Ngày 9-5-2023 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận số 54-KL/TW "Về tiếp tục thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW ngày 3-10-2017 của Ban Bí thư về tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ". Kết luận số 54 khẳng định kết quả tích cực trong việc phát huy quyền làm chủ và vai trò của nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái được nâng lên; nhân dân tin tưởng, chủ động và tích cực hơn tham gia đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến", "tự chuyển hoá", góp phần quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kết luận chỉ rõ một số hạn chế, yếu kém: "Việc cụ thể hoá, tổ chức thực hiện Quyết định số 99-QĐ/TW của một số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa kịp thời, đầy đủ, sát thực tiễn, còn hình thức. Vẫn còn tình trạng e ngại hoặc lợi dụng dân chủ trong phản ánh, góp ý trực tiếp với cấp uỷ, tổ chức đảng về những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu; một số phản ánh, kiến nghị của nhân dân chưa được xem xét kịp thời, thấu đáo. Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng Đảng.
Kết luận số 54 của Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ,
tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ cơ bản, mấu chốt nổi
lên hiện nay. Việc thực hiện tốt Quyết định số 99-QĐ/TW, Kết luận số 54 gắn với
Quy định số 124-QĐ/TW ngày 2-2-2018 của Ban Bí thư về giám sát của mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng,
rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng
viên, các quy định có liên quan của Đảng, nhất là Quy chế dân chủ ở cơ sở; tạo
sự chuyển biến tích cực về nhận thức và trách nhiệm trong hệ thống chính trị và
toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân góp ý, phản ánh, giám sát biểu
hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến",
"tự chuyển hoá" trong cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản
lý, người đứng đầu. Trong các nhiệm vụ, giải pháp mà Ban Bí thư đề ra, việc thể
chế hoá, cụ thể hoá, tổ chức thực hiện cho tốt là nhân tố có tính quyết định đến
thành công của nhiều nghị quyết, quy định của Đảng ta về công tác cán bộ. Nên
chăng cần thể chế hoá, cụ thể hoá, có quy định về vấn đề gần dân của cán bộ, nhất
là của người đứng đầu như thế nào trong tình hình hiện nay.
Cán bộ, đảng viên với tư cách vừa là người lãnh đạo,
vừa là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân thì cán bộ, đảng viên cần phải
chủ động đến với dân. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân, trong đó có nhận thức về
trách nhiệm, đa phần cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người
đứng đầu viện cớ bận "trăm công nghìn việc" không có điều kiện, thời
gian để đến với dân, gần dân. Người dân, chỉ khi có việc cần, họ mới đến các cơ
quan công quyền để giải quyết các thủ tục hành chính hay "xin" những
việc gì đó trong cái "quyền" của mình! Người dân chỉ chủ động gặp cán
bộ, đảng viên khi quyền, lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm. Họ có những
khúc mắc, bức xúc, oan sai cần giải quyết và họ cũng có những tố cáo, khiếu nại
khi cán bộ, đảng viên có biểu hiện làm sai, vi phạm quyền làm chủ của công
dân... Những trường hợp trên thường diễn ra tại trụ sở tiếp công dân ở các
ngành, các cấp theo quy định của pháp luật. Do vậy, ngoài những yêu cầu, lý do
nói trên, muốn gần dân, cán bộ, đảng viên cần phải chủ động đến với dân theo nghĩa
vụ và trách nhiệm của mình. Đối với cán bộ, đảng viên ở nơi cư trú, mặc dù đã
có những quy định về cán bộ, đảng viên đương chức cần thường xuyên liên hệ với
cấp uỷ đảng, với nhân dân nơi cư trú. Nhưng trong thực tế, hình thức này hiệu
quả không cao trong công tác giám sát, còn việc công khai tự phê bình và phê
bình trước nhân dân nơi cư trú hiện nay chưa làm được bao nhiêu. Thậm chí, người
dân không có thông tin, không được biết cán bộ, đảng viên đương chức đó là ai.
Đó là khi nói về quyền dân chủ trực tiếp.
Khi nói về quyền dân chủ gián tiếp mà đại diện là
các cơ quan dân cử, mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn
thể quần chúng thì hoạt động của các cơ quan, tổ chức này, nói chung vẫn thường
là hành chính hoá, có nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của cử
tri và nhân dân cũng như của công tác xây dựng Đảng. Các đại biểu của dân chưa
chủ động, chưa sâu sát, chưa thật sự gần gũi nhân dân, không nắm bắt được tâm
tư, tình cảm, nguyện vọng chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; thiếu
bản lĩnh, quyết liệt, hiệu quả trong công tác phản biện, giám sát xã hội, với
những biểu hiện sai trái, vi phạm pháp luật, kỷ luật của cán bộ, đảng viên, thậm
chí có những hành động bao che cho những sai phạm mà không bị xử lý kịp thời, hiệu
quả. Ở nhiều nơi, việc xâm phạm lợi ích người dân, tài sản nhà nước diễn một thời
gian dài, cách các cơ quan đại diện cho dân không xa nhưng nhiều khi các cơ
quan đại diện cho dân đều "không biết" hay chưa được nghe báo cáo v.v.
Lâu nay, cán bộ, đảng viên với tư cách là người
lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân, nhưng nhiều người thường
nghiêng về thực hiện vai trò, chức năng lãnh đạo, quản lý mà ít quan tâm đến chức
năng người đầy tớ, người phục vụ. Xu hướng không nhanh chóng giải quyết quyền,
lợi ích chính đáng, những bức xúc, vụ việc nổi cộm của người dân, "dân có
cần nhưng quan không vội" là khá phổ biến. Việc tiếp xúc cử tri, phản ánh
ý kiến nguyện vọng của nhân dân, giải quyết những vấn đề tồn đọng lâu ngày hay
những vấn đề phát sinh trong cuộc sống người dân vẫn còn kém hiệu quả, thậm chí
hình thức...
Dân gian thường có câu "nhất cự ly, nhì cường
độ". Trong vấn đề gần dân, cự ly các cơ quan chính quyền hẳn là nhiều nơi
không xa, ấy vậy mà cường độ cán bộ, đảng viên đến với người dân còn thưa thớt,
rời rạc, thiếu mật thiết. Mặc dù trong những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều
văn bản, quy định việc mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội
và nhân dân phản biện, giám sát xã hội, góp ý kiến xây dựng cán bộ, đảng viên;
quy định trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên liên hệ với tổ chức
đảng, nhân dân nơi cư trú; quy định người đứng đầu cấp uỷ tiếp công dân, người
đứng đầu đối thoại với dân... nhưng đến nay, việc thực hiện các quy định này hiệu
quả chưa cao. Phương châm cán bộ, đảng viên "Gần dân, hiểu dân, học dân,
có trách nhiệm với dân", "Nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân
tin" là rất đúng đắn, phù hợp. Nhưng vì chưa có cơ chế, quy định cụ thể, lại
thiếu kiểm tra, giám sát, rút kinh nghiệm nên tình trạng quan liêu, xa dân đến
nay vẫn còn phổ biến. Do đó, để tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu
tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển
hoá" trong nội bộ thì một trong những vấn đề cần thể chế hoá, cụ thể hoá,
làm rõ nội hàm của khái niệm gần dân.
Đồng thời với việc cung cấp thông tin, công khai,
minh bạch về cán bộ, đảng viên, cán bộ muốn gần dân thì định kỳ, đột xuất,
không kể thời gian đến với dân, sâu sát đời sống nhân dân thì người dân mới hiểu
rõ về người lãnh đạo, người đầy tớ của mình. Đây cũng là một bước cụ thể phương
châm "dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát" cán bộ, đảng
viên, góp ý kiến xây dựng cán bộ và nắm bắt, phát hiện những biểu hiện suy
thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến",
"tự chuyển hoá" trong nội bộ. Thực chất đây cũng là một biện pháp nhằm
tăng cường mối liên hệ mật thiết của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng, với
nhân dân.
Gần dân còn được thể hiện ở việc cụ thể hoá vai
trò, vị trí của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, với tư cách là
"công bộc", là "người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân"
chứ không phái lúc nào cán bộ, đảng viên đến với "người chủ" của mình
cũng với vai trò của người lãnh đạo. Nói một cách hình ảnh thì người cán bộ, đảng
viên không phải lúc nào xuống với dân cũng đi bằng xe ô tô. Nhiều khi phải đi bằng
xe máy, thậm chí là đi bộ và cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân để nghe dân nói
thì mới hiểu được những suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng, tiếng nói thật của người
dân.
Việc Đảng, Nhà nước có những quy định rõ ràng, cụ
thể người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp định kỳ, đột xuất thực hiện công
tác tiếp dân, tăng cường tiếp xúc, đối thoại với nhân dân, tiếp nhận, trả lời,
giải quyết kịp thời phản ánh, kiến nghị chính đáng, hợp pháp, khiếu nại, tố cáo
của công dân và những vấn đề nhân dân quan tâm, dư luận bức xúc. Đây chính là một
nhiệm vụ, giải pháp rất quan trọng để cán bộ, đảng viên gần dân, hiểu rõ và giải
quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc của dân. Tuy nhiên, ở nhiều nơi, người đứng
đầu còn ngại, còn sợ, không tiếp xúc, đối thoại với dân. Các cơ quan chức năng
cần công khai rộng rãi hơn nữa những người đứng đầu chính quyền, cấp uỷ trong một
thời gian dài không chịu tiếp, đối thoại, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của nhân
dân. Những người như vậy cũng là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống khi không thực hiện nghiêm túc quy định của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước. Nên chăng cần định lượng hoá thế nào là gần dân,
lấy đó làm tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại cán bộ, đảng viên. Ở đâu có những
"điểm nóng", những vấn đề nổi cộm, bức xúc của dân mà cấp uỷ, chính
quyền, các cơ quan đoàn thể đại diện cho dân không biết thì cần có biện pháp xử
lý công khai, minh bạch.
Khi Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo đất nước,
nhân dân bằng đường lối, chính sách và thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên thì
công tác dân vận cần chuyển mạnh từ các tổ chức, cấp uỷ đảng sang các cấp chính
quyền và các cơ quan nhà nước. Do vậy, việc xây dựng ban hành các chính sách,
pháp luật cần hết sức coi trọng lợi ích của nhân dân theo lời dạy của Bác Hồ
"Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm/Việc gì hại đến dân, ta phải
hết sức tránh”; "tất cả cán bộ chính quyền" (...) "đều phải phụ
trách dân vận". Điều này thể hiện ở việc trước khi ban hành chính sách,
pháp luật đều phải lấy ý kiến tham gia, góp ý của nhân dân, được nhân dân đồng
tình, ủng hộ, tuyệt đối không được cài cắm lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ, cá
nhân trong văn bản, chính sách. Đồng thời, công tác dân vận của các cấp chính
quyền, cơ quan nhà nước chính là ở sự gương mẫu, đi đầu, gắn bó, gần gũi với
nhân dân của cán bộ, công chức, đảng viên. Đó là các nhân tố quan trọng để người
dân ngày càng tin tưởng vào Đảng, Nhà nước và đứng lên bảo vệ cán bộ, đảng viên
của mình.
Muốn cho cán bộ, đảng viên gần dân để người dân có
điều kiện kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên có nghĩa là cần cụ thể hoá và có
những giải pháp ngăn chặn, xử lý những hiện tượng quan liêu, xa dân, ngại tiếp
xúc, đối thoại với người dân. Muốn phát hiện, xử lý những hiện tượng như thế
thì một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường công tác kiểm tra, giám
sát. Đảng ta đã đúc kết "lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh
đạo". Bác Hồ từ lâu đã chỉ ra rằng: Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo
thì cũng như có ngọn đèn pha. Bao nhiêu tình hình, ưu điểm và khuyết điểm,
chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc
của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra. Như vậy, kiểm tra là khâu cực kỳ quan trọng
để biết rõ cán bộ, đảng viên nào gần dân, cán bộ, đảng viên nào xa dân và góp
phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến",
"tự chuyển hoá" trong nội bộ Đảng.
Bài viết hay giành cho những kẻ quan liêu, xa rời quần chúng.
Trả lờiXóatất cả vì nhân dân thân yêu
Trả lờiXóa