Trải qua hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh vị trí, vai trò của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đó là là nhiệm vụ sống còn đối với cách mạng Việt Nam và được tiến hành từ rất sớm. Nền tảng tư tưởng của Đảng là một bộ phận quan trọng, đồng thời cũng là nhân tố căn bản, cốt lõi, tạo cơ sở, tiền đề quyết định mọi hoạt động xây dựng, sinh hoạt và lãnh đạo của một Đảng. Nếu nền tảng tư tưởng thay đổi, tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về mục tiêu, lý tưởng, nguyên tắc tổ chức, phương hướng hoạt động chính trị của Đảng. Do đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[1]. Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngày 22-10-2018, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan báo chí tuyên truyền các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.
Nội dung chính, hàng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
khỏi sự chống phá của các thế lực thù địch chính là bảo vệ Chủ nghĩa Mác -
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, bản thân Chủ
nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh có khả năng tự bảo vệ chính minh
bởi bản chất cách mạng, khoa học và là học thuyết mở; là học thuyết lý luận
sâu sắc, toàn diện trên nhiều lĩnh vực của, mà cơ bản, trọng yếu, cốt lõi, nhất
là: Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học và một hệ thống
quan điểm toàn diện và sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản
của cách mạng Việt Nam
Học thuyết về chủ nghĩa cộng sản này do các nhà kinh điển dày công
xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX trên cơ sở thực tiễn chủ nghĩa
tư bản đã và chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc; phong trào đấu tranh cách
mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động trên toàn thế giới đang phát
triển mạnh mẽ và giành được những thắng lợi như: Công xã Paris, Cách mạng Tháng
Mười Nga, sự ra đời Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-viết, giải phóng
hàng trăm triệu nhân dân lao động khỏi ách áp bức, bóc lột của chế độ phong
kiến, đế quốc và tư bản.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu
sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết
quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện
cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to
lớn và quý báu của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta giành thắng lợi[2].
Như vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là những học
thuyết, những tư tưởng được hình thành trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những
thành tựu văn minh của tư duy nhân loại; liên tục được bổ sung, phát triển từ
những kết quả nghiên cứu mới nhất của khoa học và tổng kết thực tiễn lịch sử
trong nước và thế giới, cùng những dự báo khoa học về tương lai.
Hệ thống tri thức này là những kiến thức khoa học có tác dụng trực
tiếp nâng cao trình độ nhận thức, hình thành thế giới quan, nhân sinh quan,
phương pháp luận khoa học và nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Nếu tất cả mọi người đều có ý thức học tập, quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng
tạo những kiến thức này trong hoạt động thực tiễn sẽ luôn giữ vững được lập
trường của người cộng sản, không bị hoang mang, dao động trước những nội dung
tuyên truyền xấu độc, xuyên tạc của các thế lực thù địch, đóng góp tích cực cho
công cuộc đổi mới, phát triển đất nước.
Gần đây, khái niệm Nền tảng tư tưởng còn
được hiểu rộng hơn, đó còn là các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về các vấn đề
chiến lược của đất nước (như về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội; Về đường lối phát triển kinh tế - xã hội, Về an ninh – quốc phòng và
bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, …). Những nội dung này chưa được đề cập chính
thức trong các văn kiện của Đảng, mà chỉ được nhắc tới trong những bài nói
chuyện, phát biểu của các lãnh đạo cao cấp của Đảng.
Tại sao phải bảo vệ nền tảng tư tưởng?
Với vị trí,
vai trò quan trọng như trên, nền tảng tư tưởng luôn luôn là đối tượng và mục
tiêu chống phá của các thế lực thù địch phản động. Chúng luôn tìm mọi cách nói
xấu, bôi nhọ, xuyên tạc, chống đối nền tảng tư tưởng của Đảng ta, hòng làm cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân dao động, chệch hướng. Việc bảo vệ nền tảng tư
tưởng được nhận thức từ rất sớm và ngày càng trở thành công việc liên tục,
thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng.
Đặc biệt, việc lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng được thể
hiện đậm nét nhất trong Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày
22/10/2018) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản
bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Nghị quyết nêu
rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính
trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường
hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống
còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan báo chí tuyên truyền các
cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng,
chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp;
của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người
đứng đầu.
Đến Đại hội lần thứ XIII của Đảng, nhận thức sâu sắc sự nguy hại và hậu quả
nghiêm trọng của việc xa rời nền tảng tư tưởng, Báo cáo chính trị đặt lên hàng
đầu quan điểm : “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-
Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng
Đảng để xay dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[3].
Như vậy, quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong hơn chín thập kỷ qua với
mười ba lần đại hội, đã cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn kiên trì, kiên
định với nền tảng tư tưởng của Đảng và luôn kiên quyết đấu tranh phản bác các
quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ.
Trong tình hình hiện nay, Đảng và nhân dân ta đang tiếp tục công
cuộc xây dựng và phát triển đất nước, thế và lực của chúng ta đã lớn mạnh hơn
lúc nào hết, nhưng cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng vẫn phải diễn ra với
những khó khăn, thử thách mới, các thế lực thù địch càng tìm cách chống phá
tinh vi, quyết liệt hơn. Bản thân các cán bộ, đảng viên càng cần phải nhận thức
rõ hơn về nền tảng tư tưởng, nhận thức công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng là
việc làm thường xuyên, có thái độ tích cực, kiên quyết hơn. Trên cơ sở đó, việc
bảo vệ nền tảng tư tưởng sẽ vượt qua mọi thách thức và càng thành công.
Công việc bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng được tiến hành từ rất sớm
Từ khi
thành lập cho đến nay, Đảng luôn thể hiện rõ là một đảng cách mạng
chân chính, hội tụ sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, là đội tiên
phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Cùng với quá
trình lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển
đất nước; Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng,
đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ rất quan trọng,
liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Đây là nhiệm vụ được
thực hiện xuyên suốt, thường xuyên, liên tục từ khi Đảng ra đời đến nay. Trong
phạm vi này, chúng ta khái quát lại những mốc lớn được thể hiện qua các kỳ Đại
hội để thấy được vị trí, vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng của việc bảo vệ
nền tảng tư tưởng.
Với những nội dung được đề ra trong Hội
nghị thành lập Đảng, cho chúng ta thấy rằng, ngay từ đầu, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã hoạt động dựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Chính nền tảng đó là “kim chỉ nam” cho Đảng hoạch định cương
lĩnh, đường lối đúng đắn và hiện thực hóa thành công những mục tiêu chiến lược,
nhiệm vụ chính trị, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác.
Những năm 50, 60 của thế kỷ 20, trên thế
giới xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, xét lại chống lại chủ nghĩa Mác cũng như phong
trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
kiên quyết và kiên trì đấu tranh để bảo vệ chủ nghĩa Mác. Tháng 12/1963, Đảng
Lao động Việt Nam ban hành Nghị quyết Trung ương 9 khóa III “về tình hình thế
giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng”. Trong Nghị quyết, Đảng ta đã chỉ rõ khi đó,
có một số cán bộ, đảng viên đã nhận thức và hành động trái với quan điểm của
Đảng, có người rời bỏ Đảng, được cử đi học và tìm cách ở lại nước ngoài. Số đó
tuy rất ít nhưng đã ảnh hưởng nghiêm trong đến uy tín của Đảng. Do đó, với lập
trường kiên định và rõ ràng, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên cường đấu
tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của
Đảng. Vì vậy, trước những sóng gió cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại sự chống
phá của các phần tử phản động, cơ hội, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí đã luôn giữ được
sự thống nhất vững chắc về tư tưởng, lý luận; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc, hoàn thành giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90
của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu đã từng bước rơi
vào khủng hoảng và sụp đổ. Tổng thống Nga V.Putin trong Thông điệp Liên bang
năm 2005 gọi đó là “một chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX”. Sự đổ
vỡ này xảy ra ngay tại Liên Xô - quê hương của Cách mạng tháng Mười, nơi khai
sinh ra nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, nơi được coi thành trì của chủ
nghĩa xã hội hiện thực khiến cho các học giả tư sản được dịp lên tiếng phê
phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin.
Kể từ sau sự kiện gây chấn động lịch sử
toàn thế giới đến nay đã gần 30 năm, các thế lực thù địch vẫn luôn ra sức tìm
mọi cách lợi dụng xuyên tạc, công kích và phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ
cho rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu
lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác -
Lênin”; và bởi, “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ
nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được” [1, tr 48].
Những luận điệu đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với các hình thức, diễn
đàn khác nhau nhằm phủ nhận bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác -
Lênin. Xuất phát từ lập luận đó, họ cho rằng hiện nay “Việt Nam đang bế tắc
không chỉ về kinh tế, mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác
nữa” [1, tr.48]. Do đó, theo họ, Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”,
“tránh con đường đau khổ” mà một số nước đã đi qua để đi theo con đường tư bản
chủ nghĩa. Đây thực sự là một thử thách rất lớn đối với việc bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Đảng.
Cuối
những năm 80, với sự nhạy cảm đặc biệt về chính trị, Trung ương Đảng, Bộ Chính
trị và Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã sớm nhận thấy những diễn biến tiêu cực
của các Đảng và các nước xã hội chủ nghĩa nên đã chủ động phòng ngừa sự chống
phá của các thế lực thù địch. Sự chủ động và quyết tâm của Đảng được thể hiện
rõ trong Nghị quyết Trung ương 6 khóa VI khi đề ra những nguyên tắc chỉ đạo
công cuộc đổi mới, bảo đảm cho đổi mới đúng hướng, đúng mục tiêu và có hiệu
quả. Trong Nghị quyết, Đảng ta không chỉ khẳng định tính chất của công cuộc đổi
mới ở Việt Nam không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà là làm cho
mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ
nghĩa xã hội, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp mà Đảng ta còn
nhấn mạnh: “Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta,
chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”[2, tr 591]. Sự khẳng định
này đã cho thấy bản lĩnh và quyết tâm rất lớn của Đảng trong việc kiên định chủ
nghĩa Mác - Lênin, bất chấp mọi sự chống phá của các thế lực thù địch.
Tiếp theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 6 khóa VI, tháng
8/1989, Hội nghị Trung ương 7 khóa VI của Đảng ban hành Nghị quyết “Một số vấn
đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện
nay”. Trung ương đã nhận định 6 điểm về những sai lầm trong cải tổ, cải cách
của một số đảng về thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng, dân chủ hóa không
giới hạn, hạ thấp sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ nhận thành tựu của lịch
sử, của chủ nghĩa xã hội. Từ việc nhìn nhận những thất bại của chủ nghĩa xã hội
ở Liên Xô và Đông Âu khi buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc bảo vệ
nền tảng tư tưởng của Đảng, khiến đảng viên và nhân dân mất niềm tin vào chính
lý tưởng mà mình đã theo đuổi, Nghị quyết Trung ương 7 khóa VI của Đảng đã nhấn
mạnh: “Giáo dục trong Đảng và trong nhân dân kiên trì mục tiêu, lý tưởng xã hội
chủ nghĩa, trên cơ sở quán triệt năm nguyên tắc và những chính sách đổi mới của
Đảng” [2, tr 742]. Quan điểm này cho thấy sự kiên định của Đảng trong việc
lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin trong một giai đoạn
rất khó khăn và cam go.
Một
trong những điểm nhấn quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng đấu tranh bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thể hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Đại hội VII năm 1991). Lúc này, mặc dù sự sụp
đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu vừa tạo ra một “chấn động chính
trị toàn thế giới” song Đảng ta vẫn khẳng định Việt Nam vẫn đi theo con đường
xã hội chủ nghĩa và Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Toàn bộ mặt trận tư tưởng, lý
luận của Đảng hướng vào làm sáng tỏ và sâu sắc hơn bản chất cách mạng, khoa học
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định tính tất yếu của
con đường xã hội chủ nghĩa; đồng thời kiên quyết đấu tranh chống những luận
điệu sai trái, thù địch. Đây là một Cương lĩnh rất quan trọng của thời kỳ đổi
mới, khẳng định rất rõ sự kiên trì, quyết tâm của Đảng trong việc bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
trong mọi tình huống.
Từ sau Cương lĩnh, căn cứ vào
tình hình cụ thể ở mỗi giai đoạn, Đảng ta tiếp tục đưa ra những chỉ đạo cụ thể
về việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch như Nghị quyết số 01-NQ/TW “Về công tác lý luận trong giai đoạn
hiện nay” (tháng 3/1992); Nghị quyết số 09-NQ/TW “Về một số định hướng lớn
trong công tác tư tưởng hiện nay” (tháng 2/1995); đặc biệt là Nghị quyết Trung
ương 4 khóa XI (năm 2012) và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (năm 2016) về xây
dựng Đảng. Trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Đảng ta đã thẳng thắn vạch rõ
những âm mưu thâm độc của các lực lượng thù địch khi thực hiện chiến lược “diễn
biến hòa bình” ở Việt Nam như: “Diễn biến hòa bình là một chiến lược nằm trong
hệ thống chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, là “thủ đoạn hòa bình
để giành thắng lợi”. Nhiều chuyên gia và chính khách phương Tây còn gọi đây là
phương pháp “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”, “cách mạng hòa bình” và
gần đây là “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố… Trong
chiến lược này, hoạt động văn hóa - tư tưởng được coi là “mũi đột phá”,
là “cây cầu dẫn vào trận địa”, là lĩnh vực hàng đầu làm tan rã niềm tin, gây
hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra khoảng trống để dần dần đưa hệ tư tưởng
tư sản vào, rồi cuối cùng xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa” [3,
tr.92-93]. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa
XII, Đảng ta còn chỉ rõ đã có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “nhận
thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính
trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương,
đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước”[4, tr 28].
khiến cho các thế lực thù địch có cơ hội chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng
của Đảng.
Đặc biệt, việc lãnh đạo đấu
tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng được thể hiện đậm nét nhất trong Nghị quyết số
35-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 22/10/2018) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư
tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình
hình mới”. Nghị quyết nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng,
bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia,
dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ðó là nội
dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó các cơ quan
báo chí tuyên truyền các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên
của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể
chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ,
đảng viên, trước hết là người đứng đầu.
Đến Đại hội lần thứ XIII của
Đảng, nhận thức sâu sắc sự nguy hại và hậu quả nghiêm trọng của việc xa rời nền
tảng tư tưởng, Báo cáo chính trị đặt lên hàng đầu quan điểm : “ Kiên định và
vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới
của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xay dựng và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [5, tr 109].
Như vậy, quá trình lãnh đạo cách mạng Việt
Nam trong suốt 91 năm với mười ba lần đại hội, đã cho thấy Đảng Cộng sản Việt
Nam đã luôn kiên trì, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng và luôn kiên
quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ Đảng, bảo
vệ chế độ. Quá trình ấy, cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng có những
thời điểm quyết liệt, có tính chất sống còn, có những lúc êm ả nhưng không kém
phần nguy hiểm nhưng Đảng ta vẫn đứng vững. Trong tình hình hiện nay,
Đảng ta, nhân dân ta đang tiếp tục công cuộc xây dựng và phát triển đất nước,
thế và lực của chúng ta đã lớn mạnh hơn lúc nào hết, nhưng cuộc đấu tranh bảo
vệ nền tảng tư tưởng đang diễn ra với những khó khăn, thử thách mới, bởi lẽ các
thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá quyết liệt. Tuy nhiên, với những bài
học kinh nghiệm suốt 91 năm qua về sự kiên định trong việc bảo vệ nền tảng tư
tưởng, sự đồng thuận của cả dân tộc, của cả hệ thống chính trị, nhất định Đảng
ta, nhân dân ta sẽ vượt qua mọi thách thức và thu được thắng lợi to lớn.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét