Hiện nay, trong thời đại
công nghệ 4.0 phát triển mạnh mẽ, đem lại nhiều tiện ích cho người sử dụng về
nắm bắt các thông tin cũng dễ dàng hơn, thế nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại
nhiều bất cập trong quá trình sử dụng mạng xã hội như Nói xấu, chửi bới người
khác trên mạng xã hội, các hành vi đó làm ảnh hưởng tới uy tín danh dự và nhân
phẩm của người khác.
Theo
Bộ
Luật Dân sự 2015 và Bộ Luật Hình sự 2015.
1. Quyền được bảo vệ danh dự nhân phẩm
và uy tín
Tại Điều 34 Bộ luật dân sự 2015 quy định thì: các Cá nhân có quyền yêu
cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín
của mình và Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau
khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên, trường
hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết,
trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
Như vậy, Khi danh dự, và nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, cá
nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ các thông tin đã gây ảnh hưởng xấu đến cá
nhân. Cá nhân không chỉ được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín khi còn sổng mà
cả khi cá nhân đã chết thì pháp luật vẫn duy trì sự bảo hộ theo quy định và các
hành vi như Nói xấu, chửi bới người khác trên mạng xã hội làm ảnh hưởng tới uy
tín danh dự nhân phẩm của người khác sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật
2. Tội làm nhục người khác thì bị xử
lý như thế nào?
Trong trường hợp mức độ hành vi nhẹ, chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng
nào, thì người đó sẽ bị xử phạt hành chính đối với các Hành vi xúc phạm danh
dự, và nhân phẩm người khác có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo điểm a
khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng, chống tệ nạn xã hội;
Phòng cháy và chữa cháy; Phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của pháp
luật
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối
với một trong những hành vi sau đây:
Xem thêm: Lăng mạ người khác trên mạng xã hội có bị xử phạt không?
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự,
nhân phẩm của người khác;”
Trong trường hợp mức độ hành vi nặng, lời lẽ sử dụng có tính chất làm
nhục người khác, hành vi này dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng, thì ngườicó
thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác hoặc tội vu khống. Bộ luật hình sự năm 2015 quy định như sau:
“Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác,
thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc
phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03
tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để
phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02
năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Như vậy, với những thông tin bạn cung cấp có thể nhận thấy mức độ chưa
nghiêm trọng để khởi tố hình sự. và Người này có thể bị xử phạt hành chính, có
thể bị phạt tiền hoặc cảnh cáo yêu cầu chấm dứt hành vi. Để bảo vệ quyền lợi
chính đáng, cần khai báo với cơ quan công an nơi cư trú về vụ việc nói trên kèm
theo những chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm của người đó như như đoạn ghi
âm, tin nhắn, lời khai của người làm chứng… để cơ quan công an xác minh làm rõ
vụ việc theo quy định của pháp luật
3. Nói xấu, chửi bới người khác trên mạng
xã hội có bị phạt không?
Tóm tắt câu hỏi:
Luật sư xin cho hỏi: Tôi có một cô người yêu nhưng chúng tôi mới chia
tay, cô là người nói lời chia tay trước. Vì quá ức chế vì tôi luôn đối xử với
cô đấy nên tôi đã tung tin lên mạng xã hội làm hạ thấp danh dự của cô ấy. Vậy
tôi có bị sao không?
Luật sư tư vấn:
Theo quy định tại Nghị định 72/2013/NĐ-CP thì:
Điều 5. Các hành vi bị cấm
1. Lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên
mạng nhằm mục đích:
a) Chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại
đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân
tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân
tộc, sắc tộc, tôn giáo;
b) Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã
hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
c) Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại
và những bí mật khác do pháp Luật quy định;
d) Đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh
dự và nhân phẩm của cá nhân;
như vậy, hành vi lợi dụng trang mạng xã hội đưa thông tin xuyên tạc, vu
khống, xúc phạm đến người khác được coi là hành vi bị cấm, Trong trường hợp này
của bạn nếu ở mức độ nhẹ sẽ bị xử phạt hành chính từ 100.000 đồng đến 300.000,
còn nếu nặng hơn sẽ bị xử lý hình sự theo quy định tại Bộ luật hình sự: Khoản
Điều 121. Tội làm nhục người khác .Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm,
danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến
hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm..
4 Sử dụng mạng để nói xấu cán bộ, đảng
viên sẽ bị xử lý như thế nào ?
Khoản 2 Điều 12 Luật Công nghệ thông tin 2006 quy định về các hành
vi bị nghiêm cấm như sau:
“2. Cung cấp, trao đổi, truyền đưa, lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm
mục đích sau đây:
a) Chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại khối đoàn
kết toàn dân;
b) Kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm lược, gây hận thù
giữa các dân tộc và nhân dân các nước, kích động dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ
nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc;
c) Tiết lộ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại
và những bí mật khác đã được pháp luật quy định;
d) Xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm,
uy tín của công dân;
đ) Quảng cáo, tuyên truyền hàng hoá, dịch vụ thuộc danh mục cấm đã được
pháp luật quy định.”
Mặt khác, Khoản Điều 155 Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2017 cũng quy định về tội làm nhục người khác như
sau:
Theo các quy định trên, thì trong trường hợp nếu cá nhân có hành vi vi
phạm pháp luật về công nghệ thông tin thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà
bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự,
trường hợp gây thiệt hại thì sẽ phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Như vậy, về đối tượng có hành vi dùng facebook, youtube để nói xấu
cán bộ, và các đảng viên tùy theo mức độ mà có thể bị xử phạt hành chính
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc phải bồi thường nếu gây
thiệt hại theo quy định
Được chia ra thành các trường hợp như sau:
– Trường hợp thư nhất đó chính là việc Xử phạt vi phạm hành chính: Theo
quy định tại điểm g Khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông
tin và tần số vô tuyến điện thì hành vi dùng facebook, youtube để nói
xấu cán bộ, đảng viên có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng.
– Trường hợp thứ hai đó chính là việc Truy cứu trách nhiệm hình sự:
Trong trường hợp dùng facebook, youtube để xúc phạm nghiêm trọng nhân
phẩm, danh dự của cán bộ, đảng viên thì người có hành vi này có thể bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về “Tội làm nhục người khác” theo quy định tại
Điều 155 Bộ luật Hình sự./.
Không thể để tình trạng dân chủ kiểu ngồi xổm trên pháp luật như vậy được
Trả lờiXóa