Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2020

CỰU BỘ TRƯỞNG QUỐC PHÒNG MỸ THỪA NHẬN 11 SAI LẦM CỦA MỸ TRONG CUỘC CHIẾN Ở VIỆT NAM


Đã 45 năm trôi qua từ ngày 30/4/1975 - Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước kết thúc cuộc chiến tranh đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, một chiến thắng đã mang lại ý nghĩa lịch sử to lớn của Quân và Dân ta và nhờ vào đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta; chiến thắng bắt nguồn từ truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc Việt Nam. Không thể phủ nhận kết quả cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược là sự tiếp nối cuộc Cách mạng tháng Tám, bảo vệ nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.
Về phía Mỹ, nguyên nhân thất bại của họ bắt nguồn từ giới cầm quyền hiếu chiến thời kỳ đó đã đánh giá sai nội dung của thời đại ngày nay và bản chất chính trị. Đó là thời đại, các dân tộc đã nhận thức được quyền dân tộc tự quyết, về quyền lựa chế độ xã hội, lựa chọn con đường phát triển của mình mà không có bất cứ một thế lực nào có thể cản trở. Về bản chất chính trị; Mỹ đã lẫn lộn mục tiêu cuộc đấu tranh bảo vệ giá trị dân tộc ta với vai trò của ý thức hệ. Chính Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ viết trong cuốn hồi ký mang tựa đề “Hồi tưởng” xuất bản năm 1995 thừa nhận 11 sai lầm mà Mỹ đã vấp phải như sau:
Cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara

1. Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai khi đó (và từ đó đến nay) những chủ đích địa chính trị của các đối thủ... và chúng ta đã phóng đại những mối nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ.
2. Chúng ta xem xét nhân dân và lãnh đạo của miền Nam Việt Nam chỉ bằng trải nghiệm của chúng ta... Chúng ta đánh giá sai hoàn toàn những lực lượng chính trị trong đất nước đó.
3. Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của tinh thần dân tộc có thể huy động nhân dân đấu tranh và hy sinh vì đức tin và giá trị của họ.
4. Cách nhìn nhận của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự dốt nát sâu sắc của chúng ta về lịch sử, văn hoá và chính trị của nhân dân Việt Nam, cũng như về nhân cách và tập quán của các nhà lãnh đạo của họ.
5. Chúng ta đã thất bại khi đó (và từ đó đến nay) trong việc nhận ra những hạn chế của khí tài, lực lượng và học thuyết quân sự công nghệ cao, hiện đại... Chúng ta cũng thất bại trong việc điều chỉnh chiến thuật quân sự của chúng ta cho phù hợp với nhiệm vụ thu phục nhân tâm của người dân thuộc một nền văn hoá hoàn toàn khác biệt.
6. Chúng ta đã thất bại trong việc lôi kéo Quốc hội và nhân dân Mỹ vào cuộc thảo luận toàn diện và cởi mở, tranh luận những điều nên và không nên xung quanh việc đưa quân đội tham chiến trên diện rộng... trước khi chúng ta lên kế hoạch hành động.
7. Sau khi sự việc diễn ra và những sự kiện không như dự đoán khiến chúng ta đi chệch đường lối đã hoạch định... thì chúng ta đã không giải thích đầy đủ những điều đang diễn ra và tại sao chúng ta lại phải làm như đã làm.
8. Chúng ta không chịu thừa nhận rằng kể cả nhân dân lẫn lãnh đạo của chúng ta đều không thông suốt mọi sự. Đánh giá của chúng ta về cái gì là lợi ích tốt nhất của đất nước và dân tộc khác cần phải được đưa ra sát hạch thông qua bàn luận cởi mở tại những diễn đàn quốc tế. Chúng ta không được Thượng đế ban phát quyền nhào nặn mỗi dân tộc theo hình ảnh của chúng ta hay theo cách mà chúng ta lựa chọn.
9. Chúng ta không tuân thủ nguyên tắc về việc hành động quân sự của Mỹ, chỉ nên được thực thi trong sự phối hợp với lực lượng đa quốc gia được cộng đồng quốc tế ủng hộ hoàn toàn (về thực chất, chứ không chỉ nhìn từ bên ngoài).
10. Chúng ta đã không chịu thừa nhận rằng trong các vấn đề quốc tế, cũng như trong các lĩnh vực khác của đời sống, có thể có những vấn đề không tìm được giải pháp tức thời... Đôi khi chúng ta phải sống trong một thế giới không hoàn hảo, không ngăn nắp.
11. Những sai sót căn bản trên khiến chúng ta không tổ chức được bộ máy chóp bu của chính quyền hành pháp trong việc xử lý hữu hiệu tổng thể những vấn đề chính trị và quân sự bất thường.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta đã làm thức tỉnh lương tri của nhân loại, nhiều cựu chiến binh tham gia cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã trở lại Việt Nam với những tâm trạng khác nhau với sự thức tỉnh lương tri của nhân loại tiến bộ, cũng như lòng ăn năn day dứt của chính họ, cùng với thời gian giúp họ gác lại quá khứ, hướng tới tương lai…

LỜI BÁC DẠY NĂM XƯA!




Ngày 02/5/1959:
“Đảng và Chính phủ lúc nào cũng chú ý đến đồng bào vùng cao và càng ngày càng hết sức 
chú ý giúp đỡ đồng bào nhiều hơn nữa”.
​Đó là lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi nói chuyện với Đoàn đại biểu các dân tộc ít người về dự lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động, ngày 01 tháng 5 năm 1959 tại Thủ đô Hà Nội.
Đây là giai đoạn miền Bắc đang đẩy mạnh phong trào tổ đổi công, tiến dần lên hợp tác xã; trong đó, đồng bào các dân tộc ít người là lực lượng chủ yếu trong phát triển phong trào ở miền núi. Lời khẳng định của Bác thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Chính phủ trong thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, nhất là đoàn kết với đồng bào các dân tộc ít người và trách nhiệm của Đảng, Chính phủ đối với việc thực hiện chính sách đó, góp phần cải thiện và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào ở vùng cao.
Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước đã quan tâm với việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách lớn đối với đồng bào vùng cao, vùng dân tộc ít người; trong đó: Chú trọng phát triển kinh tế phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể từng vùng, đảm bào cho đồng bào các dân tộc phát huy thế mạnh của địa phương, làm giàu cho mình và cho xã hội; ưu tiên phát triển giáo dục, coi trọng việc đào tạo cán bộ và đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số; tôn trọng và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của từng dân tộc…
Học tập và làm theo lời Bác dạy, Quân đội đã thường xuyên quan tâm làm tốt công tác đào tạo, tuyển dụng con em các đồng bào dân tộc ít người với việc mở các lớp đào tạo thiếu sinh quân tạo điều kiện thuận lợi cho con em đồng bào học tập và công tác trong quân đội. Các đơn vị có bộ đội với nhiều dân tộc khác nhau, luôn lãnh đạo tốt việc xây dựng mối đoàn kết, gắn bó giữa cán bộ, chiến sĩ người kinh với người dân tộc; làm tốt công tác phân loại đối tượng huấn luyện, giáo dục để nâng cao chất lượng huấn luyện đối với bộ đội là con em dân tộc ít người. Đặc biệt, thực hiện chức năng đội quân công tác, các đơn vị quân đội luôn chủ động phối hợp tốt với cấp uỷ, chính quyền, các đoàn thể địa phương vùng cao, vùng sâu, vùng xa làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước; tích cực tham gia triển khai các chương trình, dự án xây dựng đơn vị kinh tế quốc phòng, gắn với phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đẩy mạnh phong trào “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới”, cuộc vận động “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”, chương trình “Bò giống giúp người nghèo biên giới”, chương trình “Nâng bước em tới trường”, “Tết Biên phòng, ấm lòng dân bản”… góp phần xóa đói, giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao đời sống cho đồng bào, củng cố, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, thế trận quốc phòng toàn dân góp phần quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, thực hiện điều mong muốn của Người “đưa miền núi tiến kịp miền xuôi”.

MỘT QUỐC GIA ĐOÀN KẾT ĐÃ CHIẾN THẮNG MỌI KẺ THÙ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.

Xuyên suốt hàng nghìn năm lịch sử  dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu với biết bao cuộc xâm lăng của các thế lực ngoại bang với nền kinh tế hùng mạnh, vũ khí tối tân, nhưng tinh thần yêu nước cùng với sự đoàn kết đã làm nên sức mạnh, giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, không những không chịu khuất phục mà còn đương đầu, chiến đấu và chiến thắng.  Không có kẻ thù nào có thể ngăn nổi bước ta đi, cho đến hôm nay một Việt Nam nhỏ bé lại một lần nữa  làm cho thế giới phải kinh ngạc trong cuộc chiến chống dịch,  thứ kẻ thù vô hình mang tên COVICD -19 .

Trong  cuộc chiến chống giặc COVCD-19 chúng ta cơ bản đã đi  đến chiến thắng. Chiến thắng  này là chiến thắng của cả một quốc gia đoàn kết. Là chiến thắng từ các quyết sách đúng và dứt khoát của Đảng, Nhà nước và từ sự đồng lòng hưởng ứng, nỗ lực hợp tác của nhân dân ta, của đội ngũ y Bác sỹ tài tình, tận tâm, tận lực bón từng thìa cháo cho bệnh nhân, khiến họ xúc động đến rơi nước mắt .

Trải qua hơn 4 tháng chúng ta đã chứng kiến một Việt Nam kiên cường, đoàn kết với tinh  thần tương thân tương ái, của ít lòng nhiều, từ mẹ già đến em nhỏ, từ tỷ phú đến những gia đình khó khăn đều chung tay góp sức. Hình ảnh những người chiến sỹ ăn cơm hộp ngủ lán rừng, bà  mẹ già lặn lội từ xa đóng góp từng bó rau bát gạo, khiến cho mỗi chúng ta đều cảm thấy rưng rưng xúc động, chúng ta cảm thấy tự hào thêm yêu đất nước, yêu chế độ hơn bất cứ lúc nào .

Thật diệu kỳ biết bao nhiêu trong những ngày đất nước ta kỷ niệm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước  30/4/1975- 30/4/2020 cũng là ngày Việt Nam cơ bản đã đẩy lùi được dịch bệnh, có niềm vui nào hơn thế, chúng ta hãy cùng cất cao tiếng hát để chào mừng ngày đất nước vang khúc Khải hoàn. Nhưng dù vui thế nào chúng ta cũng không được chủ quan, bài học của các nước vẫn còn đó ..!/

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2020

Tình hình lây nhiễm COVID-19 trong cộng đồng người Việt tại Nhật Bản

Theo Tổng Lãnh sự quán (TLSQ) Việt Nam tại Fukuoka (Nhật Bản), trong số khoảng 40.000 người Việt Nam đang sinh sống tại 8 tỉnh phía Tây Nam Nhật Bản, có một gia đình 5 người dương tính với virus SARS-Cov-2. Đây là những trường hợp nhiễm bệnh đầu tiên tại khu vực do TLSQ Việt Nam tại Fukuoka quản lý.

Những thách thức của kinh tế Việt Nam sau đại dịch

Ngày 28/4, tờ Nikkei Asia Review của Nhật Bản đăng bài phân tích tình hình Việt Nam trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ XIII, trong đó nhấn mạnh những thách thức về khía cạnh kinh tế.

Tác động của dịch COVID-19 đối với ngành dệt may Việt Nam

Trang mạng texnet.com.cn của Trung Quốc ngày 27/4 đưa tin nếu dịch COVID-19 vẫn tiếp diễn, nhiều công ty dệt may Việt Nam sẽ gặp khó khăn và điều này không chỉ đe dọa nền kinh tế trong nước, mà còn ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng hàng may mặc toàn cầu, bao gồm cả những thương hiệu tham gia sâu vào chuỗi cung ứng Việt Nam, như Zara và H&M.

Vị thế Việt Nam được khẳng định trong ASEAN nhờ thành công chống COVID-19

Trang tin Yahoo Japan ngày 27/4 phân tích nguyên nhân Việt Nam có thành tích ấn tượng trong công tác phòng chống dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19, và cho rằng cũng nhờ thành tích này, Việt Nam đã tạo dựng được uy tín trên cương vị Chủ tịch ASEAN.

Việt Nam đã ngăn chặn dịch COVID-19 như thế nào

Ngày 28/4, trang mạng Times of India đăng bài viết “Ý chí sắt đá: Việt Nam đã ngăn chặn virút SARS-CoV-2 như thế nào” của nhà báo Rudroneel Ghosh, nội dung như sau:
Một quốc gia châu Á đã đạt được thành công đáng tin cậy trong việc ngăn chặn dịch COVID-19, đó là Việt Nam.

Khi nào Việt Nam hết dịch COVID-19?

(Theo báo Sputnik) Việt Nam đã qua “đỉnh dịch” COVID-19 hay chưa? Khi nào Việt Nam có thể công bố hết dịch? PGS.TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế Dự phòng của Bộ Y tế, cố vấn cấp cao Trung tâm đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam, cho rằng Việt Nam khó có làn sóng thứ hai bùng phát dịch COVID-19, nhưng nếu chủ quan thì có nguy cơ vỡ trận, dịch bệnh sẽ lại bùng phát.

Việt Nam làm gì để ngăn COVID-19 bùng phát trở lại?

Tờ Wall Street Journal của Mỹ ngày 27/4 chú ý đến những động thái của Việt Nam trong cuộc chiến chống COVID-19 sau khi lệnh giãn cách xã hội được nới lỏng.

Yếu tố chính trị trong cuộc chiến chống đại dịch ở Việt Nam

Theo trang tin thediplomat.com (Rome) vừa đăng bài viết có tiêu đề “Chính trị nội bộ trong cuộc chiến chống dịch ở Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Việt Phương, nhà nghiên cứu về các vấn đề an ninh, phi hạt nhân hóa tại Hà Nội, từng là nghiên cứu viên Trung tâm Belfer, trường Kennedy thuộc Đại học Harvard (Mỹ),

Việt Nam là quốc gia chống COVID-19 hiệu quả nhất

Theo báo The Nation, tạp chí hàng đầu của Mỹ, vừa đăng bài cho rằng Việt Nam có lẽ là quốc gia ứng phó với đại dịch COVID-19 hiệu quả nhất. Thành tích này có được nhờ khả năng huy động trên quy mô lớn hệ thống y tế, công chức cũng như các lực lượng an ninh, kết hợp với chiến dịch tuyên truyền giáo dục người dân hiệu quả và sáng tạo.

Chiến lược 12 điểm giúp Việt Nam chiến thắng đại dịch COVID-19

Báo Suara Mahardika vừa đăng bài của nhà văn, nhà báo nổi tiếng Agus Marwan, hiện là Tổng Thư ký Diễn đàn văn chương Indonesia,  phân tích 12 chiến lược thành công của “Đất nước rồng xanh” trong cuộc chiến chống sự lây lan của virus SARS-CoV-2.

Việt Nam: hệ thống quản lý hiệu quả giúp đánh bại COVID-19


Tính đến sáng 27/4, tổng số ca nhiễm virus corona của Việt Nam là 270. Làm thế nào một quốc gia có gần 100 triệu dân với diện tích lãnh thổ nhỏ, đường biên giới dài với Trung Quốc và các mối liên hệ quốc tế sôi động, có thu nhập bình quân không phải cao nhất và hệ thống y tế chưa phát triển cao lại có thể đạt được kết quả này? Cả thế giới muốn biết câu trả lời.

Cách chống dịch quyết liệt và hy vọng phục hồi kinh tế của Việt Nam

Theo hãng tin Bloomberg News ngày 25/4 đăng bài cho rằng Việt Nam đã dùng “búa tạ” để làm phẳng đường cong đại dịch COVID-19, và sau khi đạt được thành công, Việt Nam đang bắt đầu mở cửa trở lại nền kinh tế.
ĐẤT NƯỚC TRỌN NIỀM VUI


Những ngày tháng không thể quên


VANG MÃI KHÚC KHẢI HOÀN


Hôm nay toàn Đảng, toàn dân và toàn Quân ta hân hoan kỷ niệm 45 năm Ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước-Ngày chiến thắng của cả dân tộc Việt Nam.
45 năm trôi qua, quãng thời gian đủ để mỗi người thấy rõ được giá trị, ý nghĩa của Ngày chiến thắng. Đó là ngày đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân mới. 30-4-1975 cũng là ngày mở tung cánh cửa độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam; ngày hiện thực hóa khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam: “Tiến lên chiến sĩ đồng bào/ Bắc-Nam sum họp, xuân nào vui hơn”. Đại thắng mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thành quả vĩ đại của nhân dân ta, thể hiện ý chí, khát vọng độc lập, thống nhất Tổ quốc của dân tộc ta trong thời đại Hồ Chí Minh. Chiến thắng 30-4 đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi, mở ra kỷ nguyên mới-kỷ nguyên của hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
45 năm qua đất nước thanh bình, non sông liền một dải nhưng chưa phải đã hết những buồn tủi, khổ đau do chiến tranh để lại. Vẫn còn đó hàng vạn người mẹ, người vợ, người con chưa tìm được người thân yêu nhất của mình; chưa biết các anh, các chị, những anh hùng liệt sĩ đang yên nghỉ nơi đâu. Vẫn còn đó những con người một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” mang trên mình thương tích do chiến tranh gây ra; những thế hệ con, cháu đang hằng ngày, hằng giờ vật lộn với những cơn đau do di chứng chất độc da cam để lại. Vẫn còn đó những khu đất, mảnh vườn ẩn chứa, rình rập hiểm nguy do pháo, đạn của quân thù còn găm... Bởi vậy, trong niềm vui, hạnh phúc thanh bình của ngày hôm nay, mỗi chúng ta vẫn còn nhiều trăn trở và luôn ghi lòng tạc dạ những đóng góp, sự hy sinh của biết bao con người đã cống hiến cuộc đời, vượt qua mưa bom bão đạn, vất vả, hiểm nguy, chấp nhận về mình những hy sinh, đau khổ để “đất nước nở hoa độc lập, dân tộc kết trái tự do”.
45 năm qua đã khẳng định: Trí tuệ Việt Nam; ý chí Việt Nam, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm nên những kỳ tích không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn trở thành hình mẫu với nhân loại tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Một dân tộc với khát vọng được tự do, được độc lập, nguyện một lòng vững bước dưới cờ Đảng quang vinh, đạp bằng chông gai, thử thách tiến về phía trước để mang lại hạnh phúc, bình yên, thịnh vượng cho dân tộc, cho nhân dân. Chiến thắng 30-4 của dân tộc Việt Nam tạo niềm cảm hứng cho nhiều dân tộc trên thế giới vùng lên đấu tranh giành lại quyền sống, quyền tự do, độc lập cho dân tộc mình. Bởi vậy, không phải ngẫu nhiên mà tờ New York Times số ra ngày 1-5-1975 với hàng tít lớn trên trang nhất nhận định rằng, chiến thắng 30-4-1975 của Việt Nam là "Ngày lịch sử của thế giới".
Đất nước thanh bình 45 năm qua cho thấy: Con đường mà dân tộc Việt Nam đã đi và đang đi là hết sức đúng đắn. Sự lựa chọn con đường cách mạng của nhân dân Việt Nam phù hợp với quy luật phát triển của xã hội. Không còn chiến tranh, đói nghèo bị đẩy lùi, nhiều thành tựu về quyền con người được thế giới ghi nhận. Vị thế của Việt Nam trên thế giới và khu vực ngày càng được khẳng định vững chắc. Việt Nam không chỉ chủ động tham gia mà còn thể hiện rõ sự đóng góp đầy trách nhiệm của mình trong giải quyết nhiều vấn đề đặt ra đối với cộng đồng quốc tế và khu vực. Việt Nam không chỉ trở thành hình mẫu trong mở cửa, hội nhập và phát triển kinh tế-xã hội mà còn là điểm đến an toàn, hấp dẫn đối với thế giới trên mọi lĩnh vực.
Đại dịch Covid-19 xảy ra tác động lớn đến đời sống kinh tế-xã hội toàn thế giới. Trước sự nguy nan của đất nước, sự an toàn của người dân, phát huy tinh thần “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài” trong kháng chiến, Việt Nam đã chủ động, bình tĩnh nhưng quyết liệt triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống đại dịch rất hiệu quả. Cả hệ thống chính trị vào cuộc với sự ủng hộ, đồng lòng của mọi người dân. Giữ thế chủ động, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là bài học chưa bao giờ cũ được rút ra từ các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Sức mạnh của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là nhân tố quyết định để dân tộc ta, đất nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những thành tựu có ý nghĩa lịch sử.
Đã 45 mùa xuân non sông liền một dải, mọi người dân được sống trong hòa bình, độc lập, tự do. Dẫu cuộc sống thường ngày vẫn còn những khó khăn, vất vả, nhưng với tất cả những gì đã có được trong suốt 45 năm qua, được nhân dân ghi nhận và dư luận quốc tế đánh giá cao, mỗi chúng ta có quyền tự hào và tin tưởng rằng: Bằng trí tuệ, tài năng, sức sáng tạo và bản lĩnh của người Việt Nam; bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta sẽ tiếp tục thu hái được những thành tựu vĩ đại hơn nữa, đưa đất nước Việt Nam phát triển ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020

Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp Ngày 30/4/1975


10h00' sáng, 30/4/1975, đồng chí Nguyễn Thanh - Trưởng phòng 70 thuộc Cục Tình báo (phòng 70 là phòng chuyên theo dõi tin địch bằng phương tiện kỹ thuật, bám máy từng phút, từng giờ) chạy vào báo cáo Tổng hành dinh: "Đài Phát thanh Nhật Bản loan tin Quân Giải phóng có xe tăng dẫn đầu đang tiến vào Sài Gòn". Tin về dồn dập. Đến 10h50', Cục Tình báo báo cáo Tổng hành dinh: “Quân ta đã vào dinh Tổng thống ngụy,"....11h30': "Ta đã giải phóng Sài Gòn, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng”. Khu vực nhà D67 và “Nhà con rồng” rộn lên những tiếng hô vang mừng chiến thắng. Các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương vui mừng, phấn khởi, nghẹn ngào và xúc động ôm chầm lấy nhau.

Xe tăng của Quân ta tiến vào dinh Độc Lập ngày 30/4/1075

Trước đó vài phút thôi, Sở chỉ huy tiền phương Chiến dịch Hồ Chí Minh reo mừng trong niềm vui chiến thắng. Không còn là chuyện bất ngờ mà ai nấy đều giàn giụa nước mắt, siết chặt tay nhau, phấn khởi, tự hào. Các đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng xúc động ôm hôn mọi người. Đồng chí Đinh Đức Thiện, vui tính là thế, mà giờ lại là người khóc ra tiếng to nhất. Đồng chí Trần Văn Trà, đôi mắt đỏ hoe, nghẹn ngào sung sướng. Riêng đồng chí Phạm Hùng, mở phanh chiếc áo bà ba, vừa cười to vừa bình luận sảng khoái, vừa ra lệnh chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn.
Trích hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

VIỆT NAM ĐÃ LÀM ĐƯỢC NHỮNG GÌ SAU 45 NĂM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC?

VIỆT NAM ĐÃ LÀM ĐƯỢC NHỮNG GÌ SAU 45 NĂM THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC?
------------------------
Nhiều người hay so sánh nước ta với Tây với tàu, với Hàn, Nhật, Thái Lan…để rồi chém gió, để rồi chê bai, chỉ trích đủ các kiểu. Đồng ý là mình lấy các nước phát triển ra để làm cái đích ngắm, để nỗ lực phấn đấu mạnh giàu được như họ, âu cũng là chuyện thường tình nhưng nói đi thì cũng phải nói lại cho minh tường sự việc. Chẳng lấy đâu xa, chỉ lấy khu vực Đông Nam Á với nhau để thấy được bản chất của mọi vấn đề. Bớt tự ti, tự nhục để cho đời nở hoa và vạn nhà vui vẻ. Mấy anh, chị hay chê Việt Nam nghèo, lạc hậu, phát triển chậm thì cứ bình tĩnh mà xem, lão chăn bò nói cho mà nghe nhé:
Sau khi thống nhất, nước ta kiệt quệ về kinh tế, cơ sở vật chất, hạ tàng đổ nát, đói nghèo triền miền, thù trong, giặc ngoài. Giai đoạn 1975-1986, nước ta vẫn duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung, vị Mỹ và đồng minh bao vây, cô lập, cấm vận kinh tế. Một đất nước vừa khắc phục hậu quả chiến tranh nặng nề lại bị bao vây tứ phía; chúng ta không ngóc đầu lên được. Từ năm 1976 đến 1980, thu nhập quốc dân tăng rất chậm, có năm còn giảm: Năm 1977, tăng 2,8%; năm 1978, tăng 2,3%; năm 1979, giảm 2%; năm 1980, giảm 1,4%, bình quân 1977–1980 chỉ tăng 0,4%/năm, thấp xa so với tốc độ tăng trưởng dân số, làm cho thu nhập quốc dân bình quân đầu người bị sụt giảm 14%. GDP bình quân đầu người là 80 USD năm 1980 thấp hơn Lào (94 USD), và Campuchia (191 USD). Lúc này Thái Lan và một số nước trong khu vực dân đã chạy ô tô, kinh tế khá giả. Ta thì chạy ăn từng bữa. Đến năm 1990, nghĩa là sau đổi mới được 4 năm, GDP bình quân đầu người mới đạt mức 98 USD (Lào là 186 USD, và Campuchia là 191 USD).
Đảng và nước một mặt đổi mới theo nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, một mặt chủ động làm hòa với những anh trước đây bị ta đánh cho không còn manh giáp; trước hết là bình thường hóa quan hệ với tàu năm 1991 (bại quốc của ta năm 1979 - 1989). Đến 1995 thì bắt tay với người Mỹ (kẻ thua cuộc từ 1954-1975). Việt Nam xác định rõ là anh nào hung hăng, láo lếu mang quân xâm lược thì sẽ bị đánh cho phiến giáp bất hoàn nhưng chẳng có kẻ thù nào là vĩnh viễn mà chỉ có lợi ích dân tộc là mãi mãi trường tồn. Khép lại quá khứ, bắt tay hướng về tương lai. Chúng ta khôn ngoan là thế, vậy nên từ đó trở đi nước ta tạm yên ổn để phát triển kinh tài và kết quả thu về trên cả tuyệt với:
+ Giai đoạn đầu Đổi mới (1986-1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 4,4%/năm, giai đoạn 1991-1995 GDP bình quân tăng 8,2%/năm; giai đoạn 1996-2000 GDP bình quân tăng 7,6%/năm; giai đoạn 2001-2005 GDP tăng bình quân 7,34%/năm; giai đoạn 2006-2010, do suy giảm kinh tế thế giới, Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,32%/năm. Giai đoạn 2011-2015, GDP của Việt Nam tăng chậm lại nhưng vẫn đạt 5,9%/năm, giai đoạn 2015-2020 là 6,8%. GDP bình quân đầu người năm 1991 chỉ là 188 USD/năm. Đến năm 2003, GDP bình quân đầu người đạt 471 USD/năm và đến nay GDP đầu người đạt gần 3.000 USD/năm.
+ Tỷ lệ nghèo đói giảm từ 58% năm 1992 xuống còn 3,9% cuối năm 2019.
+ Năm 1991 xuất khẩu là 2.087,1 triệu USD, đến năm 2019 thì hơn cả Thái Lan, đạt trên 500 tỉ USD.
+ Trong hơn 30 năm, Việt Nam thu hút được hơn 500 tỷ USD của các nhà đầu tư nước ngoài, nguồn vốn này đã góp phần lớn làm tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam.
+ Quy mô nền kinh tế tương đương với Phillipines, kém Singapore tý xíu, bằng 2/3 Thái Lan, bằng 1/3 Indonesia. Nếu Biết rằng ngày mới giải phóng xong thì quy mô nên kinh tế nước ta thua các nước trên hàng chục lần.
Đến nay, đường bộ thì có ô tô, đường thủy thì tàu bè, du thuyền hạng sang, trên không thì máy bay lượn lờ cả ngày. Đừng nói phét là có người vẫn chết vì đói rét, vì hộ nghèo và cận nghèo được nhà nước hỗ trợ; không có nhà thì xây cho nhà tình nghĩa; già thì có tiền tuổi già; neo đơn, bệnh tật thì có trung tâm bảo trợ xã hội, đi viện thì có thể bảo hiểm hộ nghèo. Có sức khỏe thì lao động tay chân ngày kiếm đôi trăm là vô tư, rượu bia thì không thiếu, ăn uống thì no đủ. Mấy anh hay ôn nghèo kể khổ, kể thiếu ăn lại là những anh béo phì. Không lan man nữa, kết luận luôn là: cứ đà nay thì chỉ 15-20 năm nữa ta sẽ là anh cả của Đông Nam Á về kinh tế, quân sự thì đương nhiên đã nằm vào hạng đại ca từ mấy chục năm nay. Anh, chị nào còn có thói quen tự nhục thì về mua con gà với cả lít rượu, buông màn mà uống rồi hẳng chê bai./.
-----------------------
Mai Năm Mới (ST)