Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2022

SỰ RA ĐỜI CỦA NỀN DÂN CHỦ TƯ SẢN

 


Lịch sử loài người đã trải qua hình thái kinh tế - xã hội phong kiến song “nền dân chủ phong kiến” đã không tồn tại. Với cách tổ chức quyền lực của nhà nước, giai cấp phong kiến đã thủ tiêu những tiến bộ của nền dân chủ chủ nô trước đó, thiết lập nhà nước quân chủ của giai cấp mình.

Trước sự hà khắc của chế độ chuyên chế (quân chủ) phong kiến, nhân dân (đông đảo là nông dân) đã đấu tranh phản kháng buộc giai cấp quý tộc phong kiến phải thực thi một số yêu cầu dân chủ. Ở phương Tây, vào thế kỷ XIV-XVI, các trào lưu tiến bộ của giai cấp tư sản mới xuất hiện đã nêu cao yêu cầu tự do, dân chủ (nhất là trong lĩnh vực văn hóa, khoa học) mở đường cho sự ra đòi của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản gắn liền với sự hình thành của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quá trình khẳng định dân chủ tư sản đồng thời cũng là quá trình phủ định nền quân chủ, diễn ra từ thấp tới cao trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ hẹp đến rộng, nhằm xóa bỏ từng yếu tố phản dân chủ của chế độ phong kiến, đi tới phủ định nền quân chủ (mặc dù chưa triệt để). Quá trình khẳng định và phủ định này không phải tự động, tự nhiên mà là quá trình đấu tranh giai cấp quyết liệt của giai cấp tư sản và những đồng minh của nó nhằm xóa bỏ phương thức sản xuất phong kiến, lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến. Nền dân chủ tư sản được hình thành tương đối đầy đủ trong quá trình đấu tranh CMTS - một nấc thang quan trọng của tiến bộ lịch sử.

Theo chủ nghĩa Mác, dân chủ tư sản là một sự phát triển về chất, đó là bước phát triển nhảy vọt so với nền chuyên chế, độc tài của chế độ phong kiến, quân chủ. Bình đẳng, bình quyền, tự do cá nhân là nội dung nổi bật của dân chủ tư sản (những yếu tố chưa hề có trong chế độ phong kiến). Giai cấp tư sản không những hình thành và hoàn chỉnh một nền dân chủ tư sản, mà còn xây dựng một hệ thống chính trị cùng với một hệ thống thiết chế nhà nước nhằm bảo đảm sự thống trị của giai cấp tư sản. Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ tư sản là xác lập nhà nước pháp quyền (nguyên tắc hoạt động: tam quyền phân lập) và xã hội công dân (công dân có các quyền cơ bản và quyền bầu ra nhà nước) dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu.

So với chế độ quân chủ phong kiến, dân chủ tư sản ra đời là một bước tiến lớn của nhân loại (C.Mác). Tuy nhiên, để bảo vệ quyền thống trị về chính trị, kinh tế, giai cấp tư sản đã thẳng tay sử dụng chuyên chính đàn áp các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động.  

V.I.Lênin cho rằng, ngay trong giai đoạn phát triển nhất của nền cộng hòa dân chủ tư sản thì chế độ dân chủ ấy vẫn bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản, thực ra, nó chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi[1].

Tuy nhiên, hiện nay, để tồn tại, giai cấp tư sản buộc phải có nhiều điều chỉnh, trong đó có việc mở rộng quyền dân chủ cho nhân dân. Nhưng điều đó không có nghĩa là dân chủ tư sản đã biến thành dân chủ “nhân dân”. Với những giới hạn không thể vượt qua, nền dân chủ tư sản vẫn là dân chủ dành cho thiểu số những người có của.



[1]em y J Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.33, tr. 106-107-

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét