“Tự do báo chí” không phải là tự do vô tổ chức
Mới đây trên trang “Voatiengviet”,
Lê Quốc Quân lại tiếp tục rêu rao bài viết: “Uy tín Đảng cao hơn tương lai đất nước”. Y cho rằng “cần phải có tự do báo chí” và đồng thời ra sức xuyên tạc vấn đề này, nhằm thao
túng dư luận, gây rối loạn xã hội, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Y cố tình quên
rằng việc bảo đảm mọi công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong
khuôn khổ quy định của pháp luật là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước
Việt Nam. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp
luật liên quan, đồng thời được triển khai thực hiện trong thực tế. Cần khẳng
định ngay rằng, những thông tin mà Bảng xếp hạng tự do báo chí năm 2023 của RSF
đưa ra mà Lê Quốc Quân dẫn chứng là không khách quan, không đúng thực tế với
tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.
Báo chí có vai trò là phương tiện
để công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình. Quyền tự do báo chí là
quyền của công dân được sáng tạo tác phẩm báo chí, tiếp cận, cung cấp và phản
hồi thông tin trên báo chí… Ở Việt Nam những năm qua, tự do báo chí, tự do ngôn
luận được Nhà nước bảo đảm, thể hiện rõ trên cả khía cạnh pháp lý và thực tiễn.
Thực tiễn về tự do báo chí ở Việt Nam trái ngược hẳn với những gì mà RSF
và Lê Quốc Quân đưa ra. Quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước
Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công
dân. Điều 25, Hiến pháp (năm 2013) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,
hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy
định”. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để quyền tự
do báo chí, tự do ngôn luận của công dân được thực hiện theo đúng quy định của
pháp luật. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chủ trương “Xây dựng nền
báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”[1]. Tại Chương II, Luật Báo chí (năm 2016)
cũng quy định về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công
dân. Trong đó, Điều 13 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân
thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí
phát huy đúng vai trò của mình”; đồng thời, cũng quy định: “Báo chí, nhà báo
hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ”. Không ai được lạm
dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”. Điều 14, Luật
Báo chí (năm 2016) đã bổ sung một số đối tượng được thành lập tạp chí khoa học,
như: Cơ sở giáo dục đại học theo quy định của Luật Giáo dục đại học; tổ chức
nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được
tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện theo quy định của Luật Khoa học và
Công nghệ; bệnh viện từ cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc tương
đương trở lên. Quy định này cũng cho phép các cơ sở giáo dục, tổ chức khoa học
và công nghệ thuộc loại hình tư thục, có đầu tư của nước ngoài được phép ra tạp
chí khoa học.
Số liệu thống kê đến cuối năm 2022
cho thấy, “Việt Nam có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (trong đó có 327
tạp chí lý luận chính trị, khoa học và 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ
quan đài phát thanh, truyền hình. Số người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí
là 41.000 người, với 19.356 người đã được cấp thẻ nhà báo”[2]. Cùng với các cơ quan báo chí trong nước,
nhiều hãng truyền thông, thông tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam, như: CNN,
Reuters, AP, AFP, Kyodo; Hãng thông tấn Asia, Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc)
và Rossiya Segodnya (Nga), v.v. Với lực lượng làm báo hùng hậu như trên, đời
sống báo chí ở Việt Nam diễn ra hết sức nhộn nhịp, phản ánh mọi mặt của đời
sống xã hội. Trong những năm gần đây, báo chí đã có đóng góp quan trọng vào
công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; phòng, chống tình trạng
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển
hóa” của cán bộ, đảng viên. Nhiều giải báo chí toàn quốc, như: Giải Báo chí
quốc gia; Giải Báo chí toàn quốc về xây dựng Đảng (Giải Búa liềm vàng); Giải
Báo chí toàn quốc về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Giải Báo chí toàn quốc
về Quốc hội và Hội đồng nhân dân (Giải Diên Hồng); Giải thưởng toàn quốc về
thông tin đối ngoại; Giải Báo chí về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng,… được
tổ chức hằng năm là dịp để các nhà báo nâng cao trình độ và tính chuyên nghiệp
trong làm báo, đồng thời phản ánh hoạt động báo chí ở Việt Nam rất phong phú,
sôi động.
Lê Quốc Quân cần hiểu rằng không có
quốc gia nào để bảo vệ chế độ, chủ quyền quốc gia mà cho phép những kẻ lợi dụng
vấn đề tự do báo chí, dân chủ, nhân quyền xuyên tạc, chống phá tùy tiện. “Nếu 35 nhà báo bị cơ quan chức năng Việt Nam xử
lý” trong năm 2022 thì đó chính là
những kẻ đang cố tình bóp méo sự thật, vi phạm Luật Báo chí của Việt Nam. Những
kẻ bị bắt không phải vì họ làm nghề viết báo, cũng không phải Việt Nam không
cho phép họ làm báo, mà vì họ vi phạm pháp luật, tung tin giả, tin xấu độc xâm
phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Việc xử lý theo pháp luật những
kẻ vi phạm đó cũng đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền tiếp cận những thông tin
chính xác, khách quan của công dân. Do đó, những rêu rao “Việt Nam không có tự
do báo chí” là xuyên tạc sự thật, bộc lộ rõ mưu đồ chống phá, tham vọng thay
đổi chế độ chính trị ở Việt Nam của Lê Quốc Quân.
CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU
XUYÊN TẠC VỀ NỀN TƯ PHÁP VIỆT NAM
4 Tháng Ba, 2024 Nhị Trai 0
Comments
Suy diễn, xuyên tạc nền
tư pháp Việt Nam là thủ đoạn không mới nhưng rất nguy hiểm của các thế lực thù
địch, phản động, cơ hội chính trị nhằm kích động, gây tâm lý hoang mang, mất niềm
tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và đặc biệt là cơ quan thực hiện quyền tư
pháp. Gần đây, trên nhiều diễn đàn phản động, kẻ có bút danh Cát Tường phát
tán bài Giấc mơ độc lập … chính trị. Với dã tâm thâm độc, nham hiểm Cát
Tường suy diễn, xuyên tạc trắng trợn, dẫn dắt dư luận bằng thủ đoạn
phân tích, dẫn chứng, so sánh nền tư pháp của Việt Nam với Hoa Kỳ, rồi hồ đồ
cho rằng: Ở Việt Nam “Độc Đảng dẫn đến độc tôn nên tư pháp khó thể độc lập”;
“Quyền lực của Bí thư Đảng đã cản trở tư pháp độc lập”; “Thẩm phán buộc phải
nghe theo lời Bí thư chi bộ Đảng cấp cơ sở cho đến cấp ngành, và dĩ nhiên là
theo khuôn phép cao nhất của Đảng cấp trên nhất là Bộ Chính trị”… Chúng ta dễ
dàng nhận ra mưu đồ của Cát Tường và đồng bọn không ngoài mục
đích đòi “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Điều 4 Hiến pháp năm
2013 đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng lãnh đạo
nhà nước, trong đó có lãnh đạo cơ quan thực hiện quyền tư pháp trên các mặt hoạt
động như: Đảng hoạch định và đề ra đường lối, chủ trương, chính sách về cải
cách tư pháp, tạo hành lang cơ sở chính trị để tòa án hoạt động; Đảng lựa chọn,
giới thiệu, bố trí cán bộ của Đảng làm nòng cốt trong các cơ quan tòa án và
lãnh đạo việc xây dựng đội ngũ cán bộ tòa án; Đảng lãnh đạo công tác kiểm tra,
giám sát hoạt động của cơ quan tòa án; Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo thông
qua các tổ chức cơ sở do Đảng thành lập trong các cơ quan tòa án từ Trung ương
đến địa phương và các đảng viên làm việc trong các cơ quan tòa án. Đảng lãnh đạo
công tác xét xử của tòa án nhưng Đảng không làm hộ, làm thay hoặc can thiệp vào
công việc nội bộ xét xử của tòa án, bởi một trong những nguyên tắc cơ bản và
làm nền tảng cho hoạt động xét xử của tòa án là nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật, nguyên tắc này là yêu cầu đòi hỏi của nền tư pháp trong
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây vừa là sứ mệnh lịch sử vừa
là vị thế lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước và xã hội trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Tính độc lập của tư
pháp được coi là một nguyên tắc Hiến định. Hiến pháp năm 2013 quy định về tính
độc lập của tư pháp hay nguyên tắc xét xử độc lập có nội dung mới so với các bản
hiến pháp trước đó là thẩm phán, hội thẩm độc lập trong mọi hoạt động của mình
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho tới khi
kết thúc phiên tòa. Việc quy định nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp
vào việc xét xử của thẩm phán, hội thẩm trong công tác xét xử là bảo đảm cho
nguyên tắc này phải được thực thi trong thực tiễn xét xử của thẩm phán và hội
thẩm. Thẩm phán, hội thẩm không bị phụ thuộc vào yêu cầu, chỉ đạo của các cấp ủy
Đảng, không phụ thuộc vào ý kiến của Ban cán sự Đảng Tòa án cấp trên. Trong quá
trình xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập từ việc nhận định vụ án, diễn giải
pháp luật, quyết định áp dụng pháp luật và ra bản án. Các cá nhân, tổ chức Đảng
không được can thiệp, tác động tới các thành viên của Hội đồng xét xử để buộc họ
phải xét xử theo ý chí của mình. Mọi hành vi can thiệp vào hoạt động xét xử của
Tòa án đều bị coi là vi phạm pháp luật và ảnh hưởng tới tính khách quan của hoạt
động xét xử. Trong tất cả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước Việt Nam đều khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất,
điều này cho thấy chúng ta không thực hiện “tam quyền phân lập” trong thiết kể
tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước Việt Nam nhưng chúng ta kế thừa những hạt
nhân hợp lý trong lý thuyết “tam quyền phân lập” để thiết kế và tổ chức bộ máy
nhà nước của mình, giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp có sự phân công,
phối hợp và kiểm soát lẫn nhau.
Tất cả các chiêu trò,
thủ đoạn của Cát Tường chỉ là những luận điệu xuyên tạc, suy
diễn nhằm chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam chân
chính ở cả trong và ngoài nước cần nhận thức rõ về chiêu trò này và kiên quyết
lật tẩy, đấu tranh, phản bác. Đồng thời, cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác,
không ngộ nhận, không tin vào luận điệu xuyên tạc, suy diễn, quy chụp của những
phần tử cơ hội chính trị, phản động cực đoan; không tiếp tay cho các thế lực
thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./.
Tự do là vấn đề Việt Nam rất tôn trọng; nhưng tự do phải trong khuôn khổ của pháp luật; điều này ở các nước đều như vậy.
Trả lờiXóa