Trong kho tàng di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, tư tưởng của Người về hội nhập quốc tế là một bộ phận hết sức quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Đây là cơ sở, nền tảng, là kim chỉ nam cho các hoạt động đối ngoại, hợp tác, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta trong các giai đoạn cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay.
Gắn kết phong trào cách mạng Việt Nam với
phong trào cách mạng thế giới
Trước hết, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
cho thấy, hợp tác, hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại mới, là một
nhân tố quan trọng đưa tới thành công của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Qua
hành trình tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có một cách nhìn mới về
thế giới, về mối liên hệ giữa Việt Nam và thế giới. Người đã vượt qua những hạn
chế mang tính lịch sử của các bậc tiền bối để hướng ra bên ngoài, gắn kết giữa
sự nghiệp cứu nước của dân tộc Việt Nam với sự nghiệp cách mạng trên thế giới.
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hoạt động
của phong trào yêu nước chống thực dân Pháp ở nước ta trở nên sôi sục, rộng khắp,
song những hoạt động đó đều không mang lại kết quả. Một trong những nguyên nhân
cơ bản là do các nhà yêu nước lúc đó chưa đưa ra được các phương hướng cách mạng
phù hợp với thời đại đã đổi thay. Từ trải nghiệm trong quá trình bôn ba tìm đường
cứu nước, nhận thức được xu thế thời đại, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “cách mệnh An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm
cách mệnh trong thế giới đều là đồng chí của dân An Nam cả”. Có thể xem đây là
điểm khởi đầu của tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế. Một mặt, tư tưởng
này thể hiện tầm nhìn mở rộng ra toàn thế giới, không chỉ thu hẹp ở phương
Đông; mặt khác, quan điểm đoàn kết rộng mở của Người về hội nhập quốc tế là hướng
vào những người làm cách mạng, không bị ràng buộc bởi châu lục hay màu da. Tư
tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra một trong những yếu tố dẫn đến thành công của sự
nghiệp cách mạng Việt Nam là phải hội nhập với thế giới, đoàn kết với phong
trào cách mạng thế giới để góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng nước
ta. Chính từ đây, Người chủ trương đưa cách mạng Việt Nam đi theo con đường của
thời đại mới: con đường cách mạng vô sản và Việt Nam đã trở thành một bộ phận
không thể tách rời của phong trào cách mạng thế giới.
Từ tiếp cận và hướng theo học thuyết cách mạng,
khoa học Mác - Lê-nin, Nguyễn Ái Quốc -
Hồ Chí Minh đã tham gia phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, gắn kết
công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời do chính Người sáng lập và lãnh đạo, đánh dấu một
bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng của dân tộc. Đây là sợi dây gắn kết
giữa cách mạng Việt Nam với phong trào cộng sản quốc tế. Trong Chiến tranh thế
giới thứ hai, “cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận cách mạng thế giới và
giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống phát xít”. Khi phát-xít Nhật đầu
hàng Đồng minh, các lực lượng cách mạng Việt Nam đã chớp thời cơ, phát huy thế chủ
động, cùng toàn thể đồng bào vùng lên giành chính quyền, đưa tới sự ra đời của
nước Việt Nam độc lập.
Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm
1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư tưởng chỉ đạo trong công tác đối ngoại “dĩ bất
biến ứng vạn biến” đã tích cực đưa hoạt động đối ngoại hướng tới tranh thủ sự ủng
hộ của các nước trên thế giới. Ngay trong bản Tuyên ngôn độc lập, về đối ngoại,
Người kêu gọi các nước Đồng minh công nhận quyền độc lập của nhân dân Việt Nam.
“Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc
bình đẳng ở các hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận
quyền độc lập của dân Việt Nam”. Về đối sách của Chính phủ Việt Nam, Người khẳng
định: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là thân thiện
với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình”. Sau khi đất nước
độc lập, trên cương vị người đứng đầu Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã gửi nhiều điện, thư đến các vị nguyên thủ, ngoại trưởng của các nước, như Mỹ,
Trung Quốc, Liên Xô và đến Liên hợp quốc... thể hiện quan điểm đối ngoại của Việt
Nam, đó là cố gắng mở rộng quan hệ với các nước, nhất là các cường quốc, để
tranh thủ sự công nhận địa vị pháp lý của nước Việt Nam độc lập, qua đó xác lập
vị thế chủ nhà trong việc giao tiếp với các nước bên ngoài, bảo vệ chế độ dân
chủ cộng hòa vừa được thành lập. Từ năm 1950, ngoại giao Việt Nam đã “mở ra con
đường hướng lên phía bắc, đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô và các
nước dân chủ nhân dân”. Từ đây, cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận và được
sự ủng hộ tinh thần, viện trợ vật chất của cách mạng thế giới, phục vụ công cuộc
kháng chiến, kiến quốc. Những sự kiện trên đánh dấu bước hội nhập quan trọng của
Việt Nam vào khối các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó ngoại giao đóng vai trò mở
đường.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -
1975), với tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế, ngoại giao Việt Nam đã phối
hợp nhịp nhàng với đấu tranh quân sự và chính trị, tích cực tranh thủ sự ủng hộ,
giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa và sự đoàn kết đấu
tranh của nhân dân ba nước Đông Dương, hình thành mặt trận nhân dân thế giới
đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược, kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại, trực tiếp góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế
Ngay sau ngày tuyên bố độc lập năm 1945,
Chính phủ Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Thông cáo về chính
sách đối ngoại, khẳng định mục tiêu phấn đấu cho “nền độc lập hoàn toàn và vĩnh
viễn”. Trong đó, tư tưởng cơ bản là thân thiện và hợp tác với tất cả các nước,
từ các nước Đồng minh, các nước láng giềng, các dân tộc đang đấu tranh giải
phóng cho đến nhân dân Pháp, kể cả kiều dân Pháp đều được bảo đảm sinh mệnh và
tài sản, nếu họ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam. Năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí
Minh tiếp tục khẳng định phương châm đối ngoại của Việt Nam là “làm bạn với tất
cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Người nhấn mạnh: “Mục
đích của ta lúc này là tự do, độc lập... Là bạn của ta trong giai đoạn này tất
cả những nước nào, những dân tộc hay lực lượng nào trên thế giới tán thành mục
đích ấy, cùng ta chung một ý chí ấy”.
Có thể thấy, từ chiến lược hội nhập quốc tế
trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng nước ta từng bước hòa vào dòng chảy của
cách mạng thế giới, luôn gắn liền với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.
Đánh giá thành quả của cách mạng Việt Nam đương thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: “Chính vì đã biết kết hợp phong trào cách mạng nước ta với phong trào
cách mạng của giai cấp công nhân quốc tế và của các dân tộc bị áp bức, mà Đảng
ta đã vượt được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và nhân dân ta đến những
thắng lợi vẻ vang ngày nay”. Mặt khác, tư tưởng Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, hội nhập
quốc tế không chỉ diễn ra một chiều, giành được lợi ích cho mình mà còn đóng
góp vào hòa bình, tiến bộ của thế giới. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “nhân dân ta
chiến đấu hy sinh chẳng những vì tự do, độc lập riêng của mình, mà còn vì tự
do, độc lập chung của các dân tộc và hòa bình trên thế giới”.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của chiến lược
hội nhập quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời kỳ đổi mới, xác định đúng
các dòng chảy của thế giới trong xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đã thực hiện
chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội
nhập quốc tế, trên nguyên tắc bao trùm và cũng là mục tiêu xuyên suốt của cách
mạng Việt Nam là hòa bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Chính từ chủ
trương mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế, nước ta từng bước vượt qua
tình trạng bị bao vây, cấm vận, thiết lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước
trên thế giới, trong đó có tất cả các nước lớn, tham gia các tổ chức, diễn đàn
khu vực và quốc tế, như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn hợp
tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO), Liên hợp quốc..., phát huy vai trò tích cực, chủ
động trong mọi hoạt động tại các thể chế đa phương.
Sau thống nhất đất nước năm 1975, tình hình
quốc tế và khu vực có nhiều chuyển biến sâu sắc, tạo ra những thời cơ và thách
thức lớn đối với Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng ta (năm 1986)
đã đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, với đường lối đối ngoại rộng mở, đa
phương hóa, đa dạng hóa, hội nhập quốc tế trên tinh thần giữ vững độc lập, chủ
quyền dân tộc. Trong xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời kỳ quá độ,
đổi mới, kiên định chiến lược hội nhập quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng,
Nhà nước ta luôn quán triệt và thực hiện bài học kinh nghiệm lớn “kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế”. Trong
đó, để tận dụng sức mạnh thời đại, Đảng, Nhà nước ta chủ trương “thực hiện đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế;... nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên
thế giới”.
Với
phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vị thế của nước ta ngày càng
được nâng cao trên trường quốc tế, đạt
nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế,
xã hội. Điều này một lần nữa khẳng định, trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử,
nếu nhận thức đúng và nắm bắt được xu thế phát triển, các dòng chảy của cách mạng
thế giới, gắn mục tiêu đấu tranh của nhân dân ta với các quốc gia, dân tộc trên
thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, thì sẽ tranh
thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế
giới; ngược lại với xu thế trên, sẽ khó thành công.
Thực hiện nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ, hợp tác quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi
Ngay từ năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nhiều lần gửi thư đến Quốc hội và Chính phủ Pháp nêu rõ: “Chỉ cần nước Pháp
công nhận nền độc lập của chúng tôi thì nước Pháp sẽ chiếm được trái tim và
tình cảm của tất cả những người Việt Nam”. Với Mỹ, Người kiên quyết yêu cầu “Mỹ
phải chấm dứt chiến tranh xâm lược và rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, tôn
trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và dân tộc Việt Nam”. Với việc ký kết
Hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7-1954), Hiệp định Pa-ri (tháng 1-1973), Pháp và Mỹ
đều phải cam kết, thừa nhận nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ của Việt Nam. Đây là cơ sở để sau khi hòa bình lập lại, với phương
châm “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, quan hệ giữa Việt Nam với các nước
đó đã được thiết lập và phát triển trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, hợp tác,
hữu nghị, cùng phát triển. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục khẳng
định, phải quán triệt nguyên tắc chiến lược là tôn trọng độc lập, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ của nhau trong hội nhập quốc tế. Trong đó, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có mối quan hệ biện chứng với
nhau.
Không chỉ như vậy, hội nhập quốc tế trong tư
tưởng Hồ Chí Minh còn là quá trình hướng tới chọn đối tác, mở rộng quan hệ, hợp
tác quốc tế, trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi.
Sau khi nước nhà độc lập, năm 1946, trong
Thư gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đối với các
nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác
trong mọi lĩnh vực. Theo đó, Người nêu ra một số giải pháp: Việt Nam sẽ dành sự
tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, các nhà kỹ thuật nước ngoài
trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và
đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; sẵn sàng chấp nhận
tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế; sẵn sàng ký kết các hiệp định an
ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan... Ngay trong những năm kháng chiến
chống Pháp, Người khẳng định rõ thiện chí: “Chúng tôi rất hoan nghênh tư bản
Pháp và tư bản các nước cộng tác thật thà với chúng tôi”, “Chúng ta sẽ mời những
nhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc cho chúng ta
trong cuộc kiến thiết quốc gia”.
Khi bàn về quan hệ hợp tác trong thời kỳ đấu
tranh giải phóng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến thực lực của
đất nước là nhân tố quyết định thành công. Người thường nhắc nhở phải “đem sức
ta mà giải phóng cho ta”, “dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp mình
thì trước hết phải tự giúp lấy mình đã”. Người khẳng định: “Ta có mạnh thì họ mới
chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu
kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”. Người mong muốn xây dựng một nền
kinh tế độc lập, không lệ thuộc vào ngoại bang, dựa vào những điều kiện, tiềm
năng sẵn có của dân tộc để không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân
dân. Tuy nhiên, trong khi ra sức đấu tranh cho lợi ích của dân tộc mình, Chủ tịch
Hồ Chí Minh rất tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia, dân tộc khác.
Người cho rằng “Mình chớ làm cho người những điều không muốn người làm cho
mình”. Phát biểu nhân dịp Ngày Quốc khánh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,
ngày 2-9-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Trong quan hệ đối với các nước
khác, chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là rõ ràng và trong sáng:
Đó là một chính sách hòa bình và quan hệ tốt... tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và
chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào các công việc nội bộ,
bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hòa bình”. Điều này cho thấy, Chủ
tịch Hồ Chí Minh khác hản với những người theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, biệt
lập. Cùng với việc duy trì tính độc lập, tự chủ, Người chủ trương xây dựng khối
đoàn kết quốc tế, quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và các đối
tác, trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế,
nhất là hợp tác kinh tế quốc tế có nội dung rất rộng, có giá trị tham chiếu cho
quá trình hội nhập quốc tế, với các bước đi thích hợp của Việt Nam trong điều
kiện toàn cầu hóa hiện nay.
Có thể thấy, trong hội nhập quốc tế nói
chung, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển kinh tế là một
tư tưởng lớn và nhất quán ở Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quan điểm đó được hình thành
là kết quả của quá trình khảo sát thực tiễn trong nước và quốc tế, nhận thức
đúng quy luật vận động, xu thế phát triển của thời đại. Người khẳng định, hợp
tác quốc tế để xây dựng và phát triển kinh tế đất nước là nhu cầu khách quan có
tính quy luật phổ biến của mọi nền kinh tế, là điều kiện quan trọng bảo đảm thực
hiện thành công sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Đây chính là biểu hiện của sự
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong tiến trình phát triển.
Lịch sử đã khẳng định tính đúng đắn trong
quan điểm Hồ Chí Minh về việc xác định đối tác mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
và trong quan hệ hợp tác, thực lực của đất nước là nhân tố quyết định thành
công. Đây là những quan điểm đi trước thời đại và có ý nghĩa thực tiễn to lớn
trong công cuộc xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay của Việt Nam, là
những việc mà nước ta đã và đang triển khai trong quá trình hội nhập vào một thế
giới toàn cầu hóa, mở rộng thị trường xuất, nhập khẩu, thu hút đầu tư nước
ngoài, tiếp thu khoa học - công nghệ tiên tiến, khoa học quản lý hiện đại... Những
thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của nước ta qua 35 năm đổi mới, từng bước hội
nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của chiến
lược hội nhập quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Giương cao ngọn cờ chính nghĩa: “Thêm bạn,
bớt thù”, đoàn kết quốc tế
Trải qua các chặng đường đấu tranh giành và
giữ độc lập dân tộc, cách mạng Việt Nam luôn xác định rõ bạn, thù; phân hóa “bạn”,
“thù” ngay trong hàng ngũ đối phương. Nhờ vậy, cách mạng Việt Nam đã giành được
sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm đánh vào nước Pháp, cũng không nhằm đánh
vào những người Pháp lương thiện, mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông
Dương của chủ nghĩa thực dân Pháp”. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người
nói: “Nhân dân Việt Nam coi nhân dân Mỹ là bạn của mình”. Với phương châm đúng
đắn đó mà cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta đã nhận được sự ủng hộ to
lớn của phong trào cách mạng, nhân dân tiến bộ thế giới chống chiến tranh xâm
lược Việt Nam, nhất là ở châu Âu và Mỹ. Năm 1967, nhân dân tiến bộ Mỹ với cuộc
đấu tranh “Mùa Xuân” đã lôi cuốn hàng triệu người tham gia, đến cuộc đấu tranh
“Mùa Thu” có tới 3.400.000 người của hơn 100 thành phố Mỹ vào cuộc, đạt tới đỉnh
cao là cuộc bao vây Lầu Năm góc của 200.000 người Mỹ trong suốt 32 giờ liền. Tiếng
nói phản chiến từ các cuộc biểu tình trên đường phố đã có tác động lớn đến giới
cầm quyền chính quốc, thể hiện tinh thần đoàn kết của nhân dân yêu chuộng hòa
bình thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Với phương
châm thêm bạn, bớt thù, đoàn kết quốc tế, chúng ta đã giương cao ngọn cờ chính
nghĩa đó.
Ngày nay, trong bối cảnh mới, chúng ta tiếp
tục kiên định, nhất quán tư tưởng “thêm bạn, bớt thù”. Với chính sách đối ngoại
rộng mở, Đảng, Nhà nước Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với tất cả các nước,
vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế. Từ chủ trương rộng mở quan hệ đối ngoại của
Đại hội VI của Đảng, với những kết quả đối ngoại của thời kỳ đổi mới và hội nhập
quốc tế, đã củng cố những bước tiến vững chắc của Việt Nam theo phương châm “muốn
là bạn với tất cả các nước” của Đại hội VII, “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy
của các nước trong cộng đồng quốc tế” của Đại hội IX, “là bạn, đối tác tin cậy
và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” của Đại hội XI và điều
này tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII, XIII của Đảng. Quá
trình hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng được phát triển cả bề rộng lẫn
chiều sâu, đem lại nhiều kết quả tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, hợp tác, phát triển của nhân dân thế giới.
Trong quan hệ đối ngoại, chúng ta kiên trì phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu
tranh” trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Trong đó, hai mặt hợp tác và đấu
tranh gắn bó hữu cơ với nhau. Thúc đẩy hợp tác nhưng vẫn phải đấu tranh dưới
hình thức, mức độ thích hợp với từng đối tượng, trên từng vấn đề, nhằm bảo vệ lợi
ích dân tộc, thiết lập quan hệ bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình.
Chính sự kết hợp đúng đắn, linh hoạt giữa hợp tác và đấu tranh đã giúp Việt Nam
tranh thủ được ngày càng nhiều sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới
đối với sự nghiệp chính nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.
Thực tế ngày nay cho thấy, quan điểm của Chủ
tịch Hồ Chí Minh “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với
một ai” là phù hợp với xu thế quan hệ quốc tế hiện nay. Những quan điểm đó đã
và đang được Đảng, Nhà nước ta quán triệt, vận dụng trong đường lối và thực tiễn
quan hệ đối ngoại, hướng tới mục tiêu tiếp tục tạo lập môi trường hòa bình, ổn
định ở khu vực và thế giới cho sự phát triển của đất nước, vì lợi ích quốc gia
- dân tộc. Chính từ đây đã mở ra một trang mới trong lịch sử đối ngoại của nước
ta. Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao chính thức với 189/193 quốc gia thành viên
của Liên hợp quốc, trong đó có cả những nước từng là cựu thù của Việt Nam.
Trong các mối quan hệ quốc tế đa tầng, đan chéo, biến động phức tạp khó lường
hiện nay, quán triệt các quan điểm trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần
tích cực, chủ động hội nhập sâu hơn, toàn diện hơn với thế giới, qua đó sẽ góp
phần xây dựng lòng tin chiến lược trong hợp tác, phát triển của quốc gia, góp
phần vào sự phát triển chung của cộng đồng quốc tế.
Lịch sử cho thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh về hội
nhập quốc tế đã phát huy hiệu quả to lớn trong công cuộc đấu tranh giành độc lập
dân tộc và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần tích cực vào cuộc
đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân dân thế giới. Ngày nay, mặc dù quan hệ
quốc tế và tình hình Việt Nam đã thay đổi căn bản, nhưng những quan điểm cơ bản
trong tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập quốc tế vẫn còn nguyên giá trị, có ý
nghĩa chiến lược, tiếp tục được quán triệt và thấm sâu vào mọi chủ trương,
chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc cho nước
ta tích cực, chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả./.
Trong kho tàng di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta, tư tưởng của Người về hội nhập quốc tế là một bộ phận hết sức quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với cách mạng Việt Nam.
Trả lờiXóa