Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2021

Nhận thức của Đảng ta về nhân quyền trong thời kỳ đổi mới (1986) đến nay


 Quá trình đổi mới tư duy lý luận và thực tiễn phát triển đất nước đã giúp Đảng nhận thức ngày càng rõ hơn về thời đại, về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, Trong đó có vấn đề tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Đại hội VI của Đảng vì nhiều lý do cả chủ quan và khách quan, trong văn kiện Đại hội chưa đề cập khái niệm quyền con người, nhưng quan điểm xuyên suốt là: “Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân mà hiến pháp đã quy định”  và “…đảm bảo quyền dân chủ thật sự của nhân dân lao động, đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ vi phạm quyền làm chủ của nhân dân”

Đại hội VII của Đảng (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, làn đầu tiên khái niệm quyền con người chính thức được ghi nhận trong cương lĩnh, Đó là: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người”.

Năm 1992, Xuất phát từ tình hình trong nước và thế giới có nhiều diễn biến mới, Ban Bí thư Trưng ương Đảng ban hành Chỉ thị số 12- CT/TW ngày 12/7/1992 về Vấn đề quyền con người và quan điểm chủ trương của Đảng ta

Đại hội VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh “Ban hành các đạo luật cần thiết để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ưu tiên xây dựng các luật về kinh tế, về các quyền công dân (…) nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, ban hành các văn bản luật với những quy định cụ thể, dễ hiểu, dễ thực hiện”

Đại hội IX của Đảng (2010 nêu rõ: “ Chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.

Đại họi X của Đảng (2006) tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu: “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân là yêu cầu bức thiết của xã hội; Nhà nước phải thể chế hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả quyenf công dân, quyền con người”. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và giải quyết các vấn dề, quan ddiemr khác nhau về quyền con người, Đảng chủ trương: “Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người. Sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan đến vấn đề nhân quyền. Kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh và ổn định chính trị của Việt Nam.

Đại hội XI của Đảng (2011) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH (Bổ sung phát triển năm 2010 trong đó nhiều quan điểm về tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân đã được tổng kết và rút ra như: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”

Đại hội XII của Đảng (2016) cùng với việc đưa nội dung quyền con người vào tất cả các văn kiện đại hội, đã nhấn mạnh nhiệm vụ tiếp tục: “Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 (…) hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”

- Quyền con người được bảo đảm trên thực tế. Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Phát triển toàn diện con người Việt Nam đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển KT-XH. Việc phê phán, đấu tranh đẩy lùi cái xấu, cái ác, cái lạc hậu, chống các quan điểm, hành vi sai trái gây hại đến văn hóa, lối sống con người được trú trọng.

Từng bước hoàn thiện đồng bộ và thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội, chính sách dân tộc tôn giáo; phát triển thị trường lao động, hướng tới xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, tiệm cận các tiêu chuẩn quốc tế. Bảo đảm cơ bản an sinh xã hội, quan tâm nâng cao  phúc lợi xã hội cho người dân; thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách đối với người có công; tiếp tục cải thiện chính sách tiền lương; mở rộng bảo hiểm xã hội; tỷ lệ bảo hiểm y tế đạt trên 90%. Hệ thống y tế tiếp tục được kiện toàn. Quy mô năng lực, chất lượng y tế dự, khám, chữa bệnh, phòng, chống dịch, chăm sóc sức khỏe nhâ có bước phát triển, tiếp cận được nhiều kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, đạt nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong phòng, chống đại dịch COVID-19. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; nhà ở xã hội được quan tâm; đã hoàn thành các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, trong đó có nhiều mục tiêu về giảm nghèo, y tế, giáo dục hoàn thành trước thời hạn, được đánh giá là điểm sáng; đang tích cực triển khai thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, trú trọng quan tâm đến đồng bào dân tộc ít người, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Hiện nay, theo báo cáo của Uỷ ban dân tộc, ở các tỉnh miền núi, mức sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân 3% năm[1],  98,6% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 100% số xã có trạm y tế, trong đó 100% đồng bào DTTS có bảo hiểm y tế; 98% số 95,5% số thôn đã được sử dụng điện lưới quốc gia; 81% số xã có loa truyền thanh; 92% người dân được nghe đài phát thanh. Các xã miền núi được trang bị các thiết bị thông tin khá hiện đại, đời sống văn hóa không ngừng được nâng lên.

Quyền tham gia và quản lý công việc Nhà nước và xã hội được tăng cường, (được thể hiện rõ ở các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm khóa sau chất lượng hơn khóa trước).

Quyền khiếu nại tố cáo được thực hiện chất lượng. Ban hành và hướng dẫn tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, yêu cầu thủ trưởng cơ quan phải công khai chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động; kê khai tài sản của cán bộ phải được niêm yết ở nơi công cộng của cơ quan, đơn vị…

Các quyền tự do dân chủ được thực hiện tốt. Đến nay, Việt Nam đã có hơn 50 cơ quan báo chí với hơn 650 ấn phẩm báo chí các loại, 47 nhà xuất bản, mỗi năm xuất bản hàng vạn đầu sách, in và phát hành trên 600 triệu bản báo.  Trên lĩnh vực kinh tế, quyền con người được bảo đảm, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người, mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng với nhau.

Trên lĩnh vực xã hội, bằng những chính sách xã hội thỏa đáng, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối dưới nhiều hình thức, như: xây nhà chung cư cho những người có mức sống còn thấp, xây hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa cho những người có công với cách mạng, khám chữa bệnh cho người nghèo, giáo dục tiểu học bắt buộc, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc những người yếu thế, rủi ro, thiệt thòi; thực hiện chế độ trợ cấp đầy tính nhân đạo đối với con người: trợ cấp ốm đau thai sản, trợ cấp cho người cao tuổi, trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp...

Trên lĩnh vực văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hiến pháp và các văn bản luật quy định rõ quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Quyền được tiếp cận với văn hóa thông tin; quyền được sáng tạo và  thưởng thức văn hóa, nghệ thuật; quyền được giữ gìn bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc.



[1] Báo cáo của Ủy ban dân tộc  năm 2018. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét