56 NGÀY ĐÊM CHẤN ĐỘNG ĐỊA CẦU
Sau Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp được sự hỗ trợ của các
thế lực đế quốc quay trở lại xâm lược nước ta. Ngày 19/12/1946, đáp lời kêu gọi
của Chủ tịch Hồ Chí Minh “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất
nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã
nhất tề bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống kẻ thù xâm lược.
Thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài,
dựa vào sức mình là chính, với vũ khí thô sơ và tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc
quyết sinh”, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược quân sự của
thực dân Pháp. Quân ta càng đánh, càng mạnh, càng thắng, quân viễn chinh Pháp
ngày càng lún sâu vào thế bị động, lúng túng. Vùng giải phóng mở rộng, chính
quyền nhân dân được củng cố. Đến năm 1953, nhân dân và quân đội ta đã làm chủ
trên chiến trường. Để cứu vãn tình thế, bước vào Thu - Đông năm 1953, thực dân
Pháp và bọn can thiệp Mỹ đã cho ra đời Kế hoạch Na-va tăng viện lớn về binh lực
và chi phí chiến tranh, mưu toan trong vòng 18 tháng sẽ tiêu diệt phần lớn bộ
đội chủ lực của ta, kiểm soát lãnh thổ Việt Nam và bình định cả Nam Đông Dương.
Kế hoạch Na-va là kế hoạch chung, là nỗ lực cuối cùng của thực dân Pháp và can
thiệp Mỹ nhằm giành lại thế chủ động có tính quyết định về quân sự trên chiến
trường, làm cơ sở cho một giải pháp chính trị có lợi cho chúng. Pháp và Mỹ đã
lập 07 sư đoàn cơ động chiến lược với 27 binh đoàn làm nắm đấm thép.
Tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn và quyết định mở cuộc tiến công
chiến lược Đông - Xuân với phương châm: tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt,
tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta, chọn nơi địch sơ hở và nơi
tương đối yếu mà đánh, chọn những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do,
đẩy mạnh chiến tranh du kích, giữ vững thế chủ động, kiên quyết buộc địch phải
phân tán lực lượng. Quân và dân ta đã phối hợp với quân và dân các nước Lào,
Campuchia liên tiếp mở chiến dịch và giành thắng lợi ở Lai Châu, Trung Lào, Hạ
Lào, Đông Campuchia, Tây Nguyên và Thượng Lào, tiêu diệt nhiều sinh lực địch,
mở rộng vùng giải phóng, làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng của địch, buộc
quân Pháp phải phân tán lực lượng để đối phó trên khắp chiến trường Đông Dương,
đẩy chúng vào tình thế bị động chiến lược. Khi phát hiện hướng tiến công chiến
lược của ta vào Tây Bắc, Lai Châu và Thượng Lào, Bộ chỉ huy quân viễn chinh
Pháp đã cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ, đây là cứ điểm có ý nghĩa chiến
lược khống chế cả một vùng rộng lớn của Tây Bắc và Thượng Lào. Pháp và Mỹ đã
liên tiếp cho tăng cường lực lượng, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn
cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, với 16.200 quân gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17
tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe
tăng, 1 phi đội không quân, 1 đại đội vận tải cơ giới, được bố trí thành 3 phân
khu Bắc, Trung, Nam với 49 cứ điểm; hệ thống hỏa lực mặt đất có 2 tiểu đoàn
pháo 105mm, 1 đại đội pháo 155mm, 1 đại đội súng cối 120mm được bố trí ở Mường
Thanh và Hồng Cúm; hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm với gần 100 lần máy bay
lên, xuống mỗi ngày có thể vận chuyển khoảng 200 đến 300 tấn hàng và thả dù từ
100 đến 150 tên địch. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được tướng Na-va coi như
“một pháo đài không thể công phá”, là nơi thu hút để tiêu diệt bộ đội chủ lực
của ta. Điện Biên Phủ đã trở thành quyết chiến điểm của Kế hoạch Na-va.
Trước tình hình đó, ngày 06/12/1953, Bộ Chính trị họp bàn, quyết
định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ và thông qua phương án tác chiến, thành lập Bộ
Chỉ huy chiến dịch, Đảng ủy mặt trận do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh
kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng cung
cấp mặt trận do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Với ý nghĩa đặc biệt quan
trọng của chiến dịch, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã quyết định tập trung 4
đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo với tổng quân số trên 40.000 người. Cả
nước đã tập trung sức mạnh cho mặt trận Điện Biên Phủ với khẩu hiệu “Tất cả cho
tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, các đơn vị bộ đội chủ lực nhanh chóng tập
kết, ngày đêm bạt rừng, xẻ núi mở đường, kéo pháo, xây dựng trận địa, sẵn sàng
tiến công địch; 261.451 dân công, thanh niên xung phong bất chấp bom đạn hướng
về Điện Biên để bảo đảm hậu cần phục vụ chiến dịch.
Ngày 25/01/1954, các đơn vị bộ đội ta đã ở vị trí tập kết sẵn
sàng nổ súng theo phương châm tác chiến “đánh nhanh, giải quyết
nhanh”. Nhưng nhận thấy địch đã tăng cường lực lượng phòng ngự vững chắc,
Bộ Chỉ huy và Đảng ủy chiến dịch đã đưa ra quyết định đúng đắn: giữ vững quyết
tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, thay đổi phương châm tác chiến
sang “đánh chắc, tiến chắc”. Đây là quyết định đúng đắn nhưng thời gian tác
chiến dài hơn, cách đánh cũng khác hơn nên có những việc ta phải chuẩn bị lại
từ đầu, như là việc tổ chức, bố trí hệ thống hỏa lực chiến dịch. Với địa hình
hiểm trở, pháo của ta kéo vào tập trung tại trận địa, nay lại phải kéo pháo
phân tán ra các trận địa mới trên các điểm cao tạo thành vòng cung bao vây tập
đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, để bắn trực tiếp vào các mục tiêu dưới lòng chảo.
Với tinh thần quả cảm, không quản ngại gian khổ, hy sinh, quân và dân ta đã
vượt qua thử thách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ đã diễn ra 3 đợt:
Đợt 1: Từ ngày 13 đến
17/3/1954, quân ta đã mưu trí dũng cảm tiêu diệt gọn cụm cứ điểm Him Lam và Độc
Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm
Điện Biên Phủ; diệt và bắt sống trên 2.000 tên địch, phá hủy 25 máy bay, xóa sổ
01 trung đoàn, uy hiếp sân bay Mường Thanh; đại tá Pirốt, Tư lệnh pháo binh
Pháp ở Điện Biên Phủ, bất lực trước pháo binh của ta đã dùng lựu đạn tự sát.
Đợt 2: Từ
ngày 30/3 đến ngày 30/4/1954, quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông
phân khu trung tâm thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên tục tiến công, kiểm
soát sân bay Mường Thanh, hạn chế tiếp viện của địch cho tập đoàn cứ điểm. Địch
hết sức ngoan cố, muốn kéo dài thời gian. Na-va hy vọng đến mùa mưa ta phải cởi
vòng vây. Đây là đợt tấn công dai dẳng, dài ngày nhất, quyết liệt nhất, gay go
nhất, ta và địch giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc
biệt, tại đồi C1 ta và địch giằng co nhau tới 20 ngày, đồi A1 giằng co tới 30
ngày. Sau đợt tấn công thứ 2, khu trung tâm Điện Biên Phủ đã nằm trong tầm
bắn các loại súng của ta, quân địch rơi vào tình trạng bị động, mất tinh thần
cao độ.
Đợt 3: Từ ngày 01/5 đến
ngày 07/5/1954, quân ta đánh chiếm các cứ điểm phía Đông và mở đợt tổng công
kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Đêm ngày 06/5/1954, tại
đồi A1 trận chiến đấu giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, quân ta ào ạt xông
lên tiêu diệt các lô cốt và dùng thuốc nổ phá các hầm ngầm. Tên chỉ huy đồi A1
và khoảng 400 tên địch còn sống sót đã phải xin đầu hàng. 17 giờ 30 phút ngày
07/5/1954, ta chiếm sở chỉ huy của địch, tướng Đờ Cát cùng toàn bộ Bộ Tham mưu
và binh lính tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ phải ra hàng. Lá cờ “quyết chiến,
quyết thắng” của quân ta tung bay trên nóc hầm chỉ huy của địch. Ngay trong đêm
đó, quân ta tiếp tục tiến công phân khu Nam, đánh địch tháo chạy về Thượng
Lào, đến 24 giờ toàn bộ quân địch đã bị bắt làm tù binh.
Sau 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo quân và
dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống
16.200 tên địch, bắn rơi 62 máy bay, thu 64 ô tô và toàn bộ vũ khí, đạn
dược, quân trang quân dụng của địch.
Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là
chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến chiến lược, là trận đánh lừng
lẫy năm châu “chấn động địa cầu”, trực tiếp đưa đến việc ký Hiệp định Giơnevơ
về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Đông Dương; tạo cơ sở và điều kiện
để nhân dân ta tiếp tục giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến bảo vệ và
xây dựng Tổ quốc sau này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét