Sự thật là chân lý, là hiện thực khách quan, nó không phụ thuộc vào sự chủ quan, vì vậy nó không thể bị che đậy, bị lấp liếm, bao biện bằng bất cứ thứ luận điệu chủ quan duy lý chí, suy diễn, phi thực tế, phản khoa học nào để thay đổi. Ví dụ như: Thành - Trụ - Hoại - Không; Sinh - Trụ - Dị - Diệt; Vô thường; Vô ngã; Sinh - Lão - Bệnh - Tử, là những quy luật tất yếu khách quan, bất biến của vũ trụ vạn vật, vạn tượng và của kiếp nhân sinh. Không thể có bất cứ một chủ thuyết chủ quan bằng tưởng tri (hiểu biết do tưởng tượng), sở tri kiến (hiểu biết hạn chế bởi năng lực bản thân), bằng nhục nhãn (con mắt thế giới quan, nhân sinh quan bị hạn chế bởi năng lực cá nhân), vô thần hay hữu thần nào mà có thể che đậy, lấp liếm, biện hộ, suy diễn đối với sự thật khách quan.
(1) Đã 48 năm trôi qua kể từ ngày đế quốc Mỹ rút quân khỏi Việt Nam thì cả thế giới đều biết rằng Mỹ đã xâm lược Việt Nam và đã thất bại tủi hổ, cay đắng. Thế nhưng cũng chừng đó năm, chưa bao giờ các chính quyền Mỹ trải qua các đời Tổng thống Mỹ chịu thừa nhận sự thật này, chịu chấp nhận là họ đã thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mỹ luôn cho rằng họ là đồng minh của cái gọi là "chính quyền VNCH", họ đã rút quân khỏi Việt Nam năm 1973 trong danh dự để không phải hy sinh một cách vô ích, để hàn gắn lại sự phân hóa, chia rẽ trong nội bộ nước Mỹ, họ không muốn can thiệp vào chuyện nội bộ của những người Việt Nam nữa.
Cả thế giới đều nghe thấy truyền thông Mỹ tuyên truyền không biết mệt mỏi về thứ luận điệu này trong suốt 48 năm qua, nhưng cả thế giới cũng chẳng có ai tin vào thứ luận điệu phi sự thật này. Tất nhiên, sẽ mãi mãi không bao giờ chính quyền Mỹ từ bỏ luận điệu này.
Cái luận điệu này cũng chẳng khác gì những luận điệu khi họ đã lấy cớ để xâm lược Afghanistan, Iraq và Syria là tiêu diệt chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan, và rồi sau đó họ cũng đã rút quân “chiến lược” trong danh dự ra khỏi các quốc gia này.
Quay trở lại với vấn đề Việt Nam, thật nực cười thay, mặc dù người Mỹ rêu rao rằng họ tham gia vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam là để bảo vệ “đồng minh VNCH”, cũng giống như Pháp đã từng rêu rao trước đó rằng “Quốc gia Việt Nam” cũng là đồng minh của Pháp. Nhưng chính người Mỹ lại nói về cái gọi là đồng minh của họ ở Việt Nam như thế này:
- “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ (chỉ Việt Nam Cộng hòa) thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó. Chúng ta là chủ tọa khi nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định hình tương lai của nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta - chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những nhu cầu của nó.” (John F. Kennedy – Tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ).
- “Nó (Việt Nam Cộng hòa) phải tự chống đỡ thôi... Nếu nó chết thì cứ để cho nó chết. Nó lớn rồi, chúng ta không thể cứ cho nó bú mớm mãi được!” (Richard Nixon - Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ).
Đối với giới chính trị, giới quân sự, các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà sử học cả thế giới đều biết rất rõ “Quốc gia Việt Nam” là sản phẩm tay sai ngụy quyền của thực dân Pháp, “Việt Nam Cộng hòa” là sản phẩm tay sai ngụy quyền của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. Chúng được thực dân Pháp và đế quốc Mỹ lập nên tại Việt Nam nhằm mục đích lấy người Việt trị người Việt, xây dựng thế lực thù địch bản địa để đối lập và tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, đồng thời làm tay sai, nô lệ chính trị cho Pháp và Mỹ.
(2) Đối với giới chính trị, giới quân sự, các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà sử học cả thế giới đều biết rất rõ năm 1974 Mỹ đã bắt tay với Trung Quốc để Trung Quốc cướp mất quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, xa hơn là trước năm 1954 Mỹ đã hậu thuẫn, tiếp viện cho Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của Pháp đối với Việt Nam, còn khi ký kết Hiệp định Genève 1954 thì Mỹ đã từ chối ký vào Hiệp định và tuyên bố: “Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội nghị Genève và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy”, để rồi sau khi dựng ra “chính quyền Ngô Đình Diệm” thì Mỹ đã hậu thuẫn cho chính quyền tay sai (ngụy quyền) này phá vỡ Hiệp định.
(3) Đối với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa vốn đã thuộc về Việt Nam ngay từ triều đại phong kiến nhà Nguyễn, khi ấy trong bản đồ địa lý của triều đại phong kiến nhà Thanh ở Trung Quốc cũng không xuất hiện quần đảo này. Vì vậy, hiển nhiên là khi Việt Nam trở thành một nước độc lập, tự do, có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945 thì chủ quyền quần đảo Hoàng Sa đã thuộc về nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này đã được nhấn mạnh lại lần nữa sau khi HĐ Genève 1954 được ký kết. Ngày 13/7/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố khi trả lời hãng thông tấn AP (Mỹ): “Nhân dân cả nước Việt Nam sẽ đấu tranh mạnh hơn để cho có tổng tuyển cử tự do trong khắp cả nước. Đó là nguyện vọng tha thiết của toàn dân Việt Nam đã được Hiệp định Genève 1954 thừa nhận… Đất nước Việt Nam từ Bắc đến Nam là một khối, cần được thống nhất. Không thể chia cắt Việt Nam làm hai nước riêng biệt, cũng như không thể chia cắt Hoa Kỳ thành hai nước riêng biệt…”, còn trước đó vào ngày 22/7/1954, sau khi ký kết HĐ Genève, Ngoại trưởng của chính phủ Bảo Đại, Trần Văn Đỗ rơi nước mắt, nhưng trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã lên tiếng: “Những ai yêu nước Việt Nam, những ai yêu sự thống nhất Việt Nam thì không cần phải khóc hôm nay. Hãy thực hiện tốt những gì đã ký kết hôm nay, thì 2 năm nữa sẽ có một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, hòa bình và giàu mạnh. Những gì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm trong những năm qua chính là vì mục đích đó. Nước mắt của chúng tôi đổ ra trong cuộc đấu tranh cho sự nghiệp đó nhiều hơn rất nhiều so với những giọt lệ mà quý vị (Quốc gia Việt Nam) nhỏ ra ở đây”.
(4) 46 năm đã trôi qua kể từ khi kết thúc chiến tranh, hoàn toàn thống nhất đất nước thì vẫn tồn tại một bộ phận tàn dư ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn và hậu duệ của chúng ở hải ngoại vẫn không ngừng chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam còn phần lớn những người từng thuộc về chế độ Sài Gòn cũ, kể từ sau ngày 30/4/1975, trước việc thực hiện chủ trương, chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc rất tốt của Đảng và nhà nước ta thì họ đã sớm hòa nhập vào đời sống xã hội chung dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở đất nước ta, dân tộc ta. Những người mà chúng ta cần hòa giải hòa hợp thì đã hòa giải hòa hợp rồi, số ít chống phá một cách cực đoan còn lại ở hải ngoại thì đừng bao giờ hy vọng chúng sẽ thay đổi bởi vì chúng chống cộng được coi là một nghề để chúng kiếm ăn chứ không phải vì bất đồng về tư tưởng, ý thức hệ chính trị. Với bọn này không bao giờ tồn tại cái ý thức hệ vì lợi ích dân tộc ở trong tư tưởng, tư duy và hành động của chúng. Đây là sự thật.
Vì vậy, với tất cả những sự thật trên đây, đừng bao giờ các nhà sử học lại đưa ra những thứ luận điệu cực kỳ viển vông, hoang đường, ảo tưởng, phi thực tế, phản khoa học, vô lương tâm, mất lương tri, băng hoại tư cách đạo đức, suy đồi ý thức chính trị, suy thoái tinh thần dân tộc tự lập, tự cường, tự chủ, độc lập tự do, ví dụ như: “Thừa nhận VNCH để đòi lại chủ quyền quần đảo Hoàng Sa” (PGS.TS sử học Nguyễn Mạnh Hà); “Thừa nhận VNCH để thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa giáo dục, kinh tế với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực hiện” (TS sử học Nguyễn Nhã); “Không gọi ngụy quân, ngụy quyền để tránh miệt thị, để thu phục nhân tâm, để hòa giải, hòa hợp dân tộc” (GS.TS sử học Vũ Minh Giang, PGS.TS sử học Trần Đức Cường), v.v… để che đậy, lấp liếm, bao biện cho tư tưởng, dã tâm mang lịch sử dân tộc ra để đánh đổi, để thỏa hiệp cho một lợi ích chính trị hay kinh tế nào đó với Hoa Kỳ hay với bất cứ quốc gia nào. Đây là một hành động hèn hạ, bán đứng lịch sử dân tộc, chà đạp lên xương máu và phẩm giá của những người chiến sĩ cách mạng Việt Nam, là sự phản bội lại tư tưởng, đạo đức, nhân cách, lý tưởng Hồ Chí Minh, rộng hơn là phản bội lại dân tộc.
Đất nước ta ngày nay, không thiếu gì những thành phần được gọi là GS, PGS, TS khoa học nhưng bằng một cách phản khoa học, phi thực tiễn nào đó mà họ có được những học hàm, học vị ấy, và họ tiến thân bằng con đường cửa hậu, bằng sự lăng xê của truyền thông, bằng sự bao bọc, nâng đỡ của nhóm lợi ích. Ngay từ đầu họ đã sai, đã băng hoại về tư tưởng, đạo đức, nhân cách, sự liêm sỉ khi họ lập thân, lập nghiệp, lập vị trí, lập danh (học hàm, học vị), thì giờ đây họ có bán đứng lịch sử dân tộc nói riêng và lợi ích dân tộc nói chung cũng là điều dễ hiểu. Chỉ có điều, sự thật là chân lý, là hiện thực khách quan, nó không phụ thuộc vào sự chủ quan, do đó nó không thể bị che đậy, bị lấp liếm, bao biện bằng bất cứ thứ luận điệu chủ quan duy lý chí, suy diễn, phi thực tế, phản khoa học nào để thay đổi sự thật./.
Yêu nước ST.
Những kẻ lật sử là những kẻ phản bội Tổ quốc, bán rẻ lương tâm; chúng ta cần phải lên án mạnh mẽ
Trả lờiXóa