Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

BÀ TƯỚNG VIỆT MINH

  

Lần đầu nghe danh xưng đặc biệt này, tôi không khỏi ngạc nhiên lẫn tò mò muốn tìm hiểu xem đó là ai. May mắn trong quá trình tác nghiệp, tôi được nhiều lần trò chuyện với nhà văn Nguyệt Tú, con gái của danh họa Nguyễn Phan Chánh, một trong số ít những người có nhiều hiểu biết về “bà tướng Việt Minh” Hà Thị Quế (1921-2012) từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp.


Hà Thị Quế tên thật là Lương Thị Hồng, quê ở xã Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Bà nguyên là Ủy viên Trung ương Đảng (khóa III, IV), Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Năm 17 tuổi, bà đã làm Bí thư Hội Phụ nữ phản đế và Đoàn Thanh niên phản đế, rồi trở thành Bí thư Phụ nữ cứu quốc xã, sau đó được cử đi tham gia lớp học quân sự do Xứ ủy Bắc Kỳ tổ chức. Năm 1941, bà được kết nạp Đảng và được điều về tỉnh Thái Bình tham gia Ban cán sự Đảng bộ tỉnh Thái Bình, phụ trách hai huyện Kiến Xương và Tiền Hải, đồng thời lo cả phong trào cho tỉnh Nam Định. Nhưng mảnh đất mà danh xưng “bà tướng Việt Minh” lừng lẫy là khi bà về hoạt động tại tỉnh Bắc Giang, tham gia Ban cán sự Đảng bộ tỉnh, phụ trách quân sự hai huyện Yên Thế, Việt Yên và một phần huyện Lạng Giang. Đó là khoảng tháng 7-1944.


Khi ấy, ở Yên Thế có tên tri phủ rất ngông nghênh. Hắn lớn tiếng rằng sẽ dập tắt hoạt động của Việt Minh tại đây bằng những cuộc càn quét, bắt bớ đẫm máu. Trong cao trào Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hà Thị Quế xin ý kiến của các đồng chí trong Ban cán sự, mở cuộc trấn áp tên tri phủ này và tiêu diệt đồn Yên Thế. Sau khi tổ chức trinh sát kỹ địa hình, trận đánh được tiến hành dưới sự chỉ huy trực tiếp của nữ Tỉnh ủy viên Hà Thị Quế. Với 1 khẩu súng lục và 3 khẩu súng trường, còn lại là súng kíp, mã tấu và kiếm, ta phục kích ở 3 nơi chờ thời cơ hành động. Ngay khi tên tri phủ xuống xe đã bị lực lượng của ta bắn trúng đạn vào tay. Ta bắt luôn cả quân lính, sau đó lập tòa án nhân dân, trị tội tên tri phủ. Rồi đích thân Hà Thị Quế chỉ huy lực lượng tự vệ chiến đấu bao vây con đường chính của huyện, chiếm đồn Yên Thế. Huyền thoại “hai tay cầm hai súng, cưỡi ngựa cướp đồn Yên Thế” và danh xưng “bà tướng Việt Minh” có từ sau sự kiện này.


Năm 1948, Hội nghị phụ vận Bắc Bộ được tổ chức tại Võ Nhai (Thái Nguyên). Hà Thị Quế làm trưởng đoàn phụ vận Phú Thọ, Tuyên Quang. Dịp này, lần đầu tiên cô phóng viên trẻ Nguyệt Tú gặp “bà tướng Việt Minh”. “Trong trang phục quần đen, áo nâu, khăn mỏ quạ, chị vẫn mang dáng dấp của một phụ nữ nông thôn giản dị, hiền lành, chất phác chứ không như hình dung của tôi trước đây. Tôi vẫn cho rằng, người từng dẫn đầu đoàn người với vũ khí trong tay trừ gian, diệt ác phải rắn rỏi, mạnh mẽ và có phần nam tính”, nhà văn Nguyệt Tú nhớ lại.


Nhà văn Nguyệt Tú sau này mới biết chồng mình, đồng chí Lê Quang Đạo cùng quê với chồng của bà Hà Thị Quế ở huyện Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh, hai người khá thân thiết với nhau khi hoạt động cách mạng. Chính vì vậy, hai nàng dâu Đình Bảng cũng có thêm lý do để ngày càng quen thân hơn. Bà Hà Thị Quế đã kể với nhà văn Nguyệt Tú rằng mình từng cưỡi trâu vào rừng hay một mình bơi giữa đồng nước mênh mông về nhà lấy thuyền chèo đến trường đón các bạn học trong những ngày mưa tầm tã ở quê hương. Nguyệt Tú lại càng khâm phục hơn khi trong hoàn cảnh vô cùng thiếu thốn ở Chiến khu Việt Bắc, năm 1950, tại Đại Từ (Thái Nguyên), trong vai trò là Trưởng ban tổ chức Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ nhất-đại hội hợp nhất hai tổ chức là Đoàn Phụ nữ cứu quốc vào Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bà Hà Thị Quế đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đại hội vinh dự được đón Bác Hồ về dự. Người đã chụp ảnh lưu niệm với các đại biểu dự đại hội, bức ảnh do Nguyệt Tú chụp. Nhưng tiếc là sau mấy lần chuyển nhà, bức ảnh ấy của nhà văn Nguyệt Tú đã bị thất lạc. Nhà văn Nguyệt Tú kể: “Những năm đầu kháng chiến, bữa ăn hằng ngày chủ yếu là rau rừng. Thế mà không hiểu bằng cách nào, hội nghị năm đó chị Hà Thị Quế đã cùng đồng chí cán bộ tiếp tế đi bộ 3 ngày đêm từ Định Hóa (Thái Nguyên) lên tận Bắc Kạn, mua và dắt 10 con bò về để có thực phẩm tổ chức hội nghị”.


Sau này, bà Hà Thị Quế thay đồng chí Nguyễn Thị Thập làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Nhà văn Nguyệt Tú làm ở Báo Phụ nữ Việt Nam rồi Giám đốc Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam. Hai người vẫn có nhiều cơ hội gặp gỡ, làm việc chung. Cho đến tận bây giờ, khi đã ở tuổi ngoài 90, trong ký ức của nhà văn Nguyệt Tú, hình ảnh “bà tướng Việt Minh” Hà Thị Quế vẫn vẹn nguyên như thuở nào. “Đó là một người mẹ của 6 đứa con, đảm đang, tháo vát. Một cán bộ nữ vững vàng, xông xáo, luôn có cách khắc phục hoàn cảnh để hoàn thành nhiệm vụ”, nhà văn Nguyệt Tú nói.


QĐND

SÙNG BÁI TIỀN


Cuộc sống của con người luôn mong muốn và hướng tới được thỏa mãn cả về nhu cầu vật chất lẫn tinh thần, đó là nhu cầu hết sức chính đáng. Tiền bạc là thứ cơ bản để duy trì cuộc sống, tuy nhiên nó chỉ có thể giúp đỡ cho hạnh phúc không thể quyết định được  hạnh phúc, bởi vì tiền bạc cũng chỉ là vật tuỳ thân chết cũng không mang theo được …Chỉ nên quý trọng chớ quá tôn sùng ..


Tiền thì ai không yêu quý, chúng ta quý trọng là bởi đó là đồng tiền làm ra vất vả bằng mồ hôi nước mắt. Trân quý tiền để tiêu pha tiết kiệm có kế hoạch, không hoang phí….chứ không phải tôn sùng một cách mù quáng, cái gì cũng quy ra giá trị đồng tiền. Đừng vì đồng tiền mà xem nhẹ mọi yếu tố khác trong cuộc sống, tiền không phải là tất cả. Nhiều người phải trả giá, phải sống trong chốn lao tù, nghĩ cho cùng cũng vì lòng tham mà ra. Họ yêu tiền tôn sùng tiền nên đã để đồng tiền che mờ mắt …


Chúng ta cố gắng kiếm tiền để có cuộc sống thoải mái, không lo nghĩ. Nhưng mục đích sống của tất cả chúng ta đều hướng đến hai từ: "Hạnh phúc". Không có tiền thì khó có được hạnh phúc trọn vẹn, sẽ thật khổ sở lao đao đôi khi khiến chúng ta hèn kém đi. Nhưng có thật nhiều tiền không biết sử dụng đúng ý nghĩa của đồng tiền chưa chắc đã hạnh phúc …Hạnh phúc là một yếu tố trìu tượng tuỳ theo suy nghĩ và cảm nhận của mỗi người. Để có cuộc sống hạnh phúc. Vậy làm thế nào để hạnh phúc? Rất đơn giản: Xoá chữ 'TÔI', bỏ cái tôi ích kỷ đi. Xoá chữ 'MUỐN', bỏ lòng tham sân si đi. Tham thì thâm.  Ở đời biết đủ là hạnh phúc.


Tiền bạc không phải là hạnh phúc, bản chất của tiền bạc không thể tạo ra hạnh phúc, nó chỉ là một trong các phương tiện để con người đi đến hạnh phúc mà mình mong muốn. Hạnh phúc là khi tâm hồn mình cảm thấy bình an. Sống trên đống tiền mà tâm luôn bất an, ăn không ngon ngủ không yên thì liệu có hạnh phúc ? Tiền bạc là như cầu thiết yếu của cuộc sống. Đồng tiền giúp con người  cảm thấy tự tin đem đến cuộc sống ấm no. Tuy nhiên, khi bị đồng tiền chi phối, muốn tích trữ thật nhiều tiền sẽ làm cho con người ta trở nên tham lam, gian ác,ích kỷ, bất hiếu..


Phấn đấu làm giàu để có cuộc sống ấm no hạnh phúc là mơ ước của bất kỳ ai. Ai không muốn có một chiếc xe mới, một ngôi nhà đầy đủ tiện nghi điều hòa nhiệt độ, quần áo hợp thời trang và tất cả các tiện ích mới, công nghệ? Nhưng làm giàu phải có đủ 3 yếu tố,thiên thời địa lợi nhân hoà, thiếu một trong 3 yếu tố thì rất khó.? Cho nên làm giàu cũng phải có số đã. Nếu không thể có cuộc sống giàu sang ta hãy hướng đến một cuộc sống bình an, đừng vì đồng tiền mà làm giàu một cách bất chính thì cái giá phải trả là không hề rẻ …

NỖI ĐAU CÒN ĐÓ


Là người lính đã từng trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị mùa hè 1972 đỏ lửa, chúng tôi hiểu rõ sự khốc liệt của chiến tranh. Thành cổ Quảng Trị, cối xay thịt, chỉ với một cây số vuông, 81 ngày đêm chúng ta đã mất mỗi ngày gần một đại đội 80 cán bộ, chiến sĩ. 81 đại đội (hơn 5.000 quân) mà đa phần là lính sinh viên vào trực tiếp giữ thành. Đó là chưa kể tới nhiều đồng đội vẫn còn nằm nơi đáy sông Thạch Hãn khi vượt bom đạn vào chi viện cho các đơn vị giữ thành cổ hàng ngày. Chiến trường Quảng Trị, chỉ là một tỉnh nhỏ, mà chưa đầy một năm Mỹ Ngụy đã trút xuống đây tổng số bom đạn hơn 7 quả bom nguyên tử ném xuống Hyrosima Nhật bản năm 1945.


Thế nhưng, sự khốc liệt đó vẫn chưa thể nào so được với nỗi đau da cam, nỗi đau không nói thành lời, nỗi đau tận cùng trong tâm can những người lính chiến, nỗi đau tưởng như vượt quá sức chịu đựng của con người mà những đồng đội chúng tôi đang phải gánh chịu ngay cả trong hòa bình - Trận chiến không tiếng súng!.


Nhớ lại đầu năm 1972, Từ miền Bắc, đơn vị tôi lên xe hành quân gấp vào Nam ngay trong dịp tết Nguyên đán. Vào tới miền tây Quảng Bình xuống xe hành quân bộ vào Vĩnh Linh chuẩn bị cho chiến dịch Quảng Trị mùa khô 1972. Nơi cả hai phía dồn những đơn vị tinh nhuệ nhất bằng mọi giá chiếm cho được Thành cổ Quảng Trị trước khi Hiệp định Paris ký kết, đó là giai đoạn nút thắt của lịch sử. Chiến lược của Đảng và Bác là: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, nghĩa là đánh thật đau vang đến Lầu năm góc, buộc họ phải ký kết trong năm 72, năm 1973 Mỹ phải rút quân về nước - Ta đã làm được đúng theo quyết tâm chiến lược đó !.


Thời gian đầu ở miền Tây đặc khu Vĩnh Linh (bên ngoài VT17 ) và miền tây Quảng Trị, chúng tôi nhiều lần thấy máy bay địch rải chất trắng như sữa, rơi xuống rừng như sương mù trên tóc, như mưa phùn ướt trên áo, trên đầu mà có biết gì đâu. Khó thở thì dùng khăn mặt, áo lót đái vào hoặc bẻ ống thuốc chống khói đổ vào rồi bịt vào mũi, vào miệng rồi lại tiếp tục nhiệm vụ. Một thời gian sau lá rừng úa vàng, héo khô và trút xuống, rừng trơ trọi gốc cành. Rừng là nơi trú quân của ta nên không thể tránh đi đâu được vì nhiệm vụ, hồi đó chỉ biết đó là chất hóa học, chất khai quang làm rụng lá cây. Có thể nói Bộ đội, Thanh niên xung phong, Dân công hỏa tuyến... không một ai trong địa bàn đó không phải uống nước, ăn rau rừng, đào bới đất làm công sự, hít thở không khí ô nhiễm chất độc da cam... Bởi vậy chúng tôi bị nhiễm nặng, nhẹ hoặc bị ảnh hưởng chất dioxin là chuyện bình thường.


Chiến dịch vô cùng khốc liệt, đơn vị tôi là pháo binh hơn 70 mươi người, có trận bom B52 cả trung đội pháo chỉ còn duy nhất một người. Cả năm bổ sung nhiều đợt 30,50 quân... Thế mà sau Hiệp định Paris ( 27.1.73) là mùa mưa, đại đội bàn giao pháo để ra Bắc chỉ còn 16 người nguyên vẹn đi ra từ trận chiến... Nhưng đến nay trong 16 người đó thì hơn một chục anh em bị nhiễm chất dioxin (chưa kể anh em bị thương ra Bắc sớm) mấy bạn đau xót nhất là sinh mấy đứa con đều bị dị tật nặng nề. Mình đã bị nhiễm, nhưng trước mắt còn mừng vì con cháu chưa thấy khiếm khuyết gì, cho dù chưa thể biết trước mai sau rồi sẽ ra sao nhưng chúng tôi vẫn tự hào vì mình đã hy sinh một phần cho đất nước. Sức khỏe tuy có giảm sút nhiều, bệnh nọ tật kia ở mỗi đồng đội tôi cũng lắm, nhưng chúng tôi vẫn may hơn nhiều đồng đội hy sinh còn nằm nơi rừng sâu, khe suối... mưa lũ gần 50 năm rồi làm sao còn hài cốt nữa đồng đội ơi (!?).


Tuy vậy nỗi đau hy sinh rồi cũng dần khuây khỏa theo thời gian và bộn bề cuộc sống, nhưng bạn bè tôi con cái bị ảnh hưởng vì chất độc da cam thì vẫn còn đó, họ đã phải gánh chịu hàng giờ, hàng ngày gần nửa thế kỷ qua và gần hết cuộc đời rồi.


Đầu tiên là nỗi đau không tưởng ngay từ những năm 70, 80 sau cuộc chiến. Khi đó chất độc da cam chưa được nhận diện rõ nét. Con cái bị nhiễm sinh ra dị tật thời đó người đời dị nghị, săm soi lệch lạc, họ cho rằng do nhân quả tiền kiếp, do ăn ở, do huyết thống gia đình... đó là nỗi đau đớn trong tâm can, ngay trong cuộc sống thường nhật, đau xót trong dòng tộc, không nói thành lời, không biết tâm sự cùng ai.


Rất may sau đó với những cố gắng rất lớn của Đảng, nhà nước, các tổ chức trong nước và quốc tế, chất độc dioxin được giải mã, giải nghĩa. Rồi chúng tôi được giải tỏa, được vinh danh, với người lính đó đã là thỏa lòng ước nguyện rồi. Tuy vậy, các cháu tật nguyền nằm đó thật sự phức tạp, phục vụ con hết ngày này, tháng nọ, năm kia là cả vấn đề lớn tác động trực tiếp đến cuộc sống của gia đình, là thuốc thang tiền bạc, là thời gian, là công việc bị ràng buộc. Những lần đi gặp mặt đồng đội kỷ niệm ngày nhập ngũ cũng phải tính toán lo âu, sắp xếp mãi. Nỗi buồn làm Bạn tôi không gắn nổi tấm huân chương lên ngực áo mỗi khi hội họp, bởi khi nhìn các con tật nguyền, kinh tế khó khăn, nhà cửa chưa sang sửa được chút nào ...


Từ khi được Đảng, Nhà nước, các đoàn thể tập trung quan tâm và đặc biệt có Hội Nạn nhân chất độc da cam ra đời, Bạn tôi vui lắm, nó nói: Biết là còn khó khăn nhiều đấy nhưng nay đã đỡ lắm rồi, có trợ cấp hàng tháng, được hỗ trợ sửa nhà, được tặng quà hàng năm... Nhưng vui nhất là được Nhà nước, được xã hội ghi nhận, được vinh danh là người có công với Nước, thấy ánh mắt mọi người tỏ sự cảm thông, với những nụ cười chia sẻ... Thế là mãn nguyện lắm rồi !". Tuy vậy, tôi vẫn cảm nhận và nhìn thấy nỗi buồn trong khóe mắt của bạn tôi.


Vui đấy, nhưng chúng tôi vẫn phải dấu đi mỗi khi gặp mặt kỷ niệm ngày nhập ngũ hay ngày 30/4 toàn thắng, bảo nhau những thằng ăn lên làm ra, con cái khỏe mạnh, phát đạt đừng lỡ miệng khoe ra để chúng nó buồn. Lần nào chúng tôi cũng nhắc nhau kẻ ít, người nhiều góp bỏ vào phong bì gửi động viên những đồng đội khó khăn nhất. Trao nhau trong ân tình và nước mắt, động viên nhau chút ít thôi nhưng là tấm chân tình làm ấm lòng đồng đội.


Cảm ơn Đảng, Chính phủ, Cảm ơn Hội Nạn nhân chất độc da cam dioxin cùng các tổ chức đoàn thể... đã làm tất cả những gì có thể để chung tay xoa dịu nỗi đau da cam của đồng đội chúng tôi.


Nhiều khi tôi trầm tư một mình, bởi tôi biết nỗi buồn luôn day dứt trong lòng đồng đội. Bạn đã có lần nói với tôi nghẹn lòng: "Có mấy mặt con mà không có đứa nào nối dõi tông đường. Mình lo sợ nhất là khi vợ chồng về với tổ tiên rồi, ai sẽ lo hàng ngày cho mấy đứa nhỏ, chúng nó đã nằm một chỗ hơn bốn chục năm rồi !? "


Chúng tôi chìm trong im lặng, bởi nỗi đau đó có ai dám nói thành lời !


Cuộc chiến đã lùi xa nửa thế kỷ, nhưng những gì còn lại thì dài hơn rất nhiều cuộc đời của bạn tôi. Cho dù đã từng trải qua những khốc liệt của cuộc chiến. Hy sinh, mất mát, đau thương nhưng trong chúng tôi vẫn vẹn nguyên, vẫn luôn thấm đẫm tình đất nước, tình đồng đội và tình người. Song nỗi đau day dứt, khắc khoải vẫn còn đó, vẫn còn sâu thẳm trong mái đầu bạc trắng của Bạn tôi

Quốc Minh

VÀI LỜI GỬI MẠC VĂN TRANG!

         Mới đây tiến sĩ tâm lý Mạc Văn Trang và một số tổ chức, cá nhân viết cái gọi là "Thư khuyến nghị", kêu gọi Đảng và nhà nước hợp tác với Mỹ và các nước phương Tây ở Cam Ranh để bảo vệ chủ quyền biển đảo, chống Trung Quốc. Xin có vài lời như sau:
     Thứ nhất, chính sách nhất quán của Việt Nam là không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác, Việt Nam không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; và không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Đó là chủ trương khôn khéo. Việt Nam tự chủ, tự lực cánh sinh trong bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Tuy nhiên, không có chuyện cho Mỹ hiện diện quân sự ở Cam Ranh, vịnh có ví trí chiến lược và là căn cứ vững chắc của Hải quân Việt Nam. Mỹ, Trung, Nga đều muốn nhưng câu trả lời của Việt Nam là không. Mỹ hay Trung Quốc cũng chỉ vì lợi ích của quốc gia họ, không có chuyện Mỹ và phương Tây giúp Việt Nam chống Trung Quốc và ngược lại. Việt Nam không thể tự biến mình thành tiền đồn, phục vụ ý đồ của các nước lớn. Theo Mỹ thì Trung Quốc chắc chắn sẽ có những động thái thù địch với chúng ta. Vấn đề Ukraine là ví dụ điển hình. Còn nếu Việt Nam nghiêng về phía Trung Quốc thì Hoa Kỳ và đồng minh sẽ cấm vận nước ta...
     Thứ hai, biển Đông là khu vực địa chính trị hết sức quan trọng trong chiến lược "châu Á - Thái Bình Dương" của Mỹ và là nơi mà các nước như Úc, New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản và các quốc gia Âu Mỹ rất cần để lưu thông hàng hải và nhiều mục đích khác gắn với lợi ích quốc gia của họ chứ không phải là họ giúp Việt Nam và một số nước Đông Nam Á bị Trung Quốc xâm phạm chủ quyền trên biển, đảo. Tất nhiên việc kiềm chế Trung Quốc trên Biển Đông cũng có lợi cho các nước nhỏ, là láng giềng của tàu. Họ nhận thức rõ là các nước lân bang sẽ phải liên kết lại kiểu "hợp tung", từ đó khiến người Trung Quốc phải dè chừng. Nhưng chúng ta chẳng vội mừng vì suy cho cùng thì Hoa Kỳ và đồng minh lao tâm khổ tứ cũng chỉ vì quyền lợi của họ; việc họ chưa bao giờ công nhận Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam hay như Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội đăng bản đồ Việt Nam có Trường Sa, Hoàng Sa hôm trước thì hôm sau vội gỡ là ví dụ dễ hiểu nhất cho mỗi chúng ta. 
     Tóm lại, việc Mỹ liên tục có những động thái đối đầu với Trung Quốc, đặc biệt ở biển Đông là tín hiệu tích cực nhằm chống lại tham vọng bá quyền kiểu "cá lớn nuốt cá bé" nhưng để kết luận rằng họ giúp Việt Nam và các nước Đông Nam Á là sai lầm nghiêm trọng! Chỉ khi nào Mỹ và các nước công khai công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam thì mới là tín hiệu tích cực. Nhưng kể cả họ có công nhận thì cũng chẳng ai giúp chúng ta đòi lại Hoàng Sa từ tay Trung Quốc cả! Không bao giờ có chuyện đó xảy ra. Nói vậy để biết là chúng ta muốn vững mạnh thì phải tự lực cánh sinh chứ không thể trông chờ sung rụng. Ta chơi với cả Mỹ và Trung Quốc nhưng phải thủ sẵn con dao trong tay áo, không để họ thoả hiệp bán đứng chúng ta như họ đã làm. Đôi lời gửi Mạc Văn Trang./.

Yêu nước ST.

ÂM MƯU LỢI DỤNG TRUYỀN THÔNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 Nhằm thực hiện âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta, các thế lực thù địch đã, đang và sẽ không ngừng gia tăng, đồng thời điều chỉnh thủ đoạn, hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng cho rằng, vấn đề cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược “diễn biến hòa bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng tập trung cao nhất vào việc tiến hành các hoạt động chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam với những thủ đoạn rất

NGUYỄN ĐÌNH BIN - ÔNG TA SINH RA TỪ ĐÂU?!


Cái tên Nguyễn Đình Bin đang được nhắc nhiều trên các trang mạng những ngày gần đây. Vào dịp 30/4/2022 vừa qua, ông ta gọi chiến thắng 30-4-1975 là “cuộc nội chiến, huynh đệ tương tàn”, đề nghị Đảng, Nhà nước phải “xây tượng đài tưởng niệm những người lính VNCH, phong liệt sĩ cho 74 binh sĩ VNCH tử trận ở Hoàng Sa năm 1975, gia đình những binh lính này được hưởng chế độ liệt sĩ”…

NHƯ THẾ NÀO LÀ YÊU NƯỚC?


Yêu nước là một giá trị phổ biến mang tính nhân loại nhưng người Việt Nam chúng ta yêu nước đến nồng nàn, cháy bỏng:

CẦN PHẢI NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN ĐỂ CÓ HÀNH XỬ ĐÚNG MỰC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 


 


Quyền tự do ngôn luận là quyền của con người trong việc tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến của mình đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội dưới hình thức bằng lời nói, văn bản (viết tay hoặc đánh máy) hoặc dưới bản điện tử (email, facebook, zalo…) hoặc dưới hình thức khác (tranh vẽ, biểu diễn nghệ thuật…).

LUẬN ĐIỆU VU CÁO, XUYÊN TẠC TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM


 Thời gian qua, thực hiện âm mưu, hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động luôn triệt để lợi dụng vấn đề nhân quyền, coi đây là một trong những đòn “đột phá khẩu” để tấn công hòng phá vỡ sự ổn định chính trị, xã hội, làm suy yếu tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU VU CÁO, XUYÊN TẠC TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM.


Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cho 2.434 phạm nhân đã cải tạo tốt, nhân dịp Quốc khánh 2/9/2022 một lần nữa khẳng định chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân đạo của dân tộc Việt Nam. Đây cũng là minh chứng sống động bác bỏ luận điệu vu cáo, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động.

NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ BÀI HỌC TU DƯỠNG, TRÁNH CÁM DỖ

Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TO LỚN TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ

 


Thời gian qua, sau khi bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được đăng tải, các thế lực thù địch đã phát tán nhiều bài viết, bình luận trên nền tảng mạng xã hội và một số website, tờ báo nước

NHỮNG LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 


Một trong những nội dung quan trọng trong bài viết của đồng chí Tổng Bí thư xoay quanh những vấn đề lý luận và thực tiễn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam. Bài viết dựa trên nền tảng thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn phong phú, sinh động của Việt Nam trong xây dựng CNXH. Trong đó nổi bật lên các nội dung cơ bản sau:

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH VỀ BÀI VIẾT CỦA ĐỒNG CHÍ TỔNG BÍ THƯ

 


Sau bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra đời, trên mạng xã hội đã xuất hiện nhiều luận điệu

Bùi Tuấn Lâm, tên phản bội Tổ quốc

 


Hoan nghênh báo Pháp luật (plo.vn) trong việc tuyên truyền pháp luật của mình. Thay vì gọi đối tượng Bùi Văn Lâm - kẻ mới bị Công an thành phố Đà Nẵng bắt vì chống phá Nhà nước bằng "Anh" giống như linh mục phản động Nguyễn Ngọc Nam Phong, báo Pháp luật đã dùng từ "Ông".

KIÊN QUYẾT ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, VỮNG TIN XÂY DỰNG NƯỚC TA NGÀY CÀNG GIÀU MẠNH.


Một thực tế không thể phủ nhận đó là kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng (XD,CĐĐ) đạt được trong thời gian qua không những được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ghi nhận, đánh giá cao mà còn khẳng định XD, CĐĐ là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược để Đảng ta có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, các thế lực thù địch phớt lờ điều ấy, chúng còn ra sức công kích vấn đề có tính nguyên tắc và chiến lược này.

KỶ LUẬT LÀ SỨC MẠNH CỦA QUÂN ĐỘI


Kỷ luật của Quân đội ta mới thật sự là nghiêm minh, tự giác, tạo nền móng xây dựng sự đoàn kết, nhất trí xây dựng Quân đội Nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Xả súng đẫm máu ngay thủ đô Bangkok


Trang Bangkok Post đưa tin, một vụ xả súng đã xảy ra tại ngôi trường quân sự Army War College ở thủ đô Bangkok – Thái Lan khiến 2 người thiệt mạng và 1 người bị thương.

Trung Quốc bất ngờ cáo buộc Mỹ dùng tin tặc đánh cắp dữ liệu mật

Mới đây, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố vụ xâm nhập vào một trường đại học hàng đầu là hành động mới nhất trong loạt các cuộc tấn công mạng do tin tặc Mỹ tiến hành.

Bình đẳng giới “dỏm” ở Trung Quốc

Trung Quốc từ lâu đã thúc đẩy bình đẳng giới như một trong những nguyên lý cốt lõi. Tuy nhiên, khi chủ đề về bất bình đẳng giới lan rộng trên toàn quốc, giới chức rất ít khi mạnh tay giải quyết những lời kêu gọi yêu cầu trách nhiệm giải trình.

Một “đại dịch” nhức nhối đang tồn tại ở Trung Quốc

 Không chỉ Covid-19, tại Trung Quốc, việc bình đẳng giới từ lâu đã trở thành đại dịch còn nhức nhối và bất cập hơn cả. Nhất là những nội dung liên quan việc ủng hộ bình đẳng luôn bị hạn chế, đặc biệt những vụ việc liên quan đến bạo lực với phụ nữ luôn bị xem nhẹ quá mức.

THẤT BẠI CỦA KHÔNG QUÂN MỸ TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM


Là lực lượng không quân lớn nhất thế giới, nhưng Không quân Mỹ lại thất bại trước thế trận phòng không nhân dân của quân và dân ta trong chiến tranh Việt Nam.

UKRAINE THẤY RÕ NGUY CƠ KHI NGA TẬP TRUNG HOẢ LỰC.


Sau khi vắng bóng trên chiến trường Ukraine trong vài tuần, không quân Nga đang trở lại. Các video mới đây cho thấy các máy bay cường kích Nga, UAV...tấn công các vị trí do Ukraine chiếm giữ ở Kherson và Kharkiv. Nga chủ động lui binh, dẫn dụ quân Ukraine vào những vùng đất mà họ đã từng làm chủ, quân Ukraine vào như chỗ không người và tuyên bố đạt được những chiến thắng vang dội.

Phim Trung Quốc

 Người Việt mình tự bao đời nay luôn tự hào về quá khứ vẻ vang, oanh liệt

của dân tộc, mang đầy sự kiêu hãnh khi đối mặt với những kẻ thù bạo tàn và ngang

ngược. Tuy nhiên tinh thần hào khí ấy đã và đang bị dã tâm chiếm đoạt văn hóa,

chiếm đoạt quá khứ của Trung Quốc thách thức, gặm nhấm. Dễ thấy từ sự thống trị

của những bộ phim dã sử Trung Quốc trên các khung giờ vàng của truyền hình

Việt Nam. Thực tế ấy không chỉ trực tiếp tác động đến nền văn hóa và những động

lực thúc đẩy văn hóa Việt vươn mình, mà còn là tác nhân làm lệch lạc suy nghĩ, tư

duy của người Việt đối với lịch sử nước nhà.

Ở đó, chi tiết “đường lưỡi bò” xuất hiện trong các phim “Nhất sinh nhất

thế”, “Em là niềm kiêu hãnh của anh”, “Em là thành trì doanh lũy của anh”,

“Everest – Người tuyết bé nhỏ” … từng vấp phải sự phản đối từ khán giả Việt vì

xuyên tạc lịch sử, cài cắm yêu sách lãnh thổ vô lý. “Quân đội Vương Bài” – Phim

dã sử Trung Quốc gần đây bị cấm chiếu ở Việt Nam vì những sai lệch lịch sử.

Thực tế đó buộc chúng ta phải nhìn nhận rằng, với Trung Quốc thì phim ảnh không

đơn thuần chỉ là phim ảnh mà còn là công cụ tuyên truyền cho chủ trương, quan

điểm của nhà nước, là cách quảng bá văn hóa, văn minh Trung Hoa ra thế giới và

là phương tiện để họ diễn giải lại lịch sử với vỏ bọc của “dã sử”, “tưởng sử”, để thế

giới quen dần với yêu sách “đường lưỡi bò” vô lý của họ trên Biển Đông.


Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, có 592 lượt phim truyền hình Trung

Quốc được các đài truyền hình trên cả nước phát sóng trong năm 2009. Đó là chưa

kể đến các bộ phim có thời lượng phát sóng dài, liên tục, thường niên được tái phát

sóng như: “Tể tướng Lưu gù”, “Anh hùng Thủy Hử”, “Tiếu ngạo giang hồ”, “Tây

du kí”, “Anh hùng xạ điêu”, …. Không những thế, trên thị trường chiếu rạp, các

tác phẩm ăn khách và đoạt giải cao của Trung Quốc cũng được công chiếu một

cách rộng rãi như: “Họa bì”, “Xích bích”, “Kungfu Gấu trúc”, “Hoa Mộc Lan”,

“Chiến binh và Tình sói”, .… Nhờ phim ảnh, những ý đồ và toan tính chính trị

được họ lồng ghép một cách khéo kéo, thông qua những chi tiết rất nhỏ của hình

ảnh, ngôn ngữ hoặc âm thanh. Thay vì được trình bày bằng văn bản với câu từ khô

khan, khó hiểu, điện ảnh đã mở ra những cơ hội mới cho công tác tuyên giáo,

tuyên truyền của chính phủ Trung Quốc. Sự xuất hiện của những tác phẩm điện

ảnh, truyền hình thể hiện sức mạnh của vũ khí, phương tiện chiến tranh của Trung

Quốc thời hiện đại, phê phán, đả kích các nước láng giềng, hay có lồng ghép

“đường lưỡi bò”. Với những bộ phim dã sử lấy đề tài cung đình, Trung Quốc là

quốc gia đi đầu trong việc tái định nghĩa lại lịch sử, không chỉ của chính họ mà còn

là cả các quốc gia xung quanh họ. Những tranh cãi về trang phục truyền thống của

người Việt bị cộng đồng mạng ở Trung Quốc nhận vơ là của dân tộc họ, cho đến

những biến tướng về mặt lịch sử trong lời thoại của các bộ phim cổ trang đề cập

đến Việt Nam đã phần nào cho thấy tham vọng diễn đạt lại lịch sử của các nhà làm

phim Trung Quốc. Tư duy lịch sử bắt đầu bằng những câu chuyện kể, từ những trải

nghiệm thực tế, do đó, việc tạo dựng và khuyến khích một môi trường học tập

trong lành, tích cực là rất quan trọng đối với việc hình thành tư duy lịch sử đúng

đắn.

Tình trạng một bộ phận giới trẻ hiện nay rành sử Trung Quốc hơn sử Việt

Nam, hay sự ngây thơ đến mức đáng trách khi coi Nguyễn Huệ và Quang Trung là

hai anh em v.v… là nỗi lo cho tương lai dân tộc. Trong bối cảnh đó, sự thống trị

của phim ảnh Trung Quốc quả thật là vấn đề cần được suy xét thấu đáo.

Trước nhất về phía Nhà nước, thực tế nhiều năm qua cho thấy tình trạng

kiểm duyệt còn nhiều bất cập. Hội đồng kiểm duyệt cần phải cải thiện nhiều hơn

nữa, tránh để lọt lưới những tác phẩm có tính độc hại, ảnh hưởng xấu đến việc thực

hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước và làm lệch lạc tư duy lịch sử của

thế hệ trẻ.

Về phía các nhà đài, với trách nhiệm sản xuất và phát hành, cũng đã có

không ít hạn chế trong bối cảnh bị “thương mại hóa” và thiếu đi các định hướng về

nội dung. Thiếu vắng định hướng nghệ thuật và những đầu tư một cách chỉn chu về

nội dung đã làm cho các bộ phim sử Việt trở nên không hấp dẫn. Để chiều theo thị

hiếu dễ dãi của một bộ phận xã hội, các nhà đài đã chọn lựa những những drama

tình cảm hoặc các chủ đề về giang hồ, xã hội đen, thay vì lịch sử dân tộc. Điều này 

không chỉ cho thấy sự hạn hẹp trong tư duy, mà còn thể hiện bản lĩnh yếu kém của

cộng đồng làm phim, của một số nhà sản xuất chương trình, nhà đài. Do đó, đòi hỏi

họ cần phải có những thay đổi, trong đó, thay đổi quan trọng nhất là sự thay đổi về

tư duy và bản lĩnh, dám đặt và biết đặt lợi ích dân tộc lên trên những toan tính vật

chất.

Cuối cùng, về phía người dân, khán giả cũng cần có những thay đổi về nhận

thức. Nếu các cơ quan chức năng là “bộ lọc” đầu tiên, thì cộng đồng và từng cá

nhân là “bộ lọc” quan trọng nhất đối với mọi tác phẩm nghệ thuật, không riêng gì

điện ảnh, truyền hình. Bởi thưởng thức cũng là một việc cần được giáo dục.

Thưởng thức cái đẹp, cái hay và phân biệt được giữa cái đẹp của dân tộc với “cái

đẹp” mang bản chất phá hoại là một vấn đề không mấy dễ dàng. Cho nên, không

chỉ Nhà nước và cộng đồng làm phim thay đổi, bản thân mỗi chúng ta cũng phải

tích cực thay đổi nhận thức và bắt đầu hành động, điều đó không chỉ giúp cho văn

hoá nước nhà có điều kiện phát triển mà còn góp phần xây dựng cho người trẻ một

không gian văn hoá trong sạch, giàu tinh thần dân tộc. Nếu mỗi khán giả đều có

tinh thần và trách nhiệm bảo ᶌệ chủ quyền, lợi ích quốc gia từ mỗi thước phim, sẽ

không có thông điệp nào có thể được “tiêm nhiễm”, dù với muôn cách khác nhau.

Tựu chung lại, từ Nhà nước, nhà đài đến từng nhà dân, ai ai cũng cần thay

đổi, trước thực trạng đáng báo động bởi sự thống trị của phim ảnh Trung Quốc.

Thay đổi là cách duy nhất để phim Việt có chỗ đứng trong dân Việt, thay đổi để

lịch sử Việt trở lại đúng vị trí của nó trong xã hội Việt. Với điện ảnh Việt, chúng ta

cần hơn bao giờ hết những bộ phim lịch sử (đặc biệt là những bộ phim lấy đề tài

chiến tranh) được đầu tư quy mô, bài bản, để kể về hành trình dựng nước, giữ nước

bi hùng của dân tộc. Việt Nam trải qua hành trình lịch sử bi tráng hơn bất cứ quốc

gia nào. Trước những thước phim lịch sử của đất nước mình, khán giả xem để

thấm đẫm tình yêu đất nước, để thấy tự hào dân tộc – không chỉ là cảm xúc, đó là

một trách nhiệm, chảy từ trong huyết quản của mỗi người Việt Nam ta./.

Những dự án giáo dục

 Từ khi đất nước chuyển mình theo cơ chế thị trường thì có lẽ lĩnh vực giáo

dục cũng bắt đầu bị cuốn theo vòng xoáy của nó, mà rõ nhất là sức hấp dẫn mê

hoặc từ những “dự án”. Cơn sốt dự án trong giáo dục có thể nói bắt đầu từ những

năm 90 thế kỉ trước.

Lần thay sách thứ nhất 1981-1992 vừa xong thì tháng 10/1993 đã triển khai

dự án vay ODA làm sách giáo khoa lần thứ hai. Còn nhớ 15 năm trước, đại biểu

Quốc hội Nguyễn Đức Dũng (Kon Tum) từng chất vấn Bộ trưởng Bộ Giáo dục và

Đào tạo Nguyễn Minh Hiển (ngày 13/11/2003) về dự án này: "Việc chuyên gia

trong các dự án giáo dục được trả 12.000 - 15.000 USD/tháng/người (tương đương

200 triệu đồng) trong khi lương tháng của một công chức bình thường chỉ khoảng

1 triệu đồng, Bộ trưởng có biết?” và ông cảnh báo: “Bây giờ ngành Giáo dục đi

làm dự án là chủ yếu, quản lí dự án chứ không quản lí giáo dục, đúng không?"

(Báo Tuổi Trẻ ngày 14/11/2003). Cảnh báo nêu trên không phải là không có căn

cứ. Dự án này đã tiêu tốn ngân sách hơn 2 tỷ USD - một con số khủng lúc bấy giờ.

Lần thay sách thứ 2 vừa xong thì Bộ Giáo dục và Đào tạo lại triển khai thực

hiện Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông mới. Đề án thay sách

lần này khiến dư luận “mắt chữ O miệng chữ A” khi được Bộ công bố để xin ý

kiến dư luận vào đầu tháng 6/2011, có kinh phí ước tính 70 ngàn tỷ đồng (bao gồm

cả xây dựng cơ sở vật chất trường học). Sau đó trước sự phản ứng gay gắt của dư

luận, Bộ rút lại đề án này.

Ba năm sau, Bộ lại trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề án chương trình -

sách giáo khoa sau khi đã bóc tách phần cơ sở vật chất với kinh phí khái toán

34.275 tỷ. Ngày 11/6/2014, tại phiên trả lời chất vấn, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và

Đào tạo Phạm Vũ Luận trần tình về con số 34 nghìn tỷ nói trên: “Con số này là do

một đồng chí lãnh đạo cấp vụ của Bộ ngồi phía sau trao lên cho đồng chí Thứ

trưởng trong 1 tờ giấy. Thưa Quốc hội, thưa các đồng chí lãnh đạo, Đảng, Nhà

nước thông cảm cho, anh em dự một cuộc họp quan trọng như vậy, trang nghiêm

như vậy nên anh em bị khớp nên đã đọc con số đó, chứ con số đó Bộ chưa có bàn

bạc gì cả”. Tháng 10/2014, Quốc hội thông qua Nghị quyết 88/2014/QH13 chấp

thuận Đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa, trong đó khái toán các công

việc liên quan đến biên soạn chương trình, sách giáo khoa chỉ có 462 tỷ đồng. Một

đề án liên quan đến sinh mệnh giáo dục quốc gia nhưng lãnh đạo Bộ Giáo dục và

Đào tạo và các chuyên gia lại vận hành một cách sơ sài, cẩu thả. Các con số cứ


nhảy múa liên tục khiến dư luận hoa mắt: 70 ngàn rồi 34 ngàn và cuối cùng là hơn

462 tỷ. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng lúc đó đã phải thốt lên: “Từ 34 nghìn

tỷ xuống còn có mấy trăm tỷ tôi nghe tôi cũng sợ quá!” và ông đặt vấn đề: “Trách

nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo là làm chương trình, nhưng Bộ ban hành

chương trình thế nào không thấy nói? Bộ làm thế nào thì không thấy nói? Tổ chức

làm chương trình thế nào, hay là mấy vụ thiết kế ra rồi các đồng chí ký, gọi là

chương trình?”.

Năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai đề án “Dạy học ngoại ngữ

trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” sau khi đã được Chính phủ

phê duyệt. Đề án có tổng kinh phí là 9.378 tỷ đồng từ nguồn ngân sách nhà nước

và một số nguồn khác. Sau gần 10 năm thực hiện, hàng nghìn tỷ đồng đã bỏ ra

nhưng kết quả khiến dư luận xã hội bức xúc vì chất lượng dạy học môn Ngoại ngữ

trong nhà trường vẫn “đội sổ” so với các môn khác trong kỳ thi Trung học phổ

thông quốc gia.

Tháng 01/2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai Dự án Mô hình trường

học mới tại Việt Nam (VNEN) với tổng số vốn được phê duyệt là 87,6 triệu USD,

nhưng sau một thời gian thí điểm nhiều trường đã phải kêu cứu, nhiều địa phương

ngừng thí điểm, nói không với VNEN. Thất bại của VNEN đã được dự báo ngay từ

khi vừa mới triển khai bởi đây vốn là dự án chỉ áp dụng cho vùng khó ở nước

Colombia xa lắc xa lơ bên Nam Mỹ. Phải chăng VNEN là một sự “coppy máy

móc” của xứ người nhằm thỏa mãn cơn khát dự án ở đây?

Mới đây nhất, ngày 22/5/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức thu hồi

đề án “Đổi mới thi Trung học phổ thông quốc gia và tuyển sinh đại học – cao đẳng

sư phạm, trung cấp sư phạm hệ chính quy giai đoạn 2018-2020” với khái toán tổng

kinh phí lên đến 749 tỷ đồng. Mang danh là “Đổi mới” nhưng nội dung đề án về cơ

bản không thay đổi so với phương án thi Trung học phổ thông quốc gia đã thực

hiện năm 2017 và phương thức thi Trung học phổ thông quốc gia năm 2018 đã

công bố.

Điểm qua một số dự án khủng như vậy để thấy một thực tế ở tầng vĩ mô của

ngành Giáo dục. Ngẫm lại lời cảnh báo của vị đại biểu Quốc hội 15 năm trước mà

xót xa: “ngành Giáo dục đi làm dự án là chủ yếu, quản lí dự án chứ không quản lí

giáo dục”. Vấn đề đặt ra là vì sao ngành Giáo dục làm dự án hàng ngàn tỷ một cách

giản đơn như vậy? Vì sao những dự án gây nhiều tranh cãi vẫn được thông qua?

Trong muôn vàn lí do, có cái lí do đặc thù của ngành. Dự án giáo dục không vận

hành ồn ào trên công trường mà diễn ra thầm lặng trong phòng máy lạnh, trên bàn

phím. Sản phẩm của nó cũng không lồ lộ như cây cầu, con đường hay tòa cao ốc

để xã hội có thể giám sát trực tiếp. Nó là những tập sách giáo khoa, là tài liệu

hướng dẫn, là băng đĩa dạy mẫu .… Cơ quan chức năng có thể vào cuộc điều tra


ngay những cây cầu, con đường chưa khánh thành đã hỏng vì bị rút ruột, nhưng

với dự án giáo dục, đã ai bị xử lí bởi một cuốn sách bị lỗi, một phương pháp dạy

học sai lầm, thậm chí là dự án thất bại? Đối tượng thụ hưởng dự án giáo dục cũng

khác, họ không có quyền từ chối nếu sản phẩm dự án bị lỗi. Có trường học nào

dám không thực hiện dự án cho dù chỉ là thí điểm? Có gia đình nào dám không

mua sách giáo khoa mới “có sạn” nhưng quá đắt đỏ cho con đi học khi ngày khai

giảng đã cận kề? Bởi thể, chẳng có gì là khó hiểu khi học sinh ta bao nhiêu năm

qua được ví như “chuột bạch” cho các cải cách, dự án của Bộ này.

Đất nước nói chung và giáo dục nói riêng cần nhiều dự án để phát triển,

nhưng không thể chấp nhận việc núp bóng, đội lốt dự án để cá nhân hay nhóm lợi

ích trục lợi, xa rời trách nhiệm quản lí chuyên môn, đẩy nền giáo dục Quốc gia vào

vòng luẩn quẩn./.

Những câu hỏi khó cho chính quyền Mỹ

 

Ông Laurentiu Primo, 55 tuổi, sinh ra ở Brasov (Romania), là ứng cử viên tổng thống Romania vào năm 2019 (Ông là Kỹ sư, Thạc sĩ Quản lý và Chiến lược, nhà phát minh, IQ 148, doanh nhân từ năm 1994, tác giả của một số cuốn sách: Chế độ công đức và chủ nghĩa công đức, Hiến pháp dân chủ, Trước Chúa ...) gần đây có gửi tới Đại sứ quán Mỹ một bức thư, trong đó có nhiều câu hỏi, nhưng không được phản hồi. Nội dung như sau: "Người dân Romania, một “đối tác chiến lược”, giống như bất kỳ người dân chư hầu kém học thức và văn minh nào, không hiểu một số vấn đề về địa chiến lược và chính trị quốc tế và muốn được soi sáng nhờ trí tuệ cao siêu và kiến ​​thức của "dân tộc Mỹ" vĩ đại …. Đó là lý do tại sao, trong lá thư này, tôi muốn trân trọng hỏi các ngài một vài câu hỏi, sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về sự may mắn, khi chúng tôi được che chở bảo vệ dưới đôi cánh hộ trì của các ngài:

1. Tại sao cuộc xâm lược Ukraine của Nga tồi tệ hơn cuộc xâm lược Iraq của Mỹ?

2. Tại sao việc Kosovo ly khai khỏi Serbia và sự độc lập của Kosovo là hợp pháp, trong khi việc Donbass ly khai khỏi Ukraine và sự độc lập của Donbass là bất hợp pháp?

3. Tại sao cuộc chiến kéo dài 20 năm của các ngài để “phân mảnh hóa” Afghanistan là hợp pháp, trong khi việc “phi hạt nhân hóa” Ukraine là bất hợp pháp?

4. Tại sao cái chết của hơn 1 triệu thường dân trong cuộc chiến ở Iraq không phải là một thảm kịch, mà là cái chết của vài trăm thường dân ở Ukraine - lại là ngày tận thế?

5. Tại sao không có lệnh trừng phạt nào đối với Hoa Kỳ đối với việc ném bom Nam Tư và Belgrade, trong khi Nga phải chịu các biện pháp trừng phạt chưa từng có trước đây với việc pháo kích vào Ukraine?

6. Tại sao việc người Mỹ bắn phá bệnh viện là một hiện tượng ít nghiêm trọng hơn nhiều so với việc người Nga pháo kích vào bệnh viện?

7. Tại sao các ngài được phép sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt, trong khi những người khác thì không?

8. Tại sao Mỹ và các những người bạn Ukraine được phép có các phòng thí nghiệm và nhà máy sản xuất vũ khí sinh học và hóa học, trong khi đó Syria (chẳng hạn) thì không được?

9. Tại sao Israel được phép có bom nguyên tử, nhưng Mỹ lại tuyên bố Iran không được phép?

10. Tại sao trẻ em Palestine chết dưới bom đạn không phải là một thảm kịch, mà trẻ em Ukraine thì lại khác?

11. Tại sao các ngài áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với việc chiếm đóng Crimea, nhưng không áp dụng bất kỳ biện pháp trừng phạt nào đối với việc chiếm đóng Bờ Tây của Jordan và “các vùng lãnh thổ ” bị Israel chiếm đóng?

12. Tại sao những người di cư Syria, trẻ em và phụ nữ bị coi là tồi tệ và không được đón chào, trong khi người Ukraine (di cư) thì lại khác?

13. Tại sao giới tài phiệt Nga xấu và giới tài phiệt Mỹ thì lại tốt?

14. Tại sao cần phải phá hủy những đường phố nông thôn Romania bất hạnh bằng bánh xích xe tăng và xe bọc thép của Mỹ, tại sao không sử dụng đường cao tốc Bechtel mà nhà nước Romania đã chi hàng tỷ đô la? (Công ty Bechtel của Mỹ hứa sẽ xây dựng một đường cao tốc đến Romania, nhưng lại lấy tiền của người Romania và biến mất như một kẻ lừa đảo cuối cùng….).

15. Tại sao hàng năm Romania lại phải chi cho Mỹ hàng tỷ USD cho vũ khí "ảo", để bảo vệ chúng tôi khỏi người ngoài hành tinh, nhưng lại không tìm ra 0,5 tỷ USD để cứu sống hàng nghìn trẻ em mắc bệnh ung thư?

16. Tại sao không ai phải chịu trách nhiệm về tội ác chiến tranh của người Mỹ ở Việt Nam, Triều Tiên, Nam Tư, Iraq, Afghanistan, Libya, Syria, v.v… trong khi các tội ác ở Ukraine lại phải bắt buộc tìm ra những kẻ có lỗi trong số người Nga?

Tôi tin rằng, các ngài sẽ đánh giá những câu hỏi này như một biểu hiện của lý tưởng cao nhất về tự do ngôn luận và hiểu biết về sự thật, điều đã truyền cảm hứng cho hành động của Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy các quyền cơ bản của con người trên toàn thế giới! Dân tộc Romania đang rất quan tâm chờ đợi câu trả lời của các ngài, các quý ông, để có lý do yêu quý các ngài nhiều và nhiều hơn nữa, như một lẽ tự nhiên, như là cách chúng tôi đã được quỹ Soros tuyệt vời dạy dỗ yêu quý các ông chủ của mình”.

Ông Milan Ugrik - Đại biểu Nghị viện châu Âu từ Slovakia trong bài phát biểu 24/03 tại phiên họp của Hội đồng châu Âu cũng đã nêu câu hỏi: “Có ai thấy cấm vận khí Mỹ giết hại 200 ngàn dân thường ở I-Rắc? Các quý vị ở đâu, khi Nam Tư bị ném bom? Các người đã giả như không biết, khi Mỹ tiến hành những cuộc chiến tranh này !”

Làm thất bại mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực phản động

 Một trong những trọng tâm của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế

lực thù địch đối với Nước ta hiện nay là thúc đẩy thực hiện mưu đồ “phi chính trị

hóa” quân đội. Thực chất của mưu đồ này là nhằm lôi kéo quân đội ta xa rời hệ tư

tưởng xã hội chủ nghĩa và lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với chủ

nghĩa xã hội; tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho quân

đội bị tha hóa, biến chất về chính trị, phai nhạt về lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng

về mặt tổ chức và bị vô hiệu hóa, không còn sức mạnh, công cụ bạo lực trung

thành để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Sự chống phá nền

tảng tư tưởng của Đảng, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù

địch, cơ hội chính trị diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, với mưu đồ ngày

càng tinh vi, xảo quyệt, khó đoán định cho đến khi họ đạt được mục tiêu làm mất

vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Mỗi khi Việt

Nam diễn ra những sự kiện chính trị trọng đại, như: Đại hội Đảng, chuẩn bị bầu cử

đại biểu Quốc hội, sửa đổi Hiến pháp, ban hành, sửa đổi các văn bản quy phạm

pháp luật, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và quân đội …, bằng nhiều hình

thức, phương tiện khác nhau, không ít cá nhân, tổ chức thù địch lại đồng loạt tung

ra những luận điệu cũ rích đòi Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ

Điều 4 Hiến pháp năm 2013, đòi “phi chính trị hóa” quân đội .... Các thế lực thù

địch xảo biện và xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và tổ chức, lãnh

đạo quân đội là do nhu cầu lịch sử của công cuộc giải phóng dân tộc, nhưng hiện

nay Việt Nam đã hoàn toàn được giải phóng và thống nhất đất nước gần nửa thế

kỷ, Đảng đã “hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình” và không cần sự lãnh đạo của

Đảng đối với quân đội (?!). Họ cho rằng, hiện nay, quyền lãnh đạo đất nước cần

phải chia sẻ cho các lực lượng khác bằng cách thực hiện đa đảng hoặc trao cho cái

gọi là “lực lượng dân chủ cấp tiến”; rằng, quân đội phải “trung lập”, quân đội phải

“đứng ngoài chính trị”(?!). Bản chất của luận điệu này là muốn tách quân đội khỏi

sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội,

làm cho quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý

tưởng chiến đấu, suy yếu về chính trị, tiến tới bị vô hiệu hóa. Chúng muốn làm

biến chất một đội quân vốn từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu dưới sự

lãnh đạo của Đảng, trở thành một đội quân đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân

dân, từ đó dễ bề làm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Không chỉ

những phần tử chống đối lưu vong, mà hiện nay, một số phần tử cơ hội, bất mãn ở

trong nước cũng ráo riết chống phá. Trên các trang mạng xã hội, chúng thường


xuyên vu khống, xuyên tạc bản chất, vai trò, chức năng của quân đội, nhằm phủ

nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối

với quân đội.

Thực tiễn cách mạng thế giới đã để lại nhiều bài học đắt giá, nếu đảng cộng

sản buông lỏng lãnh đạo đối với quân đội, thì cách mạng đứng trước nguy cơ thất

bại. Thực tiễn “phi chính trị hóa” quân đội diễn ra ở Liên Xô cho thấy, nếu xa rời

những vấn đề nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội cách

mạng thì sự rệu rã của quân đội, dẫn đến sự sụp đổ chế độ Xã hội chủ nghĩa hết sức

nhanh chóng. Năm 1987, Đảng Cộng sản Liên Xô tự xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo

quân đội thì chỉ 4 năm sau Liên Xô tan rã. Chỉ trong khoảng 2 năm đầu thực hiện

“phi chính trị hóa” quân đội (1987-1989), gần 30% tướng lĩnh, 50% cán bộ chiến

lược của quân đội Liên Xô bị cho “về vườn”, hơn 100 cán bộ chính trị cấp chiến

dịch - chiến lược bị cách chức với lý do “không ủng hộ cải tổ” (trước đó, trong một

thời gian dài, quân đội Liên Xô bỏ hệ thống tổ chức đảng từ toàn quân đến cơ sở).

Năm 1990, Đảng Cộng sản Liên Xô từ bỏ vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã

hội đã ghi trong Hiến pháp, chấp nhận đa nguyên, đa đảng thì sau đó, Tổng thống

Liên bang Nga ra sắc lệnh “phi đảng hóa” và cấm các đảng chính trị hoạt động

trong các cơ quan nhà nước và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô ra lệnh buộc

mọi quân nhân là đảng viên cộng sản phải trả thẻ đảng .... Bi kịch “phi chính trị

hóa” xảy ra đã khiến quân đội Liên Xô, một quân đội hùng mạnh từng đánh bại

chủ nghĩa phát xít, với gần 4 triệu quân thường trực, vũ khí trang bị rất hiện đại

bỗng chốc mất phương hướng chiến đấu, không biết phải bảo vệ mục tiêu nào

trong “thảm họa chính trị” tháng 8/1991 dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô. Bài học

rút ra từ quá trình “phi chính trị hóa” quân đội Liên Xô càng giúp chúng ta hiểu

hơn lời dạy của V.I.Lênin: Hiện nay, cũng như trước kia và sau này, “quân đội

không thể và không nên trung lập”. Sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô và các

nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, sự tan rã, mất phương hướng của quân đội các

nước này ở cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX do nhiều nguyên

nhân, trong đó có nguyên nhân từ việc buông lỏng và tiến tới thủ tiêu nguyên tắc

lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội. Đó chính là sai lầm trầm trọng mà

Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc phải trong lãnh đạo quân đội. Điều đó càng đặt ra

yêu cầu trong việc quán triệt, thực hiện nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là phải

giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, nâng cao

năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội.

Trung thành với học thuyết Mác - Lênin về tổ chức lãnh đạo, xây dựng quân

đội kiểu mới của giai cấp vô sản, vận dụng vào điều kiện cụ thể của cách mạng

nước ta, từ rất sớm trong “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, “Sách lược vắn tắt của

Đảng” (tháng 02/1930) do Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trực tiếp khởi thảo đã

khẳng định quan điểm bạo lực cách mạng, Đảng tổ chức và lãnh đạo quân đội công


nông để giành và giữ chính quyền. Từ rất sớm, Người đã nêu lên và từng bước hiện

thực hóa chủ trương Đảng lãnh đạo quân đội. Là người trực tiếp tổ chức, lãnh đạo,

giáo dục và rèn luyện Quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: Giữ

vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng về mọi mặt đối Quân

đội nhân dân Việt Nam là một trong những nguyên tắc chủ yếu để xây dựng quân

đội có sức mạnh vô địch. Trong tác phẩm Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh

vực” và cho rằng: Đảng không chia sẻ quyền lãnh đạo đó cho đảng phái chính trị,

lực lượng nào khác mà độc tôn lãnh đạo quân đội ta; Đảng lãnh đạo không thông

qua khâu trung gian, tổ chức trung gian nào mà trực tiếp lãnh đạo Quân đội bằng

hệ thống cơ chế, tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng trong quân

đội đồng bộ, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở; Đảng lãnh đạo quân đội toàn

diện về mọi mặt, mọi nhiệm vụ, mọi lĩnh vực hoạt động, mọi mặt công tác, mọi tổ

chức, mọi đơn vị quân đội, ở đâu có tổ chức và hoạt động của quân đội thì ở đó có

sự lãnh đạo của Đảng. Theo đó, Đảng ta luôn coi trọng và khẳng định dứt khoát

quyền lãnh đạo quân đội công nông, không phân quyền lãnh đạo đó cho một giai

cấp, một tổ chức, một đảng phái nào khác, bởi vì: “Quân đội ta có sức mạnh vô

địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và

giáo dục”. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực

lượng vũ trang đã được thể hiện đậm nét trong các văn kiện Đại hội, các chỉ thị,

nghị quyết có liên quan của Đảng và đã được luật hóa, thể chế hóa trong hệ thống

văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chính phủ ban hành.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh

đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng

thời có tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu

trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Lý tưởng chiến đấu của quân

đội ta là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là

lý tưởng chính trị - đạo đức không chỉ mang tính cách mạng và khoa học, mà còn

thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển

đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại, mà còn phản ánh khát vọng thiêng

liêng tự giải phóng, giành quyền Độc lập - Tự do - Hạnh phúc và vươn lên làm chủ

của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử dân tộc. Lý tưởng

chiến đấu đó, thể hiện tình cảm sâu nặng và trách nhiệm chính trị - đạo đức cao cả

của quân đội ta đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối,

trực tiếp về mọi mặt của Đảng, quân đội ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành,

thể hiện rõ bản lĩnh chính trị của quân đội cách mạng, gắn bó máu thịt với nhân

dân, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

Trong chiến đấu, quân đội ta thực hiện xuất sắc vai trò nòng cốt cùng toàn dân

đánh giặc, hỗ trợ tích cực cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quần


chúng, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì

hạnh phúc của nhân dân. Trong lao động sản xuất, quân đội ta tích cực tham gia

phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, xung kích đến

những vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, gian khổ để xây dựng khu kinh tế -

quốc phòng, công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước. Thực hiện chức năng

là đội quân công tác, cán bộ, chiến sĩ quân đội ta luôn đồng cam, cộng khổ cùng

nhân dân, tích cực vận động và giúp dân xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng

cuộc sống, tham gia xây dựng hệ thống chính trị, đời sống văn hóa ở cơ sở, giữ

vững ổn định chính trị - xã hội; luôn xung kích, đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ

“chiến đấu trong thời bình”, giúp nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên

tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, xả thân trong hiểm nguy để cứu tính mạng và tài sản của

nhân dân, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đồng thời, quân đội ta cũng là

lực lượng tiên phong đấu tranh với chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực

thù địch, ra sức bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an

toàn xã hội và môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Càng trong

những khó khăn, thử thách, bước ngoặt của cách mạng, bản chất của quân đội ta

càng thể hiện rõ nét; bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân là mệnh lệnh

từ trái tim của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Mỗi khi Tổ quốc bị lâm nguy, trước sự chống

phá điên cuồng của các thế lực thù địch đối với Đảng, chế độ thì bản lĩnh, lòng

trung thành, ý chí, quyết tâm chiến đấu của quân đội ta lại trỗi dậy, với tinh thần

còn Đảng là còn mình, bảo vệ Đảng là bảo vệ một lý tưởng cao đẹp của thời đại -

độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, đồng thời

cũng là nền tảng tư tưởng chỉ đạo mọi hoạt động trong quân đội, đảm bảo cho công

tác quân sự, quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc luôn đi đúng hướng,

sát yêu cầu nhiệm vụ, thực sự trở thành công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Tổ

quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó

khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Do đó, đấu tranh bảo vệ nền

tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội được xác định là nhiệm vụ chính trị trọng

yếu hiện nay, nhằm phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, “phi chính trị hóa”

Quân đội, làm cho nền tảng tư tưởng của Đảng luôn hiện hữu trong môi trường

quân đội; cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ

nghĩa, xác định tốt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, không bị tác động bởi sự chống

phá của các thế lực thù địch, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc và chủ

nghĩa xã hội. Đấu tranh làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch

hòng “phi chính trị hóa” quân đội là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân;

trong đó, cần chú trọng một số giải pháp sau đây:


Trước hết, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng, đảm bảo cho việc đấu

tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội đạt mục đích, yêu cầu đề

ra theo Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 Bộ Chính trị (khóa XII) “Về

tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm

sai trái, thù địch trong tình hình mới”; tuyệt đối trung thành, kiên định và giữ vững

nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam tuyệt

đối, trực tiếp về mọi mặt. Tuân thủ những chỉ dẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội cách mạng; tích cực đẩy mạnh công tác

giáo dục lý luận chính trị nhằm tăng cường bản chất giai cấp công nhân trong quân

đội, tăng “sức đề kháng” của quân đội trước các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trên

mặt trận chính trị tư tưởng.

Thứ hai, không ngừng hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội cho phù

hợp với tình hình, nhiệm vụ mới, kiện toàn hệ thống và nâng cao chất lượng tổ

chức đảng trong quân đội; xây dựng quân đội ta thực sự trung thành, tin cậy về

chính trị, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, làm nòng cốt trong

nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, tích cực đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, vạch trần các âm mưu, thủ

đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm vào Việt Nam, phản bác sự phi lý

của luận điểm “phi chính trị hóa” quân đội bằng các luận cứ, luận chứng, luận

điểm khoa học và thuyết phục.

Thứ tư, chủ động đấu tranh với các đối tượng tàn dư của chế độ cũ, những

đối tượng suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước; ngăn

chặn, bóc gỡ các đường dây liên kết của các đối tượng phản động trong nước với

thế lực thù địch bên ngoài; sử dụng các biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn những

luồng thông tin xấu độc lan truyền trong đời sống xã hội.

Thứ năm, cần có chính sách nâng cao chất lượng cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, bảo đảm thu nhập xứng đáng với loại hình lao động đặc biệt để cán bộ, chiến sĩ trong quân đội yên tâm công tác và chiến đấu.

Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là nguyên tắc cơ bản, là vấn đề có tính quy luật, là nhân tố quyết định sự ra đời, trưởng thành, chiến thắng của quân đội ta. Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng âm mưu tách sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Thực tiễn đó đòi hỏi phải quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả chủ trương của Nghị quyết Đại hội XIII về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong tình hình mới./.

Bốc thăm giành suất vào trường mầm non công lập

 Theo kế hoạch của UBND quận Hoàng Mai, trong 2 ngày 27-28/8/2022, phụ

huynh tại phường Hoàng Liệt (quận Hoàng Mai, Hà Nội) phải bốc thăm để giành

suất vào trường mầm non công lập năm học này cho con. Quy trình bốc thăm gồm

2 vòng, vòng 1 mỗi đợt gồm 5 phụ huynh xếp hàng bốc thăm lấy số thứ tự. Ở vòng

2, phụ huynh sẽ dùng số thứ tự này để bốc thăm phiếu tuyển sinh. Trên các phiếu

đều có đóng dấu của Trường mầm non Hoàng Liệt. Phiếu trúng tuyển sẽ ghi “Chúc

mừng bé đã trúng tuyển vào trường”, ngược lại phiếu không trúng tuyển sẽ ghi

“Rất tiếc bé không trúng tuyển vào trường”. Trong tổng số 176 phiếu bốc thăm, sẽ

chỉ có 80 phiếu trúng tuyển, còn lại 96 phiếu không trúng tuyển. Trước tình cảnh

trên, có vị phụ huynh bày tỏ: "Đầu đời của các cháu đã phải chịu cảnh đi học như

quay số thế này. Muốn vào trường công cũng phải may rủi, chứ không có sự lựa

chọn", "Với những gia đình không có điều kiện, còn khó khăn mà không bốc vào

phiếu trúng tuyển thì rất bất cập. Giả sử không đủ khả năng cho con theo học

trường tư thì đành cho con ở nhà hay sao? Ở quê đi học thì dễ chứ ở Hà Nội quá

trầy trật".

Tình trạng bất cập nêu trên đã diễn ra nhiều năm trước đây, ai cũng có thể

nhìn thấy trường học chưa được đầu tư tương xứng với tốc độ đô thị hoá. Trong

khi đó, chung cư mỗi ngày một phình ra, từ đó tạo ra những quá tải trong đô thị,

dẫn đến thực trạng phụ huynh phải bốc thăm vào trường công lập ngay ở cấp mầm

non như vậy. Câu chuyện khá là rõ ràng: Số lượng trẻ trong độ tuổi mầm non là

khoảng 2.000 trẻ, trong khi cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên quá thiếu, "chỉ có

thể đáp ứng nhu cầu học tập cho gần 20% số trẻ, hơn 80% còn lại sẽ phải theo học

tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập" - theo bà Trương Thu Hà, Phó Trưởng

phòng giáo dục Quận Hoàng Mai. Và thế là, vạn bất đắc dĩ, phương án bốc thăm

được đưa ra. Một phương án thoạt nhìn có vẻ công bằng, để loại trừ những ngoại

lệ, quan hệ. Nhưng ngẫm lại, đó là một sự thiếu công bằng khi những đứa trẻ, trong

lần đầu tiên đi học, được tựu trường theo kiểu may rủi, sấp ngửa. Một hậu quả của

quá tải dân số. Hồi từ xã lên phường, Hoàng Liệt gần như thuần nông với chỉ

khoảng 4.500 hộ, 14.000 dân. Nhưng tới năm 2015, tức là chỉ sau 5 năm đô thị

hoá, dân số Hoàng Liệt tăng đột biến với khoảng 32.000 người, tăng gần 2,5 lần.

Bây giờ, Hoàng Liệt trở thành phường đông dân nhất Thủ đô với 8,5 vạn dân, với

một mật độ khủng khiếp: 17.382 người/km2. Chung cư mọc lên san sát, dân số

tăng khủng khiếp, trong khi diện tích tự nhiên vẫn chỉ 4,89 km 2 . Với 2.000 công

dân mới chào đời mỗi năm, trong khi cả phường chỉ có 3 trường tiểu học, 2 trường


trung học cơ sở và 1 trường mầm non Hoàng Liệt - đã phải “cơi nới” tới 4 cơ sở

Linh Đàm, Pháp Vân, Tứ Kỳ, Bằng A. Mỗi cơ sở này có quy mô tương đương với

1 trường mầm non lớn nhưng vẫn luôn trong tình trạng quá tải.

Để khắc phục tình trạng này, TP. Hà Nội cần đẩy mạnh thực hiện quy hoạch

hạ tầng, cụ thể ở đây là phát triển hạ tầng giáo dục để bắt kịp với tốc độ tăng dân

số. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần bổ sung Quy chế tuyển sinh mầm non công lập, để

sớm điều chỉnh tình trạng bốc thăm đầy may rủi giành suất cho con vào trường

mầm non công lập như đã diễn ra tại phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, TP. Hà

Nội vừa qua. Cần phải có định hướng bảo đảm công bằng xã hội trong những việc

liên quan đến giải quyết quyền lợi của dân trên cơ sở nghiên cứu xây dựng hệ

thống tiêu chuẩn, tiêu chí minh bạch, bàn bạc dân chủ, xét duyệt công khai, không

thể dễ dãi phó mặc cho bốc thăm may rủi./.

ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN.

 Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân

Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm

xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều

kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, thời gian gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra

những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy,

nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là

nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay.

Âm mưu thâm độc

Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp

công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong

đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc

phòng tư sản.

Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực

thù địch, phản động nước ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận

đường lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi dưỡng, ủng

hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước.

Thứ hai là các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số

ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền

xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn,

cơ hội chính trị trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng.

Thứ ba là đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều

nào xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống

Đảng và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD.

Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh,

màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa vị trí,

vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng đã viện dẫn 

Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng

chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn

luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”.

Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong quan hệ quốc tế theo Văn kiện

Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp,

cho nên không cần khẳng định vị trí của QPTD nữa (!)

Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng

nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực

khác, chúng “khuyên” Việt Nam từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt

Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn

thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi

ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo

tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp

xây dựng nền QPTD, tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng

yếu này.

Tác hại khôn lường

Phương thức, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD luôn

được thể hiện tinh vi, thâm hiểm với nhiều chiêu thức. Chúng vừa vu khống, bóp

méo, cắt xén sự thật và nhận thức về đường lối QPTD; vừa so sánh, đối lập cực đoan

giữa đường lối QPTD của Việt Nam với các nước khác theo chiều hướng khen, chê

khác nhau, nhưng tất cả đều đi đến mục đích xuyên tạc, phủ nhận bản chất đường lối

đó.

Về phương tiện, rất nhiều nhóm, tổ chức, diễn đàn khác ở nước ngoài triệt để lợi dụng

các phương tiện thông tin hiện đại, internet và hệ thống mạng xã hội để chống phá.

Điển hình là các đài phát thanh của người Việt như: Sài Gòn Radio, Việt Nam

Califonia, Diễn đàn dân chủ, Việt Nam tự do (ở Mỹ); các báo, tạp chí: Hồn Việt, Quê

mẹ, Công luận (ở Pháp); Độc lập, Dân chủ và phát triển, Cánh én (ở Đức); các trang

mạng điện tử và các tài khoản mạng xã hội như: Việt Tân, Đàn chim Việt, Dân chủ

Việt Nam, Dân làm báo, Quan làm báo...

Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD đã để lại những hậu quả khôn

lường. Đó là sự lệch lạc, suy giảm nhận thức, phai nhạt niềm tin chính trị và lung lạc

ý chí của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng; ảnh


hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng

và thế trận QPTD. Không những vậy, sự xuyên tạc đó còn làm rạn nứt sự thống nhất,

đồng thuận trong Đảng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tăng cường sức mạnh niềm tin về đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ chính nghĩa

Rõ ràng, sự xuyên tạc nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã cố tình lờ đi

một sự thật: Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là “hòa bình và tự vệ”, là thể hiện

sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng của những quốc gia có độc

lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam

xây dựng nền QPTD vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ

vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ

nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc

phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh

nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Chính vì đó, chúng ta cần xác định cuộc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ

nhận đường lối QPTD của Đảng ta hiện nay phải gắn chặt với thực hiện Nghị quyết số

35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của

Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; đồng

thời gắn với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh

vực tư tưởng, chính trị.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của

các thế lực thù địch, chúng ta cần chú trọng thực hiện một số giải pháp chủ yếu.

Trước hết cần quan tâm nghiên cứu, làm rõ bản chất khoa học và cách mạng của

đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Đó là đường lối, chính sách

quốc phòng tự vệ, chính nghĩa, trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ

quyền lãnh thổ và khát vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân

dân Việt Nam.

Hai là, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho toàn

dân; giữ gìn, phát huy các chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ và bản chất, truyền

thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; chủ động, tăng cường thông tin sâu

rộng với bạn bè quốc tế về mục đích, bản chất đường lối, chính sách QPTD hòa bình,

tự vệ chính nghĩa của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ba là, tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản khoa học, phản động của các

luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; kết hợp giữa “xây” và “chống”,

“xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên.


Bốn là, tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết

toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường sức mạnh

niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây chính là thành trì, nền tảng chắc

chắn nhất để chúng ta chung sức đồng lòng góp phần hiện thực hóa di nguyện cao cả

của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc

lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế

giới”.

Trung tướng, PGS, TS NGUYỄN VĂN BẠO

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Thời gian gần đây, nhiều cá nhân lợi dụng mạng xã hội có phát ngôn dưới nhiều dạng

như bài viết, bài nói hoặc livestream để thể hiện những ý kiến, quan điểm trái chiều

nhưng đã đi quá giới hạn cho phép, xâm phạm đến lợi của cá nhân, tập thể.


Ở tỉnh Ninh Bình, lực lượng chức năng cũng đã điều tra, xác định trong thời gian từ

19/9/2019 đến 04/01/2021, Trần Quốc Khánh sinh năm 1960, quê quán ở xã Lưu

Phương, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đã sử dụng tài khoản Facebook "Trần Quốc

Khánh" và trang Fanpage "Tiếng Nói Công Dân" của mình, để phát trực tiếp 22 video

có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; xuyên tạc, bịa đặt, quy chụp

chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bịa đặt, nói xấu,

bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu

cách mạng; kêu gọi đa nguyên, đa đảng.

Hành vi của Trần Quốc Khánh đã bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh truy tố về tội "Tuyên

truyền thông tin nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam". Căn cứ vào các quy

định của Bộ luật Hình sự, Tòa án nhân dân tỉnh tuyên phạt bị cáo Trần Quốc Khánh 6

năm 6 tháng tù; ngoài ra, bị cáo phải chịu quản chế 2 năm tại nơi đăng ký hộ khẩu

thường trú, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

co-quan-cong-an-lam-viec-voi-tran-quoc-khanhCơ quan Công an làm việc với Trần

Quốc Khánh

Qua 1 số vụ việc cho thấy, do không nhận thức rõ hoặc lợi dụng quyền tự do ngôn luận,

các thế lực thù địch phản động đã và đang lợi dụng tự do ngôn luận để xuyên tạc,

chống phá Đảng và Nhà nước ta, bôi nhọ, nói xấu chính quyền, gây kích động, hoang

mang trong nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tất cả mọi hành vi vi

phạm đều sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Tự do ngôn luận là quyền con người cơ bản, nhưng luôn phải có giới hạn trong khuôn

khổ của pháp luật. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của

Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khẳng định: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có

thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi

pháp luật”.

Khung pháp lý của nước ta về quyền tự do ngôn luận cơ bản đầy đủ, đồng bộ, tương

thích với luật pháp quốc tế về quyền con người. Cũng giống như các quốc gia khác

trên thế giới, Việt Nam có những quy định để hạn chế và ngăn chặn những hành vi lợi

dụng tự do ngôn luận, xâm hại tới lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ

chức, công dân.

Với sự phát triển của công nghệ thông tin, internet và mạng xã hội đã trở thành công cụ

thể hiện quyền tự do ngôn luận của đông đảo người dân, điều này đặt ra nhiều vấn đề

về xã hội và pháp lý, trong đó có việc quản lý thông tin trên không gian mạng hiện

nay.

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG ĐÁNH GIÁ SAI LỆCH VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN TẠI VIỆT NAM

 Vừa qua, cơ quan nghiên cứu của Nghị viện châu Âu công bố bản báo cáo về các hoạt

động hỗ trợ những nhà hoạt động nhân quyền trên toàn thế giới; trong đó có những

thông tin, nhận định thiếu khách quan, công bằng, dựa trên một số thông tin sai lệch,

không có cơ sở, không phản ánh đúng thực tế về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Theo nội dung của bản báo cáo, Nghị viện châu Âu cho rằng, họ đã gặp nhiều giới hạn

trong việc bảo vệ những nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam; cáo buộc Việt Nam

“vi phạm dân chủ, nhân quyền”, “đàn áp, bỏ tù người vô tội”; thậm chí, cho rằng Việt

Nam là “chế độ đàn áp”. Trong khi đó, danh sách những “nạn nhân của chế độ” được

liệt kê trong báo cáo này lại là những đối tượng chống phá cộm cán như: Nguyễn Văn

Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Tiến Trung hay gần đây nhất là Phạm Đoan

Trang. Đây không phải là lần đầu Nghị viện châu Âu đưa ra những đánh giá, nhận

định sai lệch, thiếu khách quan, thiếu thiện chí về tình hình nhân quyền tại Việt Nam.

Có thể khẳng định, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là chính sách nhất quán của Nhà

nước Việt Nam. Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, là động lực của quá trình

đổi mới và công cuộc phát triển đất nước, và luôn nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời

sống, quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau. Các quyền và tự

do cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam, được bảo vệ và

thúc đẩy bởi các văn bản pháp luật cụ thể và được triển khai trong thực tiễn. Ở Việt

Nam, tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy

định của pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật, bởi bất cứ ai và vì bất cứ lý do gì,

đều phải bị xét xử nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm sự thụ

hưởng đầy đủ các quyền và tự do của mỗi người dân trong một xã hội an toàn, trật tự

và công bằng. Không ai bị bắt giữ, xét xử vì thực hiện các quyền con người một cách

chính đáng.


Đối với trường hợp như Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn Tiến

Trung hay Phạm Đoan Trang được nhắc đến trong báo cáo của Nghị viện Châu Âu là

“tù nhân chính trị” thực chất là những đối tượng núp bóng dân chủ, nhân quyền,

thường xuyên có các hoạt động chống phá, kích động bạo lực, lôi kéo, tập trung các

đối tượng xấu để gây rối trật tự công cộng nhằm mục đích phá vỡ sự ổn định chính trị

của đất nước, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là những hành vi vi phạm pháp

luật, cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để bảo vệ an ninh quốc

gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, hoàn toàn không phải hành động “đàn áp người đấu

tranh” như một số nhận định chủ quan, phiến diện, một chiều, mang tính bao biện cho

các sai phạm của những phần tử chống đối.

Nhân quyền là một lĩnh vực rộng, liên quan trực tiếp đến đời sống của con người, là tổng

hợp của các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Trong đó, những quyền

cơ bản, thiết yếu, thực tế nhất là quyền được sống, quyền được bình đẳng, quyền được

phát triển trong một xã hội an toàn, quyền được học tập, quyền được lao động…

Những năm qua, dù là đất nước đang phát triển, đời sống kinh tế – xã hội còn gặp

nhiều khó khăn nhưng Việt Nam luôn nỗ lực và đã đạt được những kết quả tích cực

trong bảo vệ quyền con người, điển hình: Theo Báo cáo kinh tế – xã hội tại Đại hội

đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều

của cả nước đã giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống dưới 3% vào năm 2020; đã hoàn

thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; tại Việt Nam không có

khủng bố, người dân được sinh sống và lao động trong môi trường an ninh, an toàn,

ổn định… Theo Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2022 của Liên hợp quốc, chỉ số

hạnh phúc quốc gia của Việt Nam xếp vị trí 77 (tăng 2 bậc so với năm 2021).

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn sẵn sàng trao đổi, đối thoại cởi mở với các cơ quan, tổ

chức quốc tế về quyền con người trên tinh thần xây dựng nhằm tăng cường hiểu biết

lẫn nhau; để các cơ quan, tổ chức quốc tế có những nhận định, đánh giá thực tiễn tình

hình nhân quyền trong nước trên cơ sở công bằng, minh bạch, khách quan. Mặt khác,

Việt Nam không bao giờ chấp nhận và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu, đánh

giá chủ quan, phiến diện, thiếu thiện chí, không có cơ sở, không phản ánh đúng tình

hình thực tế tại Việt Nam./.

Lương Trang

CẦN LÊN ÁN NHỮNG ĐÁNH GIÁ SAI LỆCH VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI Ở VIỆT NAM

 Ngày 20/7/2022, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố Báo cáo về tình hình mua bán người

trên thế giới năm 2022. Đây là báo cáo hằng năm theo Đạo luật Bảo vệ nạn nhân bị

mua bán của Hoa Kỳ năm 2000 do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trình lên Quốc hội nước

này, trong đó nhận xét công tác phòng, chống mua bán người của 188 quốc gia trên

thế giới nhằm kêu gọi Chính phủ các nước thực hiện nghiêm túc Công ước của Liên

hợp quốc về phòng, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.

Đáng chú ý, sau 03 năm liên tiếp (từ năm 2019 đến năm 2021) xếp Việt Nam vào Nhóm

2 cần theo dõi, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lần đầu tiên đã hạ bậc Việt Nam xuống Nhóm

3 – các quốc gia trong danh sách này sẽ phải chịu một số chế tài nhất định từ chính

quyền Mỹ. Đây có thể xem là những nhận xét không khách quan, “thông tin không

xác thực, không phản ánh đầy đủ, chính xác về tình hình và nỗ lực phòng, chống mua

bán người của Việt Nam” (theo phát biểu của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt

Nam Lê Thị Thu Hằng).

Ở nước ta, Ban Chỉ đạo 138/CP, Bộ Công an và các bộ, ban, ngành, các địa phương luôn

quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai quyết liệt công tác phòng, chống mua bán

người. Với vai trò thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo 138/CP, Bộ Công an đã tham

mưu triển khai các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống mua bán người theo chỉ đạo của

Thủ tướng Chính phủ; tham mưu Ban Chỉ đạo 138/CP đánh giá tình hình, kết quả


thực hiện Chương trình phòng, chống mua bán người năm 2021 và ban hành Kế

hoạch thực hiện công tác phòng chống mua bán người năm 2022; ban hành Kế hoạch

xây dựng hệ thống tiêu chí, biểu mẫu thống kê phòng, chống mua bán người; hướng

dẫn, đôn đốc các bộ, ngành, đoàn thể và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương triển khai các hoạt động hưởng ứng “Ngày thế giới phòng, chống mua bán

người”, “Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người”. Chỉ đạo Công an các đơn vị,

địa phương tăng cường đấu tranh phòng, chống mua bán người trong nội địa; phối

hợp hoàn thiện Quy chế phối hợp giữa Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ

Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao về phối hợp liên ngành trong công tác tiếp

nhận, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bị mua bán; triển khai đợt cao điểm tấn công, trấn áp

tội phạm mua bán người trên phạm vi toàn quốc…

Các Bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương đã phối hợp chặt chẽ và ban hành các

chương trình, kế hoạch cụ thể để quán triệt thực hiện công tác phòng chống tội phạm,

phòng chống mua bán người một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tích cực

hợp tác quốc tế về phòng, chống mua bán người, phát huy vai trò của cơ quan đại diện

ở nước ngoài trong việc nắm tình hình, kịp thời phát hiện và giải cứu nạn nhân, bảo vệ

quyền lợi hợp pháp, hồi hương công dân Việt Nam là nạn nhân bị mua bán trở về

nước. Các điều ước quốc tế, hiệp định song phương, đa phương, các thỏa thuận hợp

tác về phòng, chống mua bán người mà Việt Nam là thành viên được triển khai thực

hiện có hiệu quả.

Về công tác thực thi pháp luật, các lực lượng chức năng, nòng cốt là lực lượng Công an

phối hợp với Bộ đội biên phòng đã tập trung nắm chắc tình hình, xây dựng và phối

hợp triển khai hiệu quả các kế hoạch nghiệp vụ, điều tra theo tuyến, địa bàn trọng

điểm, kiểm soát và quản lý chặt chẽ hoạt động xuất, nhập cảnh qua biên giới; tổ chức

triển khai thực hiện cao điểm tấn công trấn áp tội phạm mua bán người trên phạm vi

toàn quốc. Theo số liệu của Bộ Công an, 6 tháng đầu năm 2022, đã phát hiện, điều tra

33 vụ, 75 đối tượng phạm tội mua bán người. Số nạn nhân được tiếp nhận, xác minh,

giải cứu, hỗ trợ là 66 nạn nhân. Đây là những con số “biết nói” minh chứng những nỗ

lực không biết mệt mỏi của Việt Nam trong phòng, chống nạn mua bán người.

Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, để tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống

tội phạm mua bán người, Giám đốc Công an tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị Công an trong

tỉnh chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan

chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về

phòng, chống mua bán người; thông báo rộng rãi phương thức, thủ đoạn hoạt động

của tội phạm để nâng cao nhận thức của nhân dân. Đồng thời, tăng cường lực lượng,

nắm chắc tình hình địa bàn, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an ninh

trật tự; khai thác hiệu quả hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ công tác

phòng, chống tội phạm mua bán người; tổ chức rà soát, xác định tuyến, địa bàn, đối

tượng trọng điểm, các đường dây, băng nhóm có biểu hiện hoạt động phạm tội mua 

bán người để phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm theo quy định của pháp

luật.

Có thể khẳng định, công tác phòng, chống tội phạm mua bán người ở nước ta luôn được

cấp ủy, chính quyền các cấp, các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội quan tâm chỉ

đạo sát sao, đạt kết quả tích cực. Những đánh giá về tình hình phòng, chống mua bán

người ở Việt Nam trong Báo cáo tình hình buôn người năm 2022 của Bộ Ngoại giao

Hoa Kỳ thiếu khách quan, phiến diện, không dựa trên những thông tin xác thực, gây

ra những hiểu lầm đáng tiếc và tạo cớ để các thế lực thù địch suy diễn, xuyên tạc về

công cuộc phòng, chống tội phạm mua bán người ở Việt Nam nói riêng, công tác đảm

bảo quyền con người nói chung./.

Lương Trang

ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 VÀ QUỐC KHÁNH 2-9

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đi vào lịch sử dân tộc như một bản

anh hùng ca vĩ đại, mở ra một thời kỳ lịch sử mới của dân tộc Việt Nam. Song, hàng

năm, vào dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9, đi

ngược lại với niềm tự hào của toàn dân tộc, các thế lực thù địch, phản động lại tăng

cường các hoạt động chống phá cách mạng nước ta. Lợi dụng các trang mạng xã hội,

chúng đăng tải các bài viết, hình ảnh với những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, bóp

méo sự thật về giá trị và ý nghĩa thời đại của sự kiện lịch sử này, tạo nên góc nhìn

phiến diện, quan điểm sai lệch về những thành quả cách mạng của dân tộc ta dưới sự

lãnh đạo của Đảng và bác bỏ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; xem nhẹ

giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và Quốc

khánh 2-9.

Lịch sử của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã chứng minh, để Cách mạng Tháng

Tám giành thắng lợi trong mùa thu lịch sử năm 1945, bằng nghệ thuật lãnh đạo sáng

suốt, tài tình, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo, chèo lái con thuyền cách

mạng trải qua quãng thời gian 15 năm gian khổ với 03 cao trào cách mạng vô cùng

cam go, khốc liệt, đó là: Cao trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao là phong trào

Xô Viết Nghệ Tĩnh; Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 – 1939) và Cao

trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 – 1945). Ngay từ năm 1939, Đảng ta đã

chuẩn bị cả về đường lối, căn cứ địa và lực lượng cách mạng để tiến tới khởi nghĩa

giành chính quyền khi thời cơ đến.

Hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8/1945 đã tạo ra “thời cơ vàng” để dân tộc Việt Nam

đứng lên thực hiện một cuộc cách mạng giành độc lập, tự do. Đó là thời điểm mà

quân Nhật đã thất bại và tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15/8/1945. Trong

thời khắc quyết định của lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi Tổng

khởi nghĩa:“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy

đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta…” Người nhấn mạnh: “Đây là một thời

cơ quý và hiếm, nếu bỏ qua thì không bao giờ có nữa”, “Dù có phải đốt cháy cả dãy

Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập dân tộc”.

Có thể khẳng định, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của

Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là thành quả của sự đoàn kết, nỗ lực vượt qua

mọi khó khăn, thử thách, không quản ngại hi sinh, mất mát của toàn dân tộc Việt Nam

dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là kết

quả của sự chuẩn bị kĩ lưỡng, chính xác về chủ trương, đường lối; về xây dựng lực

lượng chính trị, xây dựng lực lượng vũ trang; về xây dựng căn cứ địa cách mạng; về

xác định, lựa chọn thời cơ khởi nghĩa. Đó là kết tinh sức mạnh đại đoàn kết của toàn


dân tộc, là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc lâu dài, đầy

hy sinh, gian khổ của nhân dân ta.

Đã 77 năm trôi qua nhưng tầm vóc, ý nghĩa cùng những bài học kinh nghiệm quý báu

của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục tỏa sáng

trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Đó là cuộc hồi sinh vĩ đại của dân tộc, mở

ra một thời kỳ phát triển rực rỡ của đất nước với những chiến công oanh liệt như

chiến thắng Điện Biên Phủ, đại thắng mùa xuân năm 1975, với những thành tựu có

tính lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước, tạo dựng nên “cơ

đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín” chưa bao giờ có của Tổ quốc Việt Nam hôm nay.

Những thành tựu to lớn trên chính là minh chứng sinh động nhất, thuyết phục nhất để

bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám

và Quốc khánh 2-9. Tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc, mỗi chúng ta cần kiên

quyết đấu tranh, phê phán, phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc sự thật lịch sử,

phủ nhận thành quả cách mạng của các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, cơ

hội chính trị với những âm mưu, ý đồ thâm độc hòng chống phá Đảng, Nhà nước,

chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc./.

Lương Trang