Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021

SỨC MẠNH CỦA NIỀM TIN

 

Một trong những bài học xương máu sau chính biến ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là việc giữ được niềm tin và sự ủng hộ của nhân dân đối với Đảng Cộng sản. Vì vậy, giáo dục niềm tin đã trở thành một biện pháp quan trọng nhằm góp phần xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo công cuộc đổi mới trong thời kỳ hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế tri thức.


Sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu để lại cho chúng ta một bài học xương máu: “Mất niềm tin là mất tất cả”. Chính vì mất niềm tin vào sự lãnh đạo của đảng cộng sản và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mà chỉ sau một đêm, toàn bộ thành quả xây dựng chủ nghĩa xã hội đã bị xóa sạch ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Hậu quả của nó thật khủng khiếp: Đảng cộng sản bị giải tán, đất nước rơi vào khủng hoảng mất phương hướng. Nhớ lại tấn bi kịch này, nhiều chính khách và nhiều trí thức lớn ở Nga đã bày tỏ sự thất vọng và họ tự thấy ấy ân hận, mắc tội về sự tan rã của Liên Xô.


Những biến động đổ vỡ trên đây đã ảnh hưởng rất lớn đến bối cảnh chính trị toàn cầu, trong đó có Việt Nam, khiến cho không ít người rơi vào hoang mang, dao động. Tuy nhiên, vượt lên mọi sóng gió, với chủ trương đổi mới đúng đắn, được sự ủng hộ của nhân dân, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Song, những bài học đau đớn của lịch sử vẫn còn nguyên giá trị, nhắc nhở những người cộng sản Việt Nam không được ngủ quên trong chiến thắng. Bên ngoài, các thế lực thù địch chưa hề từ bỏ mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện “diễn biến hòa bình”, kích động lật đổ. Trong nước, một bộ phận không nhỏ đảng viên có biểu hiện suy thoái, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Nhận thức được những nguy cơ làm “chệch hướng”, “đổi màu”, ngay từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VII Đảng ta đã đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó đáng chú ý nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Mục đích quan trọng nhất của chỉnh đốn Đảng là làm trong sạch Đảng, tăng cường sức mạnh của Đảng và lấy lại niềm tin của nhân dân đối với Đảng, coi sự nghiệp cách mạng của Đảng cũng là sự nghiệp cách mạng của nhân dân, thấu triệt nguyên tắc: do dân và vì dân. Từ thực tiễn cách mạng, Đảng ta nhận thức một cách sâu sắc rằng, sự thành bại của sự nghiệp cách mạng luôn luôn gắn liền với niềm tin của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng. Muốn dân tin Đảng, Đảng phải coi lợi ích của nhân dân, của đất nước là mục tiêu phấn đấu của mình.


Niềm tin là một phạm trù triết học và là đối tượng nghiên cứu của thần học. Trong Ki-tô giáo, niềm tin gắn liền với ý Chúa và thiên đường. Trong Phật giáo, niềm tin gắn với sức mạnh và sự che chở của Đức Phật toàn năng. Trong tín ngưỡng, niềm tin gắn với sức mạnh siêu nhiên giúp con người vượt lên sợ hãi, đẩy lùi tai họa, hướng tới an yên. Cho dù mỗi tôn giáo, tín ngưỡng có những cách tạo dựng niềm tin riêng, nhưng điểm chung là hướng con người về những niềm tin hư ảo. Tuy nhiên, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, niềm tin tôn giáo vẫn tồn tại bởi trong cuộc sống, con người luôn phải đối mặt với nhiều trớ trêu, nghịch cảnh, và niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên chính là nơi con người bấu víu để vượt qua tâm lý sợ hãi, bất lực. Về bản chất, đó là thứ niềm tin mang tính chủ quan, không có cơ sở thực tiễn và không được kiểm nghiệm bằng thực tiễn. Trái ngược với niềm tin tôn giáo, triết học Mác  - Lê-nin đề cao lý tính, coi trọng thực tiễn, coi tri thức của con người là nhân tố cơ bản của niềm tin. Niềm tin ấy có tính khách quan vì đó là niềm tin gắn liền với quy luật phát triển của lịch sử nhân loại. Bởi thế, niềm tin trong triết học Mác khác hẳn với niềm tin tôn giáo. Vì xuất phát từ thực tiễn, được tạo dựng từ thực tiễn nên niềm tin mác-xít gắn liền với lý tưởng cao đẹp và mang tính hiện thực. Nó khác với thái độ cuồng tín, bất chấp thực tiễn. Bản chất của nó là dù gặp phải bất cứ gian nan nguy hiểm nào, vẫn kiên định phấn đấu, sẵn sàng hy sinh vì lý tưởng đã chọn lựa. Vì thế, niềm tin luôn gắn với lý tưởng, trở thành niềm tin lý tưởng. Lý tưởng ở đây là lý tưởng cách mạng, gắn liền với đấu tranh vì hạnh phúc của con người. Niềm tin lý tưởng, trong điều kiện lịch sử cụ thể, chuyển hóa thành niềm tin đối với người lãnh đạo, tổ chức lãnh đạo và học thuyết cách mạng. Đó phải là học thuyết cách mạng nhất và nhân văn nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, muốn giải phóng dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, trước hết phải tìm thấy lý tưởng và kim chỉ nam hành động. Vào những năm 20 của thế kỷ XX, tại Pa-ri, Người đã tìm thấy con đường ấy khi đọc Luận cương của Lê-nin về vấn đề giải phóng dân tộc và thuộc địa. Người cho rằng, muốn làm cách mạng trước hết phải có đảng cách mạng chân chính nắm vai trò lãnh đạo. Người khẳng định: “Đảng có vững cách mạng mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”.


Thực tiễn gần 90 năm qua của cách mạng Việt Nam cho thấy,  Đảng Cộng sản Việt Nam thực sự đã quy tụ được niềm tin của giai cấp công nhân, của nhân dân Việt Nam. Đây chính là nguyên nhân hết sức quan trọng đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


Tất nhiên, để đạt được những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, hướng tới một xã hội tốt đẹp, không có bóc lột, áp bức, bất công là một quá trình hết sức lâu dài và gian khổ. Con đường ấy không bao giờ bằng phẳng mà khúc khuỷu, gập ghềnh. Muốn hoàn thành sứ mệnh của mình, chủ nghĩa xã hội phải thường xuyên tự đổi mới, tự phát triển, tự hoàn thiện;  và với tư cách là người tổ chức, dẫn đường, Đảng phải luôn là người tiên phong, chiếm được niềm tin tuyệt đối của nhân dân, lãnh đạo cách mạng vận hành theo quy luật khách quan. Ngay cả trong những thời điểm khó khăn nhất, khi chủ nghĩa xã hội thoái trào thì mỗi đảng viên phải là một tấm gương sáng, kiên định lập trường, giữ vững niềm tin cách mạng. Chỉ có như thế nhân dân mới thực sự tin Đảng.


Nhìn lại lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập đến nay, những thành tựu to lớn mà Đảng và nhân dân ta đạt được trong gần chín thập niên qua xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là Đảng tin dân và dân tin Đảng. Trong những năm đất nước nằm dưới ách nô lệ, dân chính là người che chở, bảo vệ Đảng bởi tin rằng, Đảng là người sẽ đưa dân tộc thoát khỏi xiềng xích nô lệ. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và tiền đồ cách mạng đã góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để giải phóng non sông đất nước. Và niềm tin ấy cũng là tiền đề quan trọng để cả nước bắt tay xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.


Niềm tin của quần chúng nhân dân dành cho Đảng biểu hiện hết sức cụ thể trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, trong sản xuất, chiến đấu, trong khó khăn, hoạn nạn... Nó được biểu hiện qua các mối quan hệ gần gũi, tin cậy lẫn nhau, trong đó người đảng viên luôn chiếm được tình cảm quý mến, trân trọng của nhân dân. Đặc biệt, vẻ đẹp và sức mạnh của niềm tin lý tưởng được thể hiện hết sức tập trung và sinh động trong văn học, nghệ thuật. Người chiến sĩ cộng sản với tinh thần sẵn sàng xả thân cho lý tưởng, dám quên mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc đã trở thành hình ảnh quen thuộc đối với người dân Việt Nam trong suốt hơn một thế kỷ qua. Mối quan hệ giữa dân với Đảng là mối quan hệ cá - nước, gắn bó bền chặt thành “ý Đảng lòng dân”.


Có thể nói, mọi vẻ đẹp cao cả nhất của người cộng sản chân chính được kết tụ rõ nét nhất trong hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người trở thành niềm cảm hứng bất tận cho âm nhạc, văn học, mỹ thuật, hội họa, kiến trúc,... Hình tượng người cộng sản Hồ Chí Minh trong văn học, nghệ thuật đã đem lại những cảm xúc mạnh mẽ cho công chúng tiếp nhận nghệ thuật, tạo sức lan tỏa lớn trong cộng đồng. Đó là câu chuyện về một huyền thoại giữa đời thường bởi Người lúc nào cũng gần gũi với nhân dân, gắn bó với vận mệnh của dân tộc và nhân dân.


Từ sau năm 1975, đặc biệt là từ khi Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử mới với cả những thuận lợi lớn, thách thức lớn. Về khách quan, tình hình chính trị thế giới vẫn biến động hết sức phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chia rẽ sự đoàn kết thống nhất giữa dân với Đảng. Về chủ quan, thực tiễn đổi mới xuất hiện nhiều vấn đề mới, trong đó đáng chú ý là vấn đề đổi mới thể chế và phương thức lãnh đạo của Đảng, vấn đề mối quan hệ giữa Đảng với dân. Trong các nguy cơ làm ảnh hưởng đến sự nghiệp cách mạng hiện nay Đảng ta đã chỉ rõ nhiều nguy cơ, trong đó, đáng chú ý là nguy cơ “nội xâm” mà biểu hiện của nó là tệ tham nhũng, quan liêu, vô cảm, xa dân... Gần đây, hiện tượng “lợi ích nhóm”, thậm chí là sự manh nha của loại tư bản thân hữu đã được cảnh báo. Đây là nguy cơ từ bên trong, rất nguy hiểm, trực tiếp làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Nó rất dễ làm chệch hướng cách mạng và sự nghiệp đổi mới đất nước nếu không sớm bị phát hiện và kiên quyết loại trừ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: giành độc lập cho nước mà không đem lại hạnh phúc cho dân thì độc lập ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì. Nguy cơ “nội xâm” sẽ là nguy cơ tạo sự bất ổn từ bên trong, từng bước làm suy yếu và tan rã Đảng Cộng sản, cuối cùng là “đổi màu” chế độ, đưa đất nước rơi vào khủng hoảng, sụp đổ.


Trong bối cảnh lịch sử hiện nay, sự phát triển ở Việt Nam đương đại là sự thay đổi mang tính bước ngoặt, vì thế, về văn hóa phát triển, đòi hỏi Việt Nam phải giải quyết hợp lý hàng loạt vấn đề: mối tương quan giữa giá trị mới và giá trị cũ, giữa văn hóa dân tộc và sự ảnh hưởng của văn hóa nước ngoài, giữa lý tưởng và hiện thực, giữa cống hiến và hưởng thụ... Tất cả những vấn đề trên đây có ảnh hưởng không nhỏ tới ý thức, định hướng giá trị, hành vi, lối sống của cá nhân và cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ. Đối mặt với những thay đổi này, vấn đề đặt ra là chúng ta phải chủ động thích ứng với bối cảnh mới của thời đại, xây dựng hệ giá trị mới mang bản sắc Việt Nam, làm sao để mỗi người Việt Nam đều mang trong mình khát vọng cống hiến cho sự phát triển của đất nước, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới. Việc trau dồi lý tưởng sống tốt đẹp sẽ giúp cho mọi người có định hướng đúng đắn trong quá trình nhận thức các giá trị và hoàn thiện bản thân. Coi giáo dục niềm tin là vấn đề quan trọng, chúng ta cần giáo dục cho con người tình yêu quê hương đất nước, giá trị truyền thống của dân tộc; có bản lĩnh chính trị vững vàng; có niềm tin vào Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.


Niềm tin lý tưởng của người cách mạng Việt Nam hiện nay chính là niềm tin vào sự tất thắng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản. Đây cũng là hai giai đoạn của phát triển mà nhân loại sẽ hướng tới. Quan điểm thực tiễn đòi hỏi phải nhận thức đúng cách mạng Việt Nam đang ở giai đoạn nào thật cụ thể, để từ đó có chiến lược và phương thức phát triển hợp lý, tránh nôn nóng, đốt cháy giai đoạn. Vì đốt cháy giai đoạn thực chất là biểu hiện của duy ý chí, bất chấp thực tiễn lịch sử. Vì thế, cần tránh hai quan niệm thiên lệch: một là, không xác định rõ tình hình hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chứ chưa phải đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nếu chúng ta dùng những tiêu chí của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản để soi vào thực tiễn hiện nay, từ đó đề ra các chính sách kinh tế, văn hóa quá tầm mức là nóng vội, bất chấp hiện thực lịch sử, hệ thống chính sách sẽ phản tác dụng, làm nhân dân chán nản vì sự không phù hợp giữa chính sách và thực tiễn, giữa mục đích và phương thức; hai là, thấy chủ nghĩa cộng sản là hình ảnh quá xa vời, chưa qua kiểm nghiệm thực tiễn, từ đó chủ trương không cần giáo dục lý tưởng cộng sản chủ nghĩa mà chỉ chú trọng những thành quả vật chất có được. Thái độ này tất sẽ dẫn đến tình trạng sùng bái hưởng thụ, chỉ thấy cái lợi trước mắt mà bỏ quên cái lợi lâu dài. Điều đó trước hết đòi hỏi cần phải thay đổi quan niệm về niềm tin và cách tạo dựng niềm tin trên cơ sở đổi mới về tư tưởng, bám sát thực tiễn, quán triệt đường lối của Đảng về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ. Cương lĩnh của Đảng đã nêu rất rõ về mục tiêu cuối cùng và mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam. Mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Mục tiêu trước mắt là tiếp tục cuộc đổi mới, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện thành công những mục tiêu trên, cần phải kiên định niềm tin vào lý tưởng cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Sức thuyết phục của Cương lĩnh và sự đúng đắn trong đường lối đổi mới là ở chỗ luôn gắn với thực tiễn, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Về thực chất, đó cũng chính là sự cụ thể hóa lý tưởng chủ nghĩa cộng sản trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Mặt khác, cần phải tỉnh táo nhận thức rằng, chủ nghĩa cộng sản tuyệt nhiên không phải là sản phẩm của một phán đoán giá trị giản đơn mà nó là kết quả của một quá trình phấn đấu lâu dài, gian khổ. Ngay từ ngày thành lập, Đảng ta đã xác định rõ những bước đi cụ thể của cách mạng Việt Nam, và tương ứng với mỗi giai đoạn cụ thể là việc đưa ra chiến lược phát triển phù hợp với yêu cầu của giai đoạn ấy. Chỉ có chiến lược và sách lược phù hợp thì cách mạng mới thành công, còn nếu lầm tưởng rằng nhiệm vụ cụ thể và cương lĩnh trong giai đoạn hiện nay chính là toàn bộ nhiệm vụ và mục tiêu cuối cùng của Đảng, thì đúng như V.  I. Lê-nin nói, chúng ta đang chỉ nhìn thấy lợi ích tạm thời mà hy sinh tương lai của phong trào cách mạng. Một khi nhận thức rõ bản chất của vấn đề, chúng ta mới duy trì được niềm tin vào tương lai lâu dài là chủ nghĩa cộng sản trong quần chúng nhân dân lao động. Chủ nghĩa cộng sản không phải là thiên đường như tôn giáo đã vẽ ra cho các tín đồ mà là sản phẩm do chính con người tạo ra vì hạnh phúc của nhân loại. Vì thế, điều quan trọng là toàn Đảng, toàn dân hiểu rõ, vừa phải quyết tâm thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vừa nhận thức được rằng đó mới chỉ là một bước đi trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ để vững niềm tin vào mục đích cuối cùng của cách mạng chính là chủ nghĩa cộng sản.

1 nhận xét:

  1. Nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

    Trả lờiXóa