Với phóng sự điều tra "Việt Nam, bi thảm Đông Dương", những nhân vật, sự kiện thời điểm 1930 ở Việt Nam được tường thuật, nhận định tương đối khách quan, sống động.
Ghi chép về quãng thời gian này, Việt Nam, bi thảm Đông Dương (nguyên tác: Viet-Nam, la tragédie indochinoise) của Louis Roubaud (1884-1941) đáng xem là tài liệu để độc giả tìm hiểu về Việt Nam thời đoạn 1930.
GÓC NHÌN MỞ TỪ NGƯỜI PHÁP TIẾN BỘ
Viet-Nam, la tragédie indochinoise in năm 1931 bởi Nhà xuất bản Valois tại Paris. Năm 1963, bản Việt ngữ được dịch giả Đường Bá Bổn thực hiện với tên Việt Nam, bi thảm Đông Dương. Trải qua một số lần xuất bản, mới đây tác phẩm trở lại với độc giả.
Tác phẩm được xem là “tài liệu trực diện”, bởi tác giả đã tìm hiểu, chứng kiến những liên đới cận kề qua những cuộc nói chuyện với Tôn Thất Hân, Phan Bội Châu, những tử tù vụ Yên Bái… và cả với những người Pháp có chức vị ở Đông Dương như Giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Kỳ Arnoux…
Ghi nhận ở tựa sách, tác giả trang trọng viết hai chữ “Việt Nam” chứ không dùng “An Nam” như người Pháp thực dân quen gọi. Qua tác phẩm, có những thông tin rất đáng chú ý về nhân vật có ảnh hưởng to lớn đến lịch sử Việt Nam cận hiện đại - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh mà dư luận Việt Nam, Pháp chú ý từ lâu với tư cách một nhà yêu nước hoạt động năng nổ.
“Năm 1920, ông là thành viên Đảng Xã hội ở Tours, gia nhập Đệ tam quốc tế. Ở Paris ông đã thành lập một hội quốc tế vô sản, và ra tờ báo Le Paria (Kẻ Bần Cùng)".
"Ở Quảng Đông lập Chi hội người An Nam trong Mặt trận các Dân tộc bị áp bức và điều hành phong trào cách mệnh đất nước ông, bởi vì người cộng sản không quên tên của mình là Nguyễn Ái Quốc: Người yêu nước”.
Dẫu là người Pháp, nhưng L. Roubaud đã có những nhận xét, đánh giá ở thời điểm đó với chủ kiến riêng, không hoàn toàn bị chi phối bởi màu da hay tư tưởng thực dân.
Chính cái nhìn mở đó giúp các nhân vật, sự kiện được ghi chép chân thực, sống động, thậm chí lột trần bản chất đàn áp, bóc lột của thực dân Pháp như phần "Một nghìn năm trăm người im lặng" (về cuộc biểu tình hòa bình ngày 1/5/1930 ở Bến Thủy bị áp chế bằng bạo lực súng đạn), phần “Trừng phạt một làng” và “Làng bị tội hình” (dữ kiện tố cáo tội ác của thực dân Pháp ném bom hủy diệt làng Cổ Am ngày 16/2/1930)…
Bộ mặt thật của chính sách thuế muối, rượu cồn và thuốc phiện của thực dân Pháp ở Việt Nam cũng được L. Roubaud phơi bày qua những số liệu thực tế ở phần “Đoan, thuế, muối, rượu, thuốc phiện…”. Những con số thống kê có sức mạnh hơn vạn ngôn từ.
Năm 1929, thuế muối thu vào ngân khố Đông Dương là 11 triệu đồng, thuế thuốc phiện đem lại số tiền 14 triệu và loại thuế từ nhựa hoa anh túc này chiếm tới 1/4 tổng ngân sách Đông Dương... Còn thuế rượu, được bộc lộ qua lời Thống sứ Bắc Kỳ Simoni ngày 2/3/1912:
“Thuế gián tiếp đánh vào rượu bản xứ, nhìn qua con mắt ngân khố hoàn toàn là lợi tức tốt và chắc chắn”. Loại đồ uống có cồn từ lâu đời của người Việt, thì dưới bàn tay thực dân, nó là rượu lậu nếu dân tự nấu, nhưng sẽ hợp pháp nếu tiêu thụ rượu nhà nước. Đó là sự bóc lột, đầu độc công khai của thực dân Pháp đối với dân Việt Nam mà L. Roubaud lên án.
Việc đối xử tàn tệ của thực dân với lao động Việt cũng được tố cáo mạnh mẽ qua những hành động bất chấp luật pháp ở phần “Dân quyền… đời sống cộng đồng” và “Vẫn còn nói về đời sống cộng đồng”.
Dẫn chứng tiêu biểu là việc tay chủ bến Georger trừng phạt tên cu li ăn cắp vặt: “Hắn bị trói ghì, nằm dài, úp mặt xuống đất. Ông Georges đánh hắn bằng chiếc roi mây lớn. Thổ huyết nội tạng... tên cu li chết sau vài tiếng đồng hồ”.
Tòa trừng phạt Georger với án hai năm tù cho một mạng người, nhưng là án treo. Còn tay cai Schultz, chỉ vì tức giận cu li Kum cười mỉm mình, Schultz nổi giận đấm đá Kim đến chết. "Thầy thuốc khám xong, nhận rằng tên cu li bị gãy hai xương sườn, lá lách bị dập. Ông ta ký giấy cho mai táng nạn nhân”. Giết người, Schultz bị kết án… một tháng tù treo. Đó là "công lý" của thực dân thi hành trên đất thuộc địa.
Qua ghi chép của L. Roubaud, những người yêu nước chân chính như trường hợp Ký Con (Đoàn Trần Nghiệp) hiện lên với vẻ mặt bình thản trước kẻ thù, tươi cười lạc quan và mục đích đánh đuổi Pháp rất rõ ràng dù ít cơ hội thành công: “Người ta phải khởi sự trước, rồi người khác tiếp tục. Chúng tôi không thành công, kẻ đến sau sẽ thành công” khiến cho Giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Kỳ Arnoux dù xem Ký Con là kẻ thù nguy hiểm, “nhưng ông không hề dám khinh miệt họ bao giờ”.
Sự kiện ám sát toàn quyền Đông Dương Merlin bất thành và sự ngưỡng mộ của người đời dành cho Phạm Hồng Thái cũng được kể lại (phần “Đền thờ Phạm Hồng Thái”); gương những Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính cùng các đồng sự trong vụ Yên Bái trong những giây phút cuối cùng trên đoạn đầu đài, được tác giả khắc họa sống động với sự hiên ngang của những kẻ quên mình vì nước (phần “Nguyễn Thái Học”, “Phó Đức Chính” và “Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam”). Ngòi bút L. Roubaud tỏ ra được sự trung thực và trân trọng.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận và phải có sự gạn lọc khi đôi chỗ, do hiểu biết thiếu tường tận về lịch sử nước Việt, có những dữ kiện L. Roubaud thể hiện không chính xác. Việc ghi lại giai thoại Lê Lợi (Lê Thái Tổ) làm nghề chài lưới, bắt được gươm báu trong khi thực chất đó là Lê Thận, bạn vua. Những cuộc tiếp xúc với Phan Bội Châu, Tôn Thất Hân… vẫn thấp thoáng nhận ra thái độ bảo vệ nền cai trị thực dân ở nhiều người Pháp chứ không riêng gì tác giả sách này.
Nhìn chung, Việt Nam, bi thảm Đông Dương là tác phẩm đáng chú ý, ghi nhận góc nhìn từ người Pháp, giúp chúng ta có thêm nguồn tư liệu bổ sung sự nhìn nhận nhiều chiều về những nhân vật, sự kiện cụ thể trong lịch sử dân tộc ở thời điểm 1930./.
ST
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét