Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2024

Đức và Tài

 Đức và tài có quan hệ biện chứng với nhau trong nhân cách của người cán bộ cách mạng. Trong đó, đức phải được đặt lên hàng đầu. Đức không chỉ là chính trị mà còn là khoa học và văn hóa. Còn tài thể hiện ở cái trí, cái tầm gắn chặt với cái tâm. Người có tài, trong ý nghĩa đích thực phải là người có đức, tài càng lớn đức càng cao. Đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững cần phải có nhiều cán bộ, đảng viên với thực tài, thực đức để chấn hưng dân tộc, hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

Nói đến tài và đức cũng như đức và tài là nói đến những yếu tố chủ đạo, then chốt trong cấu trúc nhân cách của một con người trưởng thành. Hai yếu tố này xác lập mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, chi phối và chế ước lẫn nhau trong con người với tư cách cá nhân, cá thể của nó. Đó là một chủ thể mang nhân cách đã định hình chính nó, trong một môi trường xã hội, lịch sử và văn hóa nhất định, với những hoàn cảnh và điều kiện khách quan xác định cùng với hoạt động sống của chủ thể gắn liền với nỗ lực chủ quan của mỗi người.
Tài và đức, cũng như đức và tài là những khái niệm, phạm trù thường được hiểu trong lĩnh vực đạo đức, là đối tượng nghiên cứu của đạo đức học, của lý luận về nhân cách. Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách nhà tư tưởng, nhà đạo đức học Mác-xít - ở đây, nổi trội là đạo đức học thực hành - đã đặc biệt quan tâm tới quan hệ giữa đức và tài, giữa tài và đức trong nhân cách con người, nhất là nhân cách của cán bộ, đảng viên. Người chú trọng rèn luyện và công phu giáo dục, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cả tài lẫn đức, cả đức lẫn tài, nhưng luôn luôn nhấn mạnh đức là gốc.
Về mặt này, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng vô cùng cao quý, là bậc thầy của việc phát hiện tài năng, đức độ con người, là điển hình mẫu mực của phép dùng người, quý trọng nhân tài và trọng đãi hiền tài một cách hết sức thật lòng, chân thành, đầy nhân ái vị tha và thấm nhuần sâu sắc tinh thần khoan dung văn hóa, có lòng độ lượng, “độ lượng vĩ đại”, có sức cảm hóa, thuyết phục muôn người, thu phục nhân tâm.
Thành công trong phép dùng người của Chủ tịch Hồ Chí Minh cần được nghiên cứu công phu, để rút ra những giá trị khoa học, lý luận. Việc dùng người, đối xử và ứng xử của Người với con người đều xuất phát từ sự quý trọng và tin cậy, dân chủ và bình đẳng, bao dung - nhân ái - vị tha đối với con người. Biệt tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh là khả năng biết khơi dậy, cổ vũ, thức tỉnh mỗi người, làm cho họ có niềm tin vào chính mình, phát huy và phát triển phần nhân tính tốt đẹp để họ tự tin, nỗ lực phấn đấu, rèn luyện, biết hướng thiện và tự hoàn thiện mình để sống và hành động sao cho có ích nhất, đóng góp tốt nhất cho xã hội, tức là phục vụ nhân dân. Tận tâm, tín tâm và tận hiến - là thể hiện sự trung thực, nhất quán của quyết tâm trong hành động và lối sống, chứ không phải chỉ là lời hứa, câu nói. Đó cũng là sức mạnh của cả ý chí lẫn tình cảm để không màng danh lợi, đứng ngoài vòng danh lợi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân sinh động, để từ tuổi trẻ thanh niên đã lựa chọn “ham học, ham làm, ham tiến bộ”, “không ham làm quan to” như Người căn dặn. Phải thức tỉnh về nghĩa vụ và trách nhiệm, ý thức tự bảo vệ lương tâm và danh dự, giữ liêm sỉ trước mọi sự cám dỗ thường tình.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, gốc rễ sâu xa của mọi thói hư tật xấu là do chủ nghĩa cá nhân gây ra, phải quét sạch nó đi. Nhưng chống chủ nghĩa cá nhân không có nghĩa là xem nhẹ, phủ nhận cá nhân; không có nghĩa là chà đạp, giày xéo lên cá nhân với những lợi ích, nhu cầu, cá tính, sở trường của họ. Mỗi cá nhân là một nhân cách - không có cá nhân sẽ không thành tập thể và xã hội. Người luôn nhấn mạnh, “phê bình việc, không phê bình người” (tức là không xúc phạm nhân cách của họ). Lại phải thấu lý đạt tình, “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Phải khéo léo thức tỉnh con người, làm cho mỗi người định hình thói quen, nhu cầu tự phê bình như rửa mặt hằng ngày. Đó là khoa học và nghệ thuật, sâu xa đó là văn hóa làm người, văn hóa trong việc dùng người. Nghiêm mà rộng lòng khoan thứ. Thương yêu, bảo vệ cán bộ thì phải thường xuyên giáo dục, đồng thời với kiểm tra, giám sát để cán bộ không rơi vào hư hỏng.
Người có trách nhiệm dùng người phải luôn xuất phát từ mục đích, động cơ trong sáng, cao quý vì Tổ quốc, vì dân tộc, vì nhân dân, không phải vì mình, không được vị kỷ, thực dụng. Đồng thời, phải có bản lĩnh, đủ sáng suốt để không dùng sai, chớ để những kẻ xung quanh xiểm nịnh, tâng bốc mình và xuyên tạc, hãm hại những người chính trực, rồi chỉ quen dùng những người cánh hẩu với mình, xa lánh người tài giỏi, có đức, liêm, chính, cương trực.
Ở đời, “nhân vô thập toàn”, con người không có ai là thần thánh cả. Ai cũng có cái hay và cái dở, cái tốt và cái xấu. Muốn làm cho cái hay, cái tốt nảy nở như hoa mùa xuân, cái xấu, cái dở mất dần đi thì phải có tấm lòng bao dung rộng mở, phải biết trân trọng và phát huy tài năng. Minh triết giáo dục ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn rõ ràng với một tầm nhìn chiến lược: vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa - quan niệm này của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng được thể hiện rõ khi Người nhấn mạnh đức là gốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt quan hệ đức - tài và tài - đức trong một thể thống nhất hữu cơ không tách rời. Càng coi đức là gốc thì càng phải coi trọng tài. Tài là cơ sở, nền tảng cho đức một cách thực chất, là đạo đức hành động trong đời sống, chứ không phải đơn thuần tu tâm dưỡng tính cho mình mà xa lánh cuộc sống, không giúp ích cho đời.
St

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét