Vượt lên trên mọi giới hạn về không gian và
thời gian, những nguyên lý, khái niệm, phạm trù, quy luật và phương pháp luận
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin tiếp tục là “chìa khóa” giải đáp những vấn đề
tư tưởng, soi sáng những nhiệm vụ lịch sử chín muồi của nhân loại, đó là giải
phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, mọi sự tha hóa. Chủ nghĩa
Mác - Lê-nin có giá trị bền vững và tính thời đại bởi bản thân nó là một học
thuyết phát triển và nhân văn, luôn hướng tới sự tiến bộ của xã hội. Những giá
trị cơ bản đó được thể hiện sinh động, nhất quán từ chủ nghĩa Mác đến chủ nghĩa
Lê-nin và trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nói học thuyết Mác là học thuyết phát triển
bởi nó mang bản chất khoa học, cách mạng triệt để nhất. Ngày nay, mặc dù thế
giới có nhiều đổi thay, bản thân các nước tư bản cũng có sự điều chỉnh để thích
nghi với hoàn cảnh mới, nhưng bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản vẫn không
hề thay đổi. Những hạn chế, khuyết tật vốn có của chủ nghĩa tư bản, như ô nhiễm
môi trường, xung đột, khủng bố, bạo lực và bất ổn xã hội, khủng hoảng kinh tế,
bất bình đẳng xã hội,... vẫn diễn ra hết sức gay gắt và phức tạp ở các nước tư
bản. Thậm chí, học giả Allen W. Wood còn chỉ ra rằng: “Phần lớn mọi người đều
cho rằng Mỹ là quốc gia giàu có nhất trên thế giới, nhưng đó cũng là quốc gia
bất bình đẳng nhất trên thế giới: 400 người giàu nhất nước Mỹ sở hữu khối lượng
tài sản cao hơn tổng số tài sản của 150 triệu người nghèo nhất. Những người
giàu nhất chiếm 1% dân số nhưng lại sở hữu hơn 1/3 tổng lượng tài sản của toàn
xã hội, vượt quá tổng lượng tài sản của những người có thu nhập thấp nhất nước
Mỹ - đối tượng chiếm tới 95% dân số”(1). Với những mâu thuẫn mang tính bản chất
đó, theo sự vận động của quy luật xã hội, xu hướng diệt vong tất yếu của chủ
nghĩa tư bản vẫn là vấn đề thời sự của không chỉ thời Mác sống mà ngay cả tới
tận ngày nay.
V.I. Lê-nin từng chỉ rõ: “Học thuyết của Mác
là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết
hoàn bị và chặt chẽ; nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh,
không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào”(2).
Cũng vì đó là học thuyết phát triển, học thuyết mở nên sẽ là sai lầm nếu tuyệt
đối hóa mặt này hay mặt kia của nó. Chính Ph. Ăng-ghen từng nói rõ: “Lý luận
của chúng tôi là lý luận của sự phát triển, chứ không phải là một giáo điều mà
người ta phải học thuộc lòng và lắp lại một cách máy móc”(3). Sau này, V.I.
Lê-nin cũng khẳng định và nhấn mạnh: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như
là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng
lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa
cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối
với cuộc sống”(4).
Với chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà cốt lõi là
lý luận về hình thái kinh tế - xã hội, C. Mác đã chỉ ra quy luật phát triển của
xã hội loài người thực chất là sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội,
thông qua cách mạng xã hội. Sự thay thế đó là một quá trình lâu dài và được
quyết định bởi những mâu thuẫn nội tại của các hình thái kinh tế - xã hội ấy.
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội được xem như là một cơ thể sống, một cơ cấu xã
hội hoàn chỉnh, luôn luôn biến động bởi sự tác động tổng hợp của lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất, của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong sự
tác động đó, con người luôn giữ vai trò trung tâm và quan trọng nhất, quyết
định sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội. Vì thế, C. Mác khẳng
định: “Trong tất cả những công cụ sản xuất, thì lực lượng sản xuất hùng mạnh
nhất là bản thân giai cấp cách mạng”(5).
Trong khi khẳng định tính tất yếu của hình
thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, C. Mác cũng chứng minh tính tất yếu của
hình thái kinh tế - xã hội mà hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa nhất
thiết phải chuyển sang, đó là hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa,
trong đó giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa. Sự vận động, phát triển,
thay thế các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao là quy luật tất yếu của
lịch sử xã hội loài người, chứ không phải của riêng một dân tộc hay quốc gia
nào.
Đối chiếu với lịch sử phát triển xã hội loài
người cũng như thực tiễn phát triển xã hội của nhân loại ngày nay, có thể thấy,
sự tổng kết nói trên của C. Mác là hoàn toàn đúng đắn, vượt xa thời đại mà ông
sống về tư duy cũng như tầm nhìn. Quan điểm duy vật lịch sử cùng với lý luận về
hình thái kinh tế - xã hội của C. Mác là nền tảng trong việc hình thành nhận
thức về xã hội tư bản chủ nghĩa hiện đại và xã hội xã hội chủ nghĩa với đầy đủ
những đặc điểm về bản chất, mâu thuẫn, xu hướng vận động, phát triển cũng như
con đường đưa chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trở thành hiện thực.
Lý luận kinh tế chính trị của C. Mác với học
thuyết giá trị thặng dư lại chỉ ra mục đích và bản chất của chủ nghĩa tư bản là
bóc lột giá trị thặng dư và lợi nhuận tối đa, là nguồn gốc dẫn tới sự bất công,
bất bình đẳng trong xã hội. Nhiều học giả tư sản cố gắng phủ nhận học thuyết
giá trị thặng dư của C. Mác bằng cách lý giải rằng, chính máy móc tạo ra giá
trị, còn sức lao động của công nhân thì được trả công sòng phẳng, vì thế, nhà
tư bản không hề bóc lột công nhân, mà họ làm giàu chính đáng nhờ “bóc lột” máy
móc. Tuy nhiên, C. Mác và Ph. Ăng-ghen đã chỉ ra những mâu thuẫn cũng như
khuyết tật cố hữu của chủ nghĩa tư bản, đồng thời cung cấp căn cứ lý luận xác
đáng để đi đến khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai
cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”(6).
Ngày nay, trong chủ nghĩa tư bản hiện đại,
dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn
cầu hóa và kinh tế tri thức, giá trị thặng dư được tạo ra ngày càng nhiều hơn
cho nhà tư bản. Vai trò, vị trí của giai cấp công nhân, người lao động mặc dù
được đề cao và đời sống của họ cũng được cải thiện nhiều mặt; song, xét về địa
vị, họ vẫn là những người lao động làm thuê, phục vụ mục đích làm gia tăng giá
trị thặng dư cho nhà tư bản. Bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản hiện
đại không hề thay đổi. Những mâu thuẫn vốn có của xã hội tư bản chủ nghĩa, nhất
là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và
chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng trở nên sâu sắc. Trước thực
tiễn đó, bản thân chủ nghĩa tư bản, dù ở phương Đông hay phương Tây, đều phải
điều chỉnh để thích nghi và tồn tại.
Theo chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội có mục
đích trực tiếp là giải phóng giai cấp vô sản, song bản chất và mục đích sâu xa
của chủ nghĩa xã hội hay của chủ nghĩa cộng sản là giải phóng con người, tạo
điều kiện cho con người được tự do và phát triển toàn diện. Quan điểm này của
chủ nghĩa Mác vừa bao hàm giá trị khoa học, biện chứng, vừa thấm đẫm tính nhân
văn, nhân đạo cao cả. Chủ nghĩa Mác, bằng lý luận hoàn bị của mình, khẳng định
việc thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân, người lao động
là tất yếu khách quan, thay thế cho chế độ tư bản chủ nghĩa vốn đã bộc lộ quá
nhiều khiếm khuyết và mâu thuẫn; đồng thời, luận giải một cách khoa học về sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản và khả
năng quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở các nước lạc
hậu... Phương pháp tiếp cận khoa học, biện chứng cùng quan điểm có tính cách
mạng và nhân văn về bản chất, mục tiêu, động lực phát triển của xã hội xã hội
chủ nghĩa là những giá trị không thể phủ nhận của chủ nghĩa Mác.
Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xuất phát
từ thực tiễn nước Nga và bối cảnh chủ nghĩa tư bản thế giới chuyển từ giai đoạn
tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát
triển lý luận của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, hình thành nên chủ nghĩa Mác -
Lê-nin. Sự bổ sung, phát triển đó của V.I. Lê-nin diễn ra toàn diện, cả trên
lĩnh vực triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, nhằm
ứng dụng vào thực tiễn cách mạng nước Nga. V.I. Lê-nin là người sáng lập ra học
thuyết về chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân và đưa ra luận điểm: Cách
mạng vô sản có thể nổ ra và thắng lợi ở một số nước, thậm chí ở một nước lạc
hậu. Luận điểm này đã được chứng minh bởi thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười
Nga năm 1917, là sự bổ sung, phát triển sáng tạo của V.I. Lê-nin đối với học
thuyết của C. Mác và Ph. Ăng-ghen, bởi trước đó, hai ông nhận định, chủ nghĩa
xã hội chỉ có thể giành thắng lợi trước tiên ở các nước công nghiệp phát triển
phương Tây.
V.I. Lê-nin còn nhận thấy vai trò to lớn và
mối quan hệ mật thiết của cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng xã hội chủ
nghĩa trong thời đại mới, của độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi
của Cách mạng Tháng Mười Nga đưa đến sự ra đời của nước Nga Xô-viết, đồng thời
mở ra thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Sau cuộc
nội chiến, nước Nga lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, V.I. Lê-nin đã
đề xướng cải cách chủ nghĩa xã hội với “Chính sách kinh tế mới” (NEP), thay cho
“Chính sách cộng sản thời chiến”, đưa nước Nga ra khỏi cuộc khủng hoảng.
“Chính sách kinh tế mới” chủ trương dùng lợi
ích kinh tế để tạo động lực thúc đẩy tính tự giác, tích cực của công nhân, nông
dân và người lao động, giải phóng lực lượng sản xuất cùng mọi tiềm năng sáng
tạo của con người để thúc đẩy xã hội phát triển. Theo đó, việc thực hiện các
hình thức “quá độ gián tiếp”, “quá độ đặc biệt”, những “biện pháp trung gian”
được thừa nhận như là giải pháp hữu hiệu nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội: “Chúng
ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ
nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ
nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực
lượng sản xuất lên”(7).
Có thể nói, tư tưởng của V.I. Lê-nin về cách
mạng vô sản, về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước tiểu nông, có chủ nghĩa tư
bản phát triển ở mức độ trung bình; về đặc điểm, tính chất, biện pháp trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; về vai trò của đảng cộng sản và nhà nước
xã hội chủ nghĩa..., đều là những sáng tạo vô giá, giúp bổ sung, làm giàu thêm
cho lý luận của chủ nghĩa Mác. Nhờ đó, chủ nghĩa Mác - Lê-nin trở thành ngọn
hải đăng soi sáng con đường cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc,
giải phóng con người cho hàng triệu người dân lao động ở các nước thuộc địa
trên thế giới, cũng là cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành công
cuộc đổi mới hiện nay.
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước.
Ngay sau khi được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân
tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lê-nin, Người xác định, con đường tất yếu của
cách mạng Việt Nam là phải tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách
mạng xã hội chủ nghĩa để giải phóng dân tộc, giai cấp và con người. Vì thế,
xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền
với chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người tiên phong trong việc
thức tỉnh dân tộc mình và các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành lại
độc lập dân tộc. Đồng thời, Người cũng khẳng định: Cách mạng giải phóng dân tộc
ở các nước thuộc địa có mối quan hệ chặt chẽ với cách mạng ở chính quốc, nhưng
không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng ở chính quốc; nhân dân các dân tộc
thuộc địa và phụ thuộc có thể chủ động đứng lên, “đem sức ta mà giải phóng cho
ta”, giành thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc.
Xuất phát từ điều kiện đặc thù của xã hội Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết sáng tạo và thành công mối quan hệ giữa
dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, từ đó tranh thủ được sự đồng tình, ủng
hộ của bạn bè quốc tế đối với cách mạng nước ta. Về con đường quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta, Người cho rằng, đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên
chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. Quan điểm này
của Người đã cụ thể hóa và làm phong phú thêm lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lê-nin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, là cơ sở để xác định
bước đi và các biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Về mục tiêu và lý
tưởng của chủ nghĩa xã hội, Người khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm
làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc
làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”(8).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu, chuyển hóa
và vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn
cách mạng nước ta; qua đó, tạo nên hệ thống tư tưởng của mình và tạo tiền đề
quan trọng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa Xuân năm 1930. Thực
tiễn cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo, dẫn dắt của Ðảng Cộng
sản Việt Nam, nhất là trong 35 năm đổi mới vừa qua, đã khẳng định và chứng minh
giá trị, sức sống vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cùng
với đó, thực tiễn đổi mới, cải cách, mở cửa ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện
nay, những chuyển biến tích cực tại các nước tư bản chủ nghĩa và nỗ lực phát
triển không ngừng của các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới, cũng là
những minh chứng cho giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thời
đại ngày nay./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét