Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống các quan điểm
toàn diện, “bao hàm nội dung rất rộng, liên quan đến toàn bộ sự nghiệp cách
mạng nước ta”. Trong đó, tư tưởng đối ngoại là một bộ phận quan trọng về chiến
lược, sách lược cách mạng trong các vấn đề quốc tế, không chỉ có giá trị lịch
sử mà còn có ý nghĩa thời đại to lớn.
Trong bối cảnh hiện nay, việc
tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong công tác
đối ngoại của Đảng càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trong đó, chú
trọng những nội dung chủ yếu sau:
Một là, giữ vững các quyền dân
tộc cơ bản gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Ngay trong Tuyên ngôn
Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam theo tinh thần "tất cả
các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Việc bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản
phải gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường thì mới bền vững. Bác đã dặn:
"Muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình
đã"; "Muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm";
"Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ
trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy".
Người cũng đã đúc kết thành chân lý: "Không có gì quý hơn độc lập, tự
do". Và chân lý ấy, đến ngày nay vẫn là một yêu cầu thiết yếu trong quá
trình phát triển và hội nhập quốc tế.
Hai là, tư tưởng kết hợp sức
mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong đó, tư tưởng chủ đạo là
độc lập tự chủ, tự lực, tự cường gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế. Theo Chủ
tịch Hồ Chí Minh, "cái gốc, cái điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh
tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh". Người nhấn mạnh:
"Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại
giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn". Bác Hồ cũng đã chú trọng
xây dựng và phát huy sức mạnh của công tác đối ngoại nhân dân, nhờ đó đã vận
động được nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Người đã nêu rõ: "Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam
cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế
giới...".
Hiện nay, chúng ta đang tiếp
tục tăng cường thế và lực, phát huy sức mạnh của dân tộc theo tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh, bao gồm cả sức mạnh vật chất và tinh thần; cả vị trí chiến
lược quan trọng ở khu vực và các giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa, lòng
yêu nước, tinh thần cần cù lao động và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam...
Đồng thời, Đảng ta chủ trương kết hợp sức mạnh đó với sức mạnh thời đại là các
trào lưu tiến bộ chính trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và nền
kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, xu thế hòa bình,
hợp tác và phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng... Sau đại dịch Covid - 19,
Đảng và Chính phủ đang tận dụng tối đa khả năng các nước và tập đoàn kinh tế
lớn chuyển hướng tới thị trường Việt Nam; đồng thời, tiếp tục thu hút nguồn lực
của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự phát triển đất nước.
Ba là, tư tưởng yêu chuộng hoà
bình, chống chiến tranh xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn
kiên định thực hiện mục tiêu cao cả nhất của cách mạng là hòa bình, độc lập dân
tộc, thống nhất đất nước, chống chiến tranh xâm lược với tinh thần: "Chúng
ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu
làm nô lệ". Trong khi kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ, chống lại sự xâm lược, đô hộ của ngoại bang, Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn kiên trì đường lối hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước, trước hết là
các nước lớn và các nước láng giềng, qua đó đã thu hút được sự đoàn kết và ủng
hộ của đông đảo nhân dân trên thế giới, ngay cả nhân dân của các nước xâm lược
từ bản xứ.
Trong bối cảnh hiện nay, xu
hướng chung của thế giới và khu vực vẫn là hòa bình, ổn định, độc lập dân tộc,
dân chủ, hợp tác và phát triển. Tuy nhiên, tình hình thế giới có những thay đổi
nhanh chóng, phức tạp, khó lường với những bất ổn như xung đột ở Trung Đông,
châu Phi, chủ nghĩa khủng bố, cạnh tranh chiến lược giữa các nước, chủ nghĩa
đơn phương, chính trị cường quyền, thiếu tôn trọng luật pháp quốc tế, khiến thế
giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống, đòi hỏi Đảng
và Chính phủ ta phải vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các đối sách
ngoại giao và hợp tác quốc tế.
Bốn là, tư tưởng hòa hiếu, thêm
bạn bớt thù. Từ hoàn cảnh cách mạng, có lúc phải đối phó với nhiều đối
thủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật phương châm"... làm cho nước mình
ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết". Bác Hồ và Đảng ta phân biệt
rõ bạn, thù, bạn gần, bạn xa, bạn lâu dài, bạn nhất thời, tìm cách giảm bớt kẻ
thù, để tập trung đấu tranh với kẻ thù chính. Ngay khi còn trong nhà tù ở Trung
Quốc (1942-1943), Bác Hồ đã bày tỏ đoàn kết với phong trào chống thực dân của
Ấn Độ. Năm 1944, Người đích thân đưa Trung úy phi công W. Shaw đi Côn Minh trao
trả cho Mỹ, qua đó để Mỹ hiểu cuộc chiến đấu của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của
Mặt trận Việt Minh. Người cũng giáo dục nhân dân ta phân biệt rõ
bạn, thù, phân biệt thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với nhân dân Pháp và nhân dân
Mỹ để tranh thủ sự đoàn kết và ủng hộ của họ, cô lập và chĩa mũi nhọn đấu tranh
vào thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh,
Đảng ta chủ trương tiếp tục kiên trì nguyên tắc giữ vững độc lập dân tộc, chủ
quyền quốc gia, đồng thời nêu cao tinh thần hòa hiếu với tất cả các nước, đặc
biệt các nước lớn và láng giềng; vận dụng phương châm mà Bác Hồ đã chỉ đạo là
"biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự", cố gắng không để
bùng phát những vấn đề gây cấn, bất lợi trong quan hệ, ảnh hưởng đến hòa bình,
ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển của ta.
Do quan hệ quốc tế phức tạp, đa
chiều, lợi ích các quốc gia, dân tộc nhiều khi đan xen hoặc đối lập, Đảng ta đã
có cách nhìn nhận biện chứng với phương châm "gác lại quá khứ, hướng tới
tương lai"; xác định đồng minh, đối thủ là bộ phận quan trọng trong sách
lược cách mạng, giúp xử lý hiệu quả các mâu thuẫn, thu hút sự ủng hộ của bạn bè
và cô lập kẻ thù. Tính biện chứng còn được thể hiện ở chỗ xác định rõ các khái
niệm "đối tác", "đối tượng" nhằm phân biệt rõ "đối
tác" cần hợp tác và "đối tượng" cần đấu tranh trong từng trường
hợp cụ thể. Đảng và Nhà nước ta cũng đã thực hiện tốt các chủ trương từ
"thêm bạn, bớt thù" trước đây đến "Việt Nam là bạn, đối tác tin
cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình,
độc lập, hợp tác và phát triển". Tư tưởng đó đã phát huy hiệu quả, đưa vai
trò và vị thế quốc tế của Việt Nam lên một tầm cao mới.
Năm là, tư tưởng mở cửa và hợp
tác quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấu hiểu tầm quan trọng của việc mở cửa
và hợp tác quốc tế, ngay đầu tháng 12-1946, trong Lời kêu gọi gửi Liên hợp
quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đối với các nước dân chủ, Việt
Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực";
đón nhận đầu tư của các nhà tư bản và công nghệ nước ngoài; mở rộng các hải
cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế;
chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của
Liên hợp quốc...
Sáu là, tư tưởng "Ngoại
giao là một mặt trận". Lịch sử đấu tranh của dân tộc ta chống các kẻ thù xâm lược
mạnh hơn gấp nhiều lần đã hình thành nên nghệ thuật kết hợp giữa ba hình thức
đấu tranh: chính trị, quân sự và ngoại giao. Trong đó, ngoại giao là một mặt
trận, là một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói:
"Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ
ba mới là đánh bằng binh", và cũng theo quan điểm của Người: "Sau vấn
đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc
lập". Trên thực tế, đấu tranh ngoại giao khôn khéo có thể tránh được
xung đột hay chiến tranh hoặc có thể "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng
mạnh". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh "ngoại giao ai thuận
lợi hơn, thì thắng" và "có thể thắng trước kẻ thù xâm lược mạnh hơn
ta nhiều lần".
Trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, nước ta đã duy trì được hòa
bình, ổn định, nguy cơ chiến tranh bị đẩy lùi nhưng công tác đối ngoại vẫn có
vai trò to lớn trong xử lý các vấn đề quốc tế. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đề
cao tầm quan trọng của mặt trận đối ngoại, kết hợp chặt với mặt trận chính trị
và bảo vệ quốc phòng - an ninh, tạo sức mạnh tổng hợp, giữ gìn hòa bình, ổn
định và thúc đẩy hợp tác phát triển. Mặt trận đối ngoại luôn được triển khai
chủ động, tích cực và toàn diện gồm ngoại giao chính trị, ngoại giao quốc phòng
- an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa. Trong đó, ngoại giao cùng
với quốc phòng, an ninh "tạo thành thế chân kiềng vững chắc, tiếp tục đóng
góp chủ động, tích cực vào việc bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi
nước còn chưa nguy, phục vụ thiết thực các lợi ích an ninh, phát triển, nâng
cao vị thế đất nước".
Bảy là, tư tưởng "dĩ bất
biến ứng vạn biến" như một phương pháp, phong cách và nghệ thuật đối ngoại
của Hồ Chí Minh. Truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông ta đã hình
thành một phương cách ứng xử kiên trì về nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng,
khéo léo về sách lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: "Mục đích bất di
bất dịch của chúng ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc
của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt". Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn kiên trì giữ vững mục tiêu cách mạng, đồng thời ứng phó linh
hoạt, phù hợp với mọi sự biến chuyển nhanh chóng và khó lường của tình hình,
tương quan và tập hợp lực lượng, ý đồ của các nước lớn…
Trong bối cảnh mới, việc vận
dụng tư tưởng "dĩ bất biến ứng vạn biến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn
là một yêu cầu quan trọng. Cái "bất biến" vẫn là lợi ích quốc gia,
dân tộc, mà cốt lõi là độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ và biển đảo của Tổ quốc, chế độ XHCN, vai trò và quyền lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam. Cái "vạn biến" là sự biến chuyển nhanh chóng, khó
lường của tình hình, sự điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước, của
tương quan và tập hợp lực lượng, sự chuyển hóa của "đối tác",
"đối tượng"… Đảng và Nhà nước ta đã và đang kiên trì nguyên tắc bất
biến là "thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa
bình, hợp tác và phát triển", đồng thời tiếp tục thực hiện đa dạng hóa, đa
phương hóa quan hệ đối ngoại, xác định đúng đắn một cách biện chứng về
"đối tác" và "đối tượng" trong từng vấn đề thuộc lợi ích
quốc gia, dân tộc để kịp thời đề ra những chính sách, biện pháp hợp tác và đấu
tranh phù hợp và hiệu quả.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách
mạng Việt Nam đã đạt được những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giành độc lập
dân tộc, giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những
thành tựu vĩ đại của dân tộc có phần đóng góp hết sức quan trọng của công tác
ngoại giao. Ngoại giao Việt Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc trong mọi giai
đoạn cách mạng. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình mới, ngoại giao Việt Nam
tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, đi tiên phong
kiến tạo môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và kết hợp sức mạnh của
dân tộc với sức mạnh của thời đại nhằm phục vụ hiệu quả nhất cho sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét