốc gia dân tộc khác, là cơ hội cho sự hình thành một trật tự thế giới đa cực, đa trung tâm.

Tuy nhiên, toàn cầu hoá có thể gây ra những tác động tiêu cực, nhất là các nước đang phát triển. Đa số các nước trên thế giới phải chịu sự ràng buộc của các quy tắc kinh tế, thương mại do các nước phương Tây áp đặt; phải chịu sức ép cạnh tranh bất bình đẳng và sự điều tiết vĩ mô bất hợp lý của các nước tư bản phát triển. Toàn cầu hoá đe doạ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và vai trò của nhà nước. Đã xuất hiện mưu đồ lấy cái làng toàn cầu thay thế chủ quyền quốc gia. Trên lĩnh vực văn hoá, các quốc gia có nguy cơ bị các giá trị văn hóa ngoại lai xâm nhập ồ ạt, làm tổn hại bản sắc văn hoá dân tộc. Cơ cấu xã hội của mỗi quốc gia có thể biến động phức tạp, khó lường, làm cho phân tầng, phân hoá xã hội ngày càng sâu sắc.

Xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển trong thời đại ngày nay

 


Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chủ đạo trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Hòa bình là khát vọng, là mục tiêu đấu tranh của nhân loại tiến bộ. Hợp tác dựa trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và lợi ích của tất cả các bên, tin cậy lẫn nhau, cùng có lợi. Tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, tìm mọi cách tranh thủ cơ hội hòa bình, ngăn chặn, hạn chế và khắc phục những xung đột, bất đồng, thực hiện thống nhất trong đa dạng nhằm phục vụ mục tiêu phát triển đất nước. Không thể có sự phát triển nếu không có cơ sở và nền tảng là hòa bình, cũng không thể có phát triển nếu không thông qua phương thức hay động lực là hợp tác.

Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển biểu hiện qua việc các quốc gia chủ trương phối hợp giải quyết xung đột, chiến tranh bằng các giải pháp hòa bình, cam kết hiện thực hóa các thể chế trao đổi, hợp tác để ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hoà bình; đề cao vai trò của Liên hợp quốc trong duy trì, bảo vệ hoà bình và an ninh quốc tế. Giải quyết các mâu thuẫn, xung đột bằng phương pháp hoà bình, tăng cường đối thoại, tránh đối đầu. Bên cạnh đó còn có các hoạt động nhằm tháo gỡ ngòi nổ, không để chiến tranh mở rộng, leo thang, không quốc tế hoá các xung đột, không để các nước lớn can thiệp, thậm chí ở mức độ nào đó còn có sự thoả hiệp, nhượng bộ lẫn nhau giữa các nước nhằm duy trì hòa bình.

Hợp tác hiện nay là hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và môi trường, diễn ra bằng con đường song phương và đa phương, bằng mở cửa và hội nhập, bằng chia xẻ trách nhiệm và đảm bảo công bằng trong lợi ích, bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Hợp tác đòi hỏi phải tích cực, chủ động và cộng đồng trách nhiệm, không hẹp hòi, vụ lợi, không bá quyền, giải quyết hài hoà mối quan hệ dân tộc và quốc tế. Phát triển và những cơ hội phát triển trong công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc sẽ tạo ra thực lực đảm bảo cho hoà bình và hướng tới một nền hoà bình vững chắc.

Nhân loại đang đứng trước những vấn đề toàn cầu hết sức bức súc đòi hỏi phải có sự hợp tác đa phương để giải quyết.

 

Những vấn đề toàn cầu là những vấn đề lớn, có quy mô toàn thế giới, đe doạ đến sự tồn vong của cả loài người và nếu không được ngăn chặn, khặc phục thì hậu quả khốc liệt sẽ xảy ra như nhau đối với tất cả mọi người, mọi lực lượng, mọi quốc gia dân tộc. Việc khắc phục những hậu quả đó vô cùng phức tạp, khó khăn, lâu dài, đòi hỏi phải có sự phối hợp của tất cả các quốc gia trên thế giới. Nguồn gốc của những vấn đề toàn cầu, xét cho cùng vừa sâu xa, vừa trực tiếp là từ hai mối quan hệ cơ bản của con người. Đó là quan hệ xã hội giữa con người với con người và quan hệ giữa con người với tự nhiên. Chính sự thái quá, thậm chí cực đoan của con người trong việc giải quyết hai mối quan hệ trên khiến loài người phải đối diện trước những nguy cơ hủy diệt sự sống của mình.

Do sự khác biệt về lợi ích trong hoạt động sống, con người đã tác động đến thiên nhiên theo những xu hướng cực đoan khác nhau, khai thác không đi đôi với bồi đăp và bảo vệ, tất yếu phải gánh chịu những hậu họa thiên tai tàn khốc do tàn phá môi trường. Những vấn đề nan giải khác của nhân loại hiện nay đều nảy sinh như là kết quả của một thậm chí cả hai mối quan hệ cơ bản trên. Trong bối cảnh đó, sự gắn kết về lợi ích gia tăng cùng với nhận thức về trách nhiệm chung trong giải quyết những vấn đề toàn cầu trở thành yếu tố thuận lợi cho không khí hợp tác và đối thoại. Giải quyết những vấn đề này phụ thuộc vào đường lối của mỗi quốc gia và do đó phong trào quần chúng đòi giải quyết các vấn đề toàn cầu là một bộ phận của cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới

Chủ nghĩa tư bản hiện đại đang có nhiều ưu thế và còn khả năng phát triển nhất định, nhưng không thể khắc phục được mâu thuẫn cơ bản vốn có, không phải là tương lai của nhân loại.

 


Sự điều chỉnh, thích nghi đã giúp cho chủ nghĩa tư bản mở rộng dự địa tồn tại, nhưng không thể xóa bỏ những mâu thuẫn nội tại. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa ngày càng cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn tồn tại, thậm chí còn trầm trọng hơn. Chủ nghĩa tư bản đang phải đối phó với những vấn đề, như sự khủng hoảng có tính chu kỳ, bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo. Đó không phải là những vấn đề nhất thời, mà là khuyết tật mang tính tất yếu của xã hội tư bản chủ nghĩa. Do đó, chủ nghĩa tư bản không thể là tương lai của nhân loại.

Để tiếp tục kéo dài sự tồn tại, các nước tư bản chủ nghĩa, vừa tìm cách xoa dịu những mâu thuẫn xã hội, vừa tiếp tục điên phá các nước xã hội chủ nghĩa, các lực lượng cách mạng thông qua chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Chính điều đó càng bộc lộ rõ hơn những hạn chế cố hữu của chủ nghĩa tư bản - một chế độ xã hội tồn tại dựa trên nền tảng là sự bóc lột, xâm lược, nô dịch và đàn áp. Tuy có sự điều chỉnh và thích nghi nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi về bản chất, nó vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi.

Xét về tổng thể chủ nghĩa tư bản đương đại vẫn còn có những tiềm năng để tiếp tục phát triển. Sự phát triển của nó không giúp nó tự hóa giải được những mâu thuẫn trong lòng nó để làm cho nó có thể tồn tại lâu dài như một phạm trù vĩnh viễn mà là động lực thúc đẩy nó tới những giới hạn tự phủ định chính nó. Trên cơ sở sự tự phủ định của chủ nghĩa tư bản với tư cách là một phương thức sản xuất sẽ xuất hiện một phương thức sản xuất tiến bộ hơn, phù hợp hơn với trình độ phát triển của nền văn minh nhân loại.

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trong thời đại hiện nay.

 


Đây là mâu thuẫn cơ bản nhất quyết định trực tiếp nội dung của thời đại. Nó tác động mạnh mẽ đến các mâu thuẫn còn lại. Việc giải quyết mâu thuẫn đó có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện nội dung cơ bản của thời đại. Nó không chỉ là mâu thuẫn trực tiếp giữa các nước xã hội chủ nghĩa và các nước tư bản chủ nghĩa mà còn là mâu thuẫn giữa khuynh hướng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong mỗi nước, giữa hai con đường chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa các lực lượng, các nhân tố xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới. Vì vậy, xét về thực chất đây là mâu thuẫn bao trùm và chi phối mọi đặc điểm, tính chất và xu hướng của thời đại ngày nay và được phản ánh trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ngay từ khi chủ nghĩa xã hội được hình thành thì chủ nghĩa đế quốc đã tìm mọi cách để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Ngay sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, 14 nước đế quốc đã bao vây hòng tiêu diệt nước Nga Xô viết. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ nghĩa phát xít cũng muốn tiêu diệt Liên Xô. Trong Chiến tranh lạnh, thế giới tư bản tìm mọi cách cô lập các nước xã hội chủ nghĩa bằng cách bao vây kinh tế, đẩy mạnh chạy đua vũ trang với mong muốn xóa bỏ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn hiện nay của thời đại, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội có nhiều biểu hiện mới. Đây là mâu thuẫn giữa hai hình thái kinh tế xã hội mang bản chất đối lập nhau không thể điều hòa được. Vì vậy cho dù chủ nghĩa xã hội dù bị đổ vỡ một bộ phận, không còn là một hệ thống nhưng vẫn còn tồn tại các nước xã hội chủ nghĩa và đặc biệt hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn tồn tại trong niềm tin của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn là trung tâm của cuộc đấu tranh hiện nay trên thế giới.

Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội được giải quyết bằng nhiều con đường, phương thức khác nhau trong phạm vi từng nước cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Trong đó, việc tiến hành thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa là phương thức cơ bản và quyết định nhất. Tuy nhiên, giải quyết mâu thuẫn này không thể thực hiện được trong thời gian ngắn và không tách khỏi những bước thăng trầm khác nhau trong từng nước và trên toàn thế giới.

Từ đối đầu gay gắt, quyết liệt, đến nay chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội đang trong trạng thái vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Nhưng không vì thế mà mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản mất đi, ngược lại nó vẫn tồn tại và phát triển. Các nước tư bản chủ nghĩa chưa bao giờ từ bỏ mục tiêu xóa bỏ những nước xã hội chủ nghĩa, dập tắt khuynh hướng đi lên chủ nghĩa xã hội của nhân loại. Ngược lại, các lực lượng xã hội chủ nghĩa cũng không từ bỏ mục tiêu cách mạng, tiến hành thắng lợi sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân trên phạm vi quốc tế, đưa nhân loại tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

 

Thứ Tư, 11 tháng 6, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUỐC HỘI CHÍNH THỨC THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT CẢ NƯỚC CÓ 34 TỈNH, THÀNH PHỐ!

     Sáng nay 12/6, tại Kỳ họp thứ 9, sau khi thảo luận, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. Cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố.
Với 461/465 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 96,44% tổng số đại biểu Quốc hội), Quốc hội tán thành với đề án của Chính phủ về việc sắp xếp 52 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 4 thành phố và 48 tỉnh để hình thành 23 đơn vị hành chính cấp tỉnh mới.

Đáng chú ý, Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua.

Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố; trong đó có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp quy định tại nghị quyết này và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp là các tỉnh: Cao Bằng, Điện Biên, Hà Tĩnh, Lai Châu, Lạng Sơn, Nghệ An, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Sơn La và thành phố Hà Nội, thành phố Huế.

Các cơ quan theo thẩm quyền khẩn trương thực hiện các công tác chuẩn bị cần thiết bảo đảm để chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp chính thức hoạt động từ ngày 1/7/2025.

Chính quyền địa phương ở các tỉnh, thành phố trước sắp xếp tiếp tục hoạt động cho đến khi chính quyền địa phương ở tỉnh, thành phố hình thành sau sắp xếp chính thức hoạt động.

Quốc hội yêu cầu Chính phủ, HĐND, UBND tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm tổ chức thi hành nghị quyết này; sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan, tổ chức ở địa phương; hỗ trợ, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động bị tác động, ảnh hưởng của việc thực hiện sắp xếp; bảo đảm an sinh xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

Chính phủ có trách nhiệm tổ chức việc xác định chính xác diện tích tự nhiên, phạm vi ranh giới trên bản đồ hành chính, trên thực địa. Trường hợp sau khi rà soát, đối chiếu trên thực địa mà số liệu về diện tích tự nhiên của đơn vị hành chính khác với số liệu ghi trong nghị quyết này thì Chính phủ tiến hành cập nhật, điều chỉnh và thực hiện công bố công khai các thông tin này bằng hình thức thích hợp mà không phải báo cáo lại Quốc hội.

Bên cạnh đó, Chính phủ, các bộ, ngành ở trung ương có trách nhiệm hướng dẫn, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh, kiện toàn tổ chức bộ máy chính quyền địa phương các cấp để thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025

1. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên Quang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tuyên Quang. Sau khi sắp xếp, tỉnh Tuyên Quang có diện tích tự nhiên là 13.795,50 km2, quy mô dân số là 1.865.270 người.

Tỉnh Tuyên Quang giáp các tỉnh Cao Bằng, Lào Cai, Phú Thọ, Thái Nguyên và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

2. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lào Cai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Lào Cai có diện tích tự nhiên là 13.256,92 km2, quy mô dân số là 1.778.785 người.

Tỉnh Lào Cai giáp các tỉnh Lai Châu, Phú Thọ, Sơn La, Tuyên Quang và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

3. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Thái Nguyên. Sau khi sắp xếp, tỉnh Thái Nguyên có diện tích tự nhiên là 8.375,21 km2, quy mô dân số là 1.799.489 người.

Tỉnh Thái Nguyên giáp các tỉnh Bắc Ninh, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tuyên Quang và thành phố Hà Nội.

4. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú Thọ thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Phú Thọ. Sau khi sắp xếp, tỉnh Phú Thọ có diện tích tự nhiên là 9.361,38 km², quy mô dân số là 4.022.638 người.

Tỉnh Phú Thọ giáp các tỉnh Lào Cai, Ninh Bình, Sơn La, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tuyên Quang và thành phố Hà Nội.

5. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh thành tỉnh mới có tên gọi là Bắc Ninh. Sau khi sắp xếp, tỉnh Bắc Ninh có diện tích tự nhiên là 4.718,6 km2, quy mô dân số là 3.619.433 người.

Tỉnh Bắc Ninh giáp các tỉnh Hưng Yên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, thành phố Hải Phòng và thành phố Hà Nội.

6. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Thái Bình và tỉnh Hưng Yên thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Hưng Yên. Sau khi sắp xếp, tỉnh Hưng Yên có diện tích tự nhiên là 2.514,81 km2, quy mô dân số là 3.567.943 người.

Tỉnh Hưng Yên giáp tỉnh Bắc Ninh, tỉnh Ninh Bình, thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng và Biển Đông.

7. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Hải Phòng và tỉnh Hải Dương thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Hải Phòng. Sau khi sắp xếp, thành phố Hải Phòng có diện tích tự nhiên là 3.194,72 km2, quy mô dân số là 4.664.124 người.

Thành phố Hải Phòng giáp các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Ninh và Biển Đông.

8. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Hà Nam, tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Ninh Bình. Sau khi sắp xếp, tỉnh Ninh Bình có diện tích tự nhiên là 3.942,62 km2, quy mô dân số là 4.412.264 người.

Tỉnh Ninh Bình giáp các tỉnh Hưng Yên, Phú Thọ, Thanh Hoá, thành phố Hà Nội và Biển Đông.

9. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng Trị thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Trị. Sau khi sắp xếp, tỉnh Quảng Trị có diện tích tự nhiên là 12.700 km2, quy mô dân số là 1.870.845 người.

Tỉnh Quảng Trị giáp tỉnh Hà Tĩnh, thành phố Huế, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Biển Đông.

10. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Đà Nẵng. Sau khi sắp xếp, thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 11.859,59 km2, quy mô dân số là 3.065.628 người.

Thành phố Đà Nẵng giáp tỉnh Quảng Ngãi, thành phố Huế, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Biển Đông

11. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Ngãi thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Quảng Ngãi. Sau khi sắp xếp, tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên là 14.832,55 km2, quy mô dân số là 2.161.755 người.

Tỉnh Quảng Ngãi giáp tỉnh Gia Lai, thành phố Đà Nẵng, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông.

12. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bình Định và tỉnh Gia Lai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Gia Lai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Gia Lai có diện tích tự nhiên là 21.576,53 km2, quy mô dân số là 3.583.693 người.

Tỉnh Gia Lai giáp tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Quảng Ngãi, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông.

 13. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Khánh Hoà thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Khánh Hòa. Sau khi sắp xếp, tỉnh Khánh Hoà có diện tích tự nhiên là 8.555,86 km2, quy mô dân số là 2.243.554 người.

Tỉnh Khánh Hoà giáp tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Lâm Đồng và Biển Đông.

14. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Đắk Nông, tỉnh Bình Thuận và tỉnh Lâm Đồng thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Lâm Đồng. Sau khi sắp xếp, tỉnh Lâm Đồng có diện tích tự nhiên là 24.233,07 km2, quy mô dân số là 3.872.999 người.

Tỉnh Lâm Đồng giáp các tỉnh Đắk Lắk, Đồng Nai, Khánh Hoà, Thành phố Hồ Chí Minh, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông.

15. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Phú Yên và tỉnh Đắk Lắk thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đắk Lắk. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên là 18.096,40 km2, quy mô dân số là 3.346.853 người.

Tỉnh Đắk Lắk giáp các tỉnh Gia Lai, Khánh Hoà, Lâm Đồng, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông.

16. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và tỉnh Bình Dương thành thành phố mới có tên gọi là Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi sắp xếp, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên là 6.772,59 km2, quy mô dân số là 14.002.598 người.

Thành phố Hồ Chí Minh giáp các tỉnh Đồng Nai, Đồng Tháp, Lâm Đồng, Tây Ninh và Biển Đông.

17. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bình Phước và tỉnh Đồng Nai thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Nai. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 12.737,18 km2, quy mô dân số là 4.491.408 người.

Tỉnh Đồng Nai giáp tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh và Vương quốc Cam-pu-chia.

18. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Long An và tỉnh Tây Ninh thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Tây Ninh. Sau khi sắp xếp, tỉnh Tây Ninh có diện tích tự nhiên là 8.536,44 km2, quy mô dân số là 3.254.170 người.

Tỉnh Tây Ninh giáp tỉnh Đồng Nai, tỉnh Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh và Vương quốc Cam-pu-chia.

19. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của thành phố Cần Thơ, tỉnh Sóc Trăng và tỉnh Hậu Giang thành thành phố mới có tên gọi là thành phố Cần Thơ. Sau khi sắp xếp, thành phố Cần Thơ có diện tích tự nhiên là 6.360,83 km2, quy mô dân số là 4.199.824 người.

Thành phố Cần Thơ giáp các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau, Vĩnh Long và Biển Đông.

20. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bến Tre, tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Vĩnh Long. Sau khi sắp xếp, tỉnh Vĩnh Long có diện tích tự nhiên là 6.296,20 km2, quy mô dân số là 4.257.581 người.

Tỉnh Vĩnh Long giáp tỉnh Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ và Biển Đông.

21. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Tháp thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Đồng Tháp. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đồng Tháp có diện tích tự nhiên là 5.938,64 km2, quy mô dân số là 4.370.046 người.

Tỉnh Đồng Tháp giáp các tỉnh An Giang, Tây Ninh, Vĩnh Long, thành phố Cần Thơ, Thành phố Hồ Chí Minh, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông.

22. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh Cà Mau. Sau khi sắp xếp, tỉnh Cà Mau có diện tích tự nhiên là 7.942,39 km2, quy mô dân số là 2.606.672 người.

Tỉnh Cà Mau giáp tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và Biển Đông.

23. Sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của tỉnh Kiên Giang và tỉnh An Giang thành tỉnh mới có tên gọi là tỉnh An Giang. Sau khi sắp xếp, tỉnh An Giang có diện tích tự nhiên là 9.888,91 km2, quy mô dân số là 4.952.238 người.

Tỉnh An Giang giáp tỉnh Cà Mau, tỉnh Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ, Vương quốc Cam-pu-chia và Biển Đông./.
Ảnh: Đại biểu Quốc hội ấn nút biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025
Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: “VAI TRĂM CÂN, CHÂN VẠN DẶM”!

     Trong những năm tháng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, trên chiến trường Khu 5 có một đơn vị gồm hơn 600 cô gái tuổi mười sáu, đôi mươi làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, đạn dược, làm nên huyền thoại về “đội quân tóc dài” của miền Trung khói lửa. Đó là Tiểu đoàn Vận tải 232 do đồng chí Phạm Thị Thao làm Tiểu đoàn trưởng.
“Đạp 50 cân xuống đất, hất 70 cân sang bên, vì chiến trường mang lên một tạ”,
“Không tính khối lượng, có sức bao nhiêu cống hiến tất cả”,
“Vai trăm cân, chân vạn dặm”;
“B.om th.ù, mưa dội, đường trơn
Hàng em vẫn xẻ Trường Sơn đi về”...
Đó là những phương châm trong 4 năm công tác, Tiểu đoàn Vận tải 232 đã vận chuyển hơn 5.000 tấn hàng hóa ra chiến trường. Ước tính trung bình, mỗi nữ chiến sĩ đi bộ khoảng 600km mỗi năm. Đơn vị đã dệt nên bao huyền thoại, mãi bất tử cùng những chiến công trên các cung đường Trường Sơn m.áu lửa./.
Ảnh: Nữ quân nhân Tiểu đoàn Vận tải 232 gùi vũ khí ra chiến trường.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TP.HCM KIẾN NGHỊ GIỮ LẠI TOÀN BỘ TRỤ SỞ QUÂN SỰ QUẬN, HUYỆN PHỤC VỤ QUỐC PHÒNG!

     Tư lệnh Bộ Tư lệnh TP.HCM kiến nghị Bộ Quốc phòng và Quân khu 7 cho phép TP.HCM giữ lại toàn bộ trụ sở quân sự các quận, huyện, cam kết sẽ tận dụng tối đa công năng để phục vụ nhiệm vụ quốc phòng trong giai đoạn mới!

Rà soát quỹ đất quốc phòng để xác định nhu cầu sử dụng

Tại hội nghị Đảng ủy Quân sự TP.HCM phiên 6 tháng đầu năm tổ chức ngày 11.6 do Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Văn Nên chủ trì, thiếu tướng Vũ Văn Điền, Tư lệnh Bộ Tư lệnh TP.HCM, cho biết sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã, phường, TP.HCM mới có 168 phường, xã. Tổng số cán bộ quân sự cấp xã hiện là 672 người. Theo chủ trương hiện tại, ban chỉ huy quân sự mỗi phường, xã sẽ được bố trí theo mô hình "bộ bốn", gồm chỉ huy trưởng, hai chỉ huy phó và một trợ lý, tương đương ba công chức. Tính toán cho thấy sau khi bố trí theo mô hình này, sẽ dư ra khoảng 289 cán bộ.

Số cán bộ này, theo ông Điền, sẽ được xem xét điều chỉnh chức danh phù hợp, như từ chỉ huy trưởng xuống chỉ huy phó, hoặc điều động xuống công tác ở cấp thấp hơn. Thậm chí, có một số trường hợp đặc biệt được sắp xếp làm tiểu đội trưởng trong môi trường chiến đấu.

Đối với trụ sở ban chỉ huy quân sự cấp phường, xã, ông Điền cho biết hiện nhiều trụ sở không đạt chuẩn diện tích tối thiểu 500m2 theo quy định, không phù hợp cho bố trí lực lượng đông như trung đội hoặc đại đội. Do đó, Bộ Tư lệnh TP.HCM đề xuất dồn các trụ sở nhỏ lẻ, tận dụng những trụ sở dư trong cùng quận để bố trí lại hệ thống chỉ huy, lực lượng thường trực và khu vực huấn luyện. Các trụ sở của UBND cấp phường nếu dư thừa cũng có thể chuyển giao cho lực lượng quân sự sử dụng làm nơi đóng quân, chỉ huy.

Thiếu tướng Vũ Văn Điền nhấn mạnh, sau sáp nhập, tổ chức quân sự địa phương cũng cần được ổn định. Một trong những nhiệm vụ cấp thiết là định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt với những người nghỉ, phục viên hoặc chuyển chức danh. Đồng thời, Bộ Tư lệnh TP.HCM vẫn phải duy trì các nhiệm vụ thường xuyên như huấn luyện, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, duy trì nền nếp chính quy, kỷ luật và công tác hậu cần, kỹ thuật.

Tại hội nghị, Tư lệnh Bộ Tư lệnh TP.HCM kiến nghị Bộ Quốc phòng và Quân khu 7 cho phép TP.HCM giữ lại toàn bộ trụ sở quân sự các quận, huyện, cam kết sẽ tận dụng tối đa công năng để phục vụ nhiệm vụ quốc phòng trong giai đoạn mới.

Về công tác phối hợp, ông Điền đề nghị Quân khu 7 và các đơn vị liên quan chủ động thông báo, tuyên truyền cho lực lượng vũ trang về kế hoạch sáp nhập, dồn ghép tỉnh để tránh hoang mang khi cán bộ, chiến sĩ trở về địa phương.

Về quản lý và sử dụng đất quốc phòng, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được lưu ý, trong bối cảnh TP.HCM đang hướng đến mô hình siêu đô thị sau sáp nhập tỉnh thành, trong khi quỹ đất nội thành ngày càng hạn hẹp, cần tính toán lại định hướng bố trí đất quốc phòng.

Ông Nguyễn Văn Được đề nghị Bộ Tư lệnh TP.HCM chủ trì rà soát lại toàn bộ quỹ đất quốc phòng trên địa bàn thành phố, đồng thời làm việc với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu để xác định cụ thể nhu cầu sử dụng đất quốc phòng, vị trí và mục đích sử dụng. Tuy nhiên, với dư địa sau sáp nhập lớn hơn hiện nay, TP.HCM không nhất thiết bố trí đất quốc phòng trong khu vực nội thành, cần nghiên cứu lại để hài hòa giữa lợi ích kinh tế và nhiệm vụ quân sự - quốc phòng.

Tăng cường củng cố quốc phòng của TP.HCM trong giai đoạn mới

Kết luận hội nghị, Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Văn Nên đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự chủ động, ý thức vượt khó của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt là công tác phục vụ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm đất nước thống nhất. Bên cạnh đó, các nhiệm vụ thường xuyên như tuyển quân, hội thao, tuyên thệ chiến sĩ mới đều hoàn thành đúng kế hoạch.

Về phương hướng 6 tháng cuối năm, Đảng ủy thống nhất các nhiệm vụ trọng tâm: tiếp tục quán triệt sâu sắc, nâng cao nhận thức của cán bộ chiến sĩ về chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

"Tinh thần chung của việc sắp xếp bộ máy, sắp xếp hệ thống chính trị lần này là mọi việc phải tốt hơn. Nếu có vấn đề phải giải quyết trên từng lĩnh vực trong toàn quân. Muốn như vậy thì phải đảm bảo con người được sắp xếp, phân công, bố trí phù hợp, đảm bảo được trên từng vị trí, tư tưởng phải an tâm, phải thông và nhiệm vụ tương xứng với cương vị chức vụ", Bí thư Nên nhấn mạnh.

Bí thư Thành ủy cũng đề nghị Bộ Tư lệnh tiếp tục phối hợp tốt với Thành ủy, UBND TP.HCM và các cơ quan liên quan trong công tác tham mưu, nhất là trong bối cảnh có nhiều đề án, nhiệm vụ mới. Đặc biệt, cần tính toán kỹ lưỡng các yếu tố liên quan đến đất đai, tài sản quân sự để quy hoạch sử dụng hiệu quả, đúng quy định. Cần rà soát, xác định lại các địa bàn trọng điểm, vùng giáp ranh để củng cố thế trận phòng thủ, tuyệt đối không để bị động, bất ngờ.

Ông Nên cũng yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng tuyển quân, công tác hậu phương quân đội, chuẩn bị chu đáo cho đợt tuyển quân nghĩa vụ quân sự năm 2026. Đối với những quân nhân xuất ngũ trở về địa phương sau sáp nhập, cần có sự chia sẻ, giải thích cụ thể, không để họ bỡ ngỡ.

Bí thư Nguyễn Văn Nên chỉ đạo phải tập trung xây dựng lực lượng vũ trang thành phố vững mạnh về chính trị, tư tưởng, chính quy, sẵn sàng chiến đấu, tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2.9./.


Môi trường ST.

XUYÊN TẠC VỀ “DÂN CHỦ” NHẰM PHÁ HOẠI ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM!

     Ngày 24/5/2025, trên trang blog Việt Nam Thời Báo tán phát bài “Dân chủ và phát triển: Những huyền thoại cần hóa giải và hòa hợp cho Việt Nam”, kêu gọi, cổ xúy Việt Nam xây dựng nền “dân chủ” thực sự với pháp quyền mạnh mẽ, tự do báo chí và xã hội dân sự, chúng ca ngợi mô hình “dân chủ phương Tây” như một “chìa khóa vạn năng” để đạt tới sự phát triển bền vững, đồng thời xuyên tạc, phủ nhận mô hình dân chủ và pháp quyền mà Việt Nam đang xây dựng. Luận điệu này không mới, nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ nguy hiểm khi len lỏi vào tư duy nhận thức của một bộ phận quần chúng, đặc biệt là giới trẻ, cán bộ trí thức nếu không được nhận diện và đấu tranh quyết liệt.

Thứ nhất, dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là dân chủ thực chất, toàn diện, lấy người dân làm trung tâm

Khác với nền dân chủ hình thức trong chế độ tư sản – nơi quyền lực chính trị bị thao túng bởi các nhóm lợi ích tài phiệt – dân chủ ở Việt Nam được thực thi theo hướng thực chất, toàn diện và gắn bó chặt chẽ với lợi ích của nhân dân. Dân chủ trong chế độ ta không chỉ giới hạn ở quyền bầu cử, ứng cử, mà được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống: từ quyền giám sát, phản biện xã hội, quyền tiếp cận thông tin, đến quyền tham gia xây dựng pháp luật, chính sách.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã khẳng định rõ: “Thực hiện tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm dân chủ gắn với kỷ cương, dân chủ được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Đó là nền dân chủ có tổ chức, có định hướng, không phải dân chủ vô giới hạn, vô trách nhiệm như một số luận điệu cổ súy.

Mặt khác, ở Việt Nam, dân chủ được đảm bảo cả ở khía cạnh chính trị, kinh tế và xã hội. Việc bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế, hỗ trợ người yếu thế… chính là những biểu hiện sinh động của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo báo cáo của UNDP năm 2023, tỷ lệ người dân Việt Nam tin tưởng vào chính quyền địa phương đạt mức cao nhất khu vực Đông Nam Á (84%), điều đó phản ánh chất lượng quản trị công và sự hài lòng của nhân dân với mô hình dân chủ hiện hành.

Thứ hai, Pháp quyền xã hội chủ nghĩa không phải là bản sao của mô hình phương Tây mà là sự phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện Việt Nam

Việc bài viết đề cao mô hình “pháp quyền phương Tây” như một giá trị phổ quát, đồng thời phủ nhận mô hình pháp quyền XHCN Việt Nam là hoàn toàn sai trái. Thực chất, khái niệm “pháp quyền” không mang tính tuyệt đối và phổ quát, mà luôn gắn với bản chất giai cấp, đặc điểm lịch sử và điều kiện cụ thể của từng quốc gia.

Ở Việt Nam, nguyên tắc “mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân” được thể chế hóa trong Hiến pháp, trong đó, Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Pháp luật là công cụ quan trọng để tổ chức, điều hành xã hội, nhưng không thể tách rời khỏi sự lãnh đạo chính trị của Đảng – lực lượng duy nhất đại diện cho lợi ích toàn dân tộc. Sự lãnh đạo của Đảng không đứng ngoài, mà nằm trong thể chế pháp quyền, thông qua tổ chức, cán bộ, và các thiết chế dân chủ.

Việc tuyên truyền rằng “chỉ có pháp quyền phương Tây” mới là thước đo phát triển, trong khi phủ nhận hệ thống luật pháp và thiết chế tư pháp Việt Nam, thực chất là sự phủ nhận tính hợp hiến, hợp pháp của thể chế chính trị hiện hành, kích động xu hướng “phi chính trị hóa”, “đa nguyên hóa”, dẫn đến mất ổn định thể chế.

Thứ ba, cổ súy “tự do báo chí tuyệt đối” và “xã hội dân sự” là mưu đồ tạo dựng trận địa truyền thông đối lập

Một luận điệu thường gặp trong các bài viết phản động là đề cao “tự do báo chí tuyệt đối” và yêu cầu hình thành “xã hội dân sự độc lập”. Thực chất, đây là chiêu bài lợi dụng các quyền tự do để thiết lập hệ thống truyền thông ngoài sự quản lý của Nhà nước, biến báo chí thành công cụ chống phá, kích động xã hội, gây bất ổn chính trị.

Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được Hiến pháp ghi nhận và luật pháp bảo vệ. Tuy nhiên, đó là sự tự do trong khuôn khổ luật pháp, có trách nhiệm với cộng đồng, không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc. Những tổ chức mạo danh “xã hội dân sự”, hoạt động trái phép, nhận tài trợ nước ngoài, thực chất là “bàn tay nối dài” của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động bất mãn, lôi kéo tầng lớp trí thức và thanh niên đi theo con đường lệch lạc.

Thực tiễn cho thấy, sự buông lỏng quản lý truyền thông tại một số quốc gia đã dẫn đến hỗn loạn thông tin, lan truyền thuyết âm mưu, tin giả, kích động hận thù sắc tộc và xung đột chính trị. Việt Nam không chấp nhận “tự do báo chí tuyệt đối” vì điều đó đồng nghĩa với tự do phá hoại thể chế, lật đổ chính quyền hợp pháp, gây rối trật tự công cộng và đe dọa an ninh quốc gia./.
Khuyết danh ST.