Là một quốc gia đa tôn giáo, nhưng ở Việt Nam không có tôn giáo
nào giữ vị trí độc tôn trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Qua mỗi giai đoạn
lịch sử, các tôn giáo có vị trí và vai trò khác nhau trong đời sống xã hội,
song dù bất kỳ tôn giáo nào được giữ vai trò là hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội,
được nhà nước thế tục trọng dụng trong những giai đoạn lịch sử nhất định, nó vẫn
không có sự đối đầu với các tôn giáo khác, ở Việt Nam chưa từng xảy ra chiến tranh
tôn giáo. Trong lịch sử dân tộc đã từng có lúc, có nơi cũng có những xung đột
nhất định giữa các tôn giáo, nhưng nhìn chung, các tôn giáo ở Việt Nam đều có
sự đồng thuận cùng tồn tại hòa bình. Thậm chí, các tôn giáo còn tồn tại đan
xen, hòa đồng lẫn nhau tạo nên một phức thể tôn giáo mang màu sắc rất Việt Nam,
đó là hiện tượng “Tam giáo đồng nguyên” trong lịch sử, là sự ra đời của đạo Cao
Đài - điển hình của một thứ hỗn dung tôn giáo.
Tính đan xen, hòa đồng của tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện rõ
nét trên một số phương diện cơ bản như sau:
Thứ nhất, nhiều hình thức tôn giáo, tín ngưỡng khác
nhau cùng tồn tại hòa bình. Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, ở những giai
đoạn nhất định, bên cạnh những tôn giáo lớn, chủ lưu luôn tồn tại những loại
hình tôn giáo khác và hệ thống tín ngưỡng dân gian bản địa. Thậm chí bản thân
các tôn giáo lớn, giữ vai trò gần như là chủ đạo của xã hội trong những thời kỳ
lịch sử nhất định thì ngay ưong nó đã cỏ sự dung hòa với giá trị của các tôn
giáo, tín ngưỡng khác.
Thứ hai, tính hòa đồng, đan xen, dung hợp của các
hệ tư tưởng và tôn giáo khác nhau ở Việt Nam thể hiện ngay trong điện thờ của
các loại hình tôn giáo. Trong chùa thờ Phật, bên cạnh các vị Phật thì các vị
Thánh, Tiên của Nho giáo và Lão giáo, các vị thần của tín ngưỡng dân gian Việt
Nam như Thần công, Thổ địa, Thành hoàng, các Mau... cũng có vị trí nhất định.
Trong Thánh thất của đạo Cao Đài có sự hội tụ cả các giá trị văn minh phương
Tây và văn minh phương Đông. Với Công giáo, một tôn giáo độc thần suốt hàng
chục thế kỷ rất cứng rắn trong quan niệm chỉ có Chúa của mình là duy nhất, sau
một thòi gian dài tồn tại ở Việt Nam, Giáo hội tôn giáo này đã cho phép tín đồ
được kính nhớ tổ tiên, được lập bàn thờ tổ tiên dưới bàn thờ Chúa,...
Thứ ba, đối với người Việt Nam, rất khó xác định
tiêu chuẩn tôn giáo cụ thể. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Người dân An Nam
không có lỉnh mục, không có tôn giáo, theo cách nghĩ của người châu Âu”[1].
Thật vậy, trong tâm thức của đa phần người dân Việt Nam không có
chỗ cho riêng một vị thần, thánh, Chúa, Phật nào. Với đa số người dân Việt Nam,
họ sẵn sàng chấp nhận thờ cúng cùng một lúc nhiều vị thánh, thần, tiên, Phật
khác nhau bên cạnh việc thờ cúng tổ tiên - tín ngưỡng chủ đạo trong đòi sống
tâm linh của người dân Việt. Vì vậy, có người vừa là tín đồ của tôn giáo này
lại đồng thời thực hành những hành vi của một tôn giáo khác. Nhiều nhà nghiên
cứu cho rằng, người Việt Nam tắm mình trong tâm thức tôn giáo nhưng lại khó có
thể tìm thấy trong họ một niềm tin rõ rệt.
Thứ tư, trong giới tu hành, chức sắc của một số
tôn giáo ở Việt Nam có nhiều người thông thạo giáo lý, am hiểu triết thuyết của
các tôn giáo khác. Thậm chí, một số nhà tu hành tôn giáo còn thực hiện cả hành
vi của các tôn giáo, tín ngưỡng khác. Một nhà sư, một ông đạo có thể xem tưóng,
bói quẻ, làm thày địa lý...; một nhà tu hành của đạo Cao Đài có thể rất am hiểu
giáo lý đạo Phật...
Thứ năm, tín đồ của các tôn giáo khác nhau có thể
là người trong cùng một gia đình, một dòng họ, chung sống trong cùng một làng,
một xã,... Vì vậy, trong một làng có thể có nhà thờ của Công giáo bên cạnh ngôi
chùa thờ Phật cùng rất nhiều đình, đền, miếu phủ của hệ thống tín ngưỡng dân
gian.
bài viết rất hấp dẫn
Trả lờiXóa