Công cuộc đổi mới ở nước ta không chỉ đạt được những
thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được đẩy mạnh với những
nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những nguồn lực không bao
giờ cạn. Tuy nhiên, thời gian qua vẫn có một số đối tượng ác ý tung ra
những luận điệu đả kích, chống phá trắng trợn, hoặc một số thế lực muốn lái
chúng ta đi theo con đường khác. Những luận điệu đen tối đó cho rằng đổi mới
như vậy coi như đã xong, nay cần xem xét lại vì đã không còn động lực. Ý kiến
khác đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ hơn về chính trị để tạo thêm động lực, nếu
không, trước sau cũng sẽ đưa đến tàn lụi đất nước. Tựu trung, chủ ý thâm độc nhất
cho rằng đổi mới đã cạn kiệt nguồn lực, từ sau Đại hội XIII không đổi mới nữa,
hoặc nếu có đổi mới thì đổi mới về chính trị mà thôi.
Đổi
mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng
cái mới tốt hơn. Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ,
cái hiện đang còn tác dụng để cải biến cho nó trở nên thích dụng hơn. Đổi mới
có thể coi là một sự phủ định biện chứng: Không bao giờ phủ định sạch trơn và
không bao giờ quay lại cái cũ. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính
trị với mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
Có
người khuyên Việt Nam: “Muốn phát triển thì cần tư nhân hóa nhanh hơn, hội nhập
thương mại nhanh hơn, phá giá đồng tiền mạnh hơn”. Lời khuyên đó dẫu có chân
thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta
hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình và chúng ta thực hiện đổi mới nhưng
có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là
thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị
trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và
điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị
trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với
thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu-nghèo. Đổi mới
có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập. Đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập-mở cửa, đẩy
mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát
triển nhanh và bền vững; là để xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng
cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; là để nâng tầm đất nước lên trình độ
mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để
hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn.
Đổi
mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng cải
cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất
định nhằm những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc
vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách
mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, tuy
cũng nhằm những mục tiêu nhất định trong những thời kỳ nhất định, song do bản
chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng
chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt
Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các Đại hội VII,
VIII, IX, X, XI, XII và XIII của Đảng đều khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công
cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu
của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.
Qua
35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch
sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền
kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải
thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy
tín quốc tế như ngày nay. Đây là niềm tự hào, là động lực, là nguồn lực quan
trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó
khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ,
phát triển nhanh và bền vững đất nước. Nhìn lại những nét chính yếu của hành
trình đổi mới, chúng ta thấy rõ nhận định nêu trên của Đại hội XIII là chính
xác. Công cuộc đổi mới đã giải phóng sức sản xuất, củng cố và tăng cường quan
hệ sản xuất mới, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng của một nước có thu nhập
thấp; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; ổn định chính trị-xã hội được
bảo đảm; định hướng xã hội chủ nghĩa được giữ vững; vai trò lãnh đạo của Đảng
được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc; quan hệ hợp tác
quốc tế ngày càng được đẩy mạnh thêm. Chính đổi mới đã đưa nước ta từ chỗ thiếu
thốn, có khi phải nhập lương thực, nay trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ
hai thế giới. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới
thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay.
Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân
lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay. Đổi mới giúp chúng ta vừa kế
thừa và phát huy những thành quả tốt đẹp đã đạt được trước đây vừa có cách nghĩ
khác trước, nghe khác trước, nhìn khác trước, làm khác trước, phù hợp với tình
hình đang phát triển. Đổi mới đã đem đến một sức vóc mới cho đất nước, tiếp sức
đôi chân chúng ta đi thêm những bước dài trên con đường hướng tới mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tuy vậy, trong tiến trình đi
lên, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, chúng ta không quên rằng đất nước
mình vẫn còn nhiều khó khăn, sự phát triển của nền kinh tế chưa vững chắc, hiệu
quả và sức cạnh tranh còn thấp, còn nhiều yếu tố chưa bảo đảm tăng trưởng cao
và lâu bền, còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, mà những nhân tố đó còn
có phần tăng thêm. Rõ ràng là phía trước của chúng ta không chỉ có thuận lợi và
thời cơ mà còn có những khó khăn và nguy cơ không thể xem thường. Càng như vậy
càng phải tiếp tục đổi mới, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức để đất nước
tiếp tục phát triển bền vững.
Nếu
quan niệm động lực, nguồn lực là những yếu tố tạo nên sức mạnh thúc đẩy sự phát
triển thì động lực của đổi mới bao gồm nhiều yếu tố tiềm ẩn và hiển hiện có thể
nhận biết được. Một là, yếu tố khơi nguồn động lực của đổi mới chính là việc
định hướng đúng, phát động đúng thời điểm. Chúng ta xác định đổi mới phải theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng đúng đắn cho sự nghiệp đổi mới vừa hợp
thời, hợp quy luật, hợp lòng dân, vừa có sự chắc chắn, vững tin. Chuẩn bị kỹ và
phát động đổi mới đúng lúc, đồng thời với mở cửa hội nhập nên chúng ta có thể
chủ động và sáng tạo trong mọi tình huống, đã đứng vững và phát triển trong khi
cải tổ, cải cách ở Liên Xô và Đông Âu bị thất bại. Hai là, những thành quả của
đổi mới lại tiếp thêm luồng sinh khí mới, tăng thêm động lực cho nó, tạo cho
đất nước ta thế mới, lực mới, gia tốc mới. Thế mới và lực mới là tổng hợp những
thành tựu to lớn về kinh tế-xã hội, là kết quả của việc phát triển mọi mặt với
sự thông thoáng trong nước và mở rộng quan hệ hợp tác với bên ngoài. Gia tốc
mới là khả năng vượt trội, là độ tăng trưởng liên tục ở mức khá cao, tạo đà cho
giai đoạn kế tiếp. Thế mới, lực mới, gia tốc mới tạo ra tầm vóc và khả năng mới
của đất nước. Đó không chỉ là khả năng đất nước vươn tầm mà còn là năng lực mới
mạnh mẽ để tiếp tục thúc đẩy sự nghiệp đổi mới phát triển. Đổi mới được nạp
thêm năng lượng mới. Ba là, yếu tố quyết định là động lực và những nguồn lực
trong nước. Động lực quan trọng phục vụ và thúc đẩy công cuộc đổi mới là tổng
hợp các nguồn lực trong nước, bao gồm không chỉ có vốn, tài sản đã tích lũy
được mà còn là tài nguyên chưa đưa vào sử dụng, là lợi thế về địa kinh tế, địa
chính trị và quan trọng hơn hết là nguồn lực con người, bao gồm cả sức lao động
trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống văn hóa của dân tộc ta. Trong các
nguồn lực đó, nguồn lực về tài nguyên là khá phong phú; nguồn lực về đất đai,
vị trí địa lý là khá thuận lợi; nguồn lực về truyền thống là sâu sắc, đặc thù;
nguồn lực về con người và trí tuệ vô cùng to lớn.
Bốn là, những nguồn lực từ bên ngoài. Đây là một yếu tố quan trọng mà nếu biết
cách tranh thủ cũng sẽ tạo nên động lực cho công cuộc đổi mới đất nước. Nguồn
lực bên ngoài bao gồm: Vốn, kỹ thuật-công nghệ, kinh nghiệm quản lý, chất xám,
tinh hoa văn hóa nhân loại. Trên cơ sở phải phát huy mọi nguồn lực trong nước,
chúng ta có đầy đủ điều kiện để có thể thu hút nguồn lực bên ngoài. Với việc mở
rộng nhiều hình thức, có bước đi, biện pháp và chính sách ưu đãi thích hợp,
chúng ta nhất định khuyến khích mạnh mẽ việc hợp tác về kinh tế, văn hóa, khoa
học, kỹ thuật, công nghệ; đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài
vào nước ta trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Năm là, sự phù hợp giữa ý Đảng và
lòng dân. Đây là động lực mang tính quyết định đối với sự nghiệp đổi mới. Động
lực đó bắt nguồn từ năng lực sáng tạo, bản lĩnh trí tuệ của Đảng ta và của nhân
dân ta, thể hiện ở trình độ đoán định, nắm bắt những yếu tố và những vấn đề của
thời cuộc, dự kiến đúng tình huống, xác định đường đi nước bước rõ ràng, sẵn
sàng tạo lập và nắm bắt thời cơ, khắc phục nguy cơ, vượt qua thách thức đưa đất
nước đi lên. Do đổi mới là sự phù hợp giữa ý Đảng và lòng dân nên khi Đảng ta
phát động, nhân dân nhiệt tình hưởng ứng tạo thành động lực to lớn thực hiện có
hiệu quả sự nghiệp đổi mới đất nước. Rõ ràng, công cuộc đổi mới ở nước ta không
chỉ đạt được những thành tựu to lớn qua 35 năm thực hiện mà còn tiếp tục được
đẩy mạnh với những nguồn lực phong phú và hết sức to lớn, trong đó có những
nguồn lực không bao giờ cạn. Hành trình đổi mới đã và đang kết hợp tất cả 3 yếu
tố: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Đó là động lực lớn nhất, là yếu tố cơ bản
nhất tạo nên khả năng thành công của mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Kế thừa, tiếp thu, chọn lọc những quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, vận dụng vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí
Minh đã đưa ra tư tưởng về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và
vì dân. Trong suốt quá trình tổ chức, xây dựng Nhà nước, Hồ
Chí Minh luôn coi trọng hai vấn đề cơ bản: một là. xây dựng
một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân; hai là, bộ
máy nhà nước phải được tổ chức hợp pháp và hoạt động trên cơ sở hiến pháp. Theo
Hồ Chí Minh, Nhà nước pháp quyền của dân là nhà nước do
nhân dân làm chủ, nhân dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là có quyền làm
bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật. Nhà
nước của dân phải bằng mọi nỗ lực để xây dựng các thiết chế dân chủ để thực thi
quyền làm chủ của nhân dân. Nhà nước pháp quyền do dân, tức là nhà
nước đó phải do dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của mình; nhà nước đó do
dân ủng hộ, giúp đỡ, đóng thuế để nhà nước hoạt động; nhà nước do nhân dân phê
bình và xây dựng, giúp đỡ. Mọi cơ quan nhà nước phải dựa vào nhân dân, liên hệ
chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân,
không có một ngoại lệ. Và chỉ có một nhà nước thực sự của dân, do dân
tổ chức, xây dựng và kiểm soát trên thực tế mới có thể là nhà nước vì
dân - phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, không có đặc
quyền, đặc lợi, thực sự trong sạch, cần, kiệm, liêm, chính.
Cũng
theo Hồ Chí Minh, Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà ở đó pháp luật được đề
cao. Nói cách khác, Nhà nước pháp quyền là nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ
- trước hết phải là nhà nước hợp hiến; tiếp đó là nhà nước quản lý đất nước
bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trên thực tế. Trong một
nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi với nhau, nương tựa vào
nhau mới bảo đảm cho chính quyền trở nên mạnh mẽ. Không thể có dân chủ ngoài
pháp luật. Mọi quyền dân chủ của người dân nhất thiết phải được thể chế hóa
bằng hiến pháp và pháp luật, ngược lại hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho
quyền tự do, dân chủ của người dân được tôn trọng trong thực tế. Do đó, để tiến
tới một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ, theo Hồ Chí Minh, vấn
đề căn bản cốt lõi là phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng hình thành đội ngũ
cán bộ, viên chức có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ,
có đạo đức cách mạng trong sáng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Cách
mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đánh tan xiềng xích thực
dân gần một trăm năm, đưa chính quyền về tay nhân dân, xây dựng nền tảng cho
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay
đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử nước nhà. Tuy nhiên, trước khi đổi mới, quan
điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền chưa thực sự được định hình rõ ràng, cụ
thể; quá trình tổ chức thực hiện xây dựng Nhà nước chuyên chính vô sản còn bộc
lộ nhiều hạn chế, bất cập.
Sau
một thời gian tổ chức xây dựng, tiếp tục nhất quán với quan điểm về xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN, Đại hội XII của Đảng nhận định: Quan điểm và thể chế
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bổ sung, hoàn thiện một bước quan
trọng và cơ bản…. Tuy nhiên, chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân
công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Tổ chức bộ máy và cơ
chế hoạt động của các thiết chế cơ bản trong bộ máy pháp quyền xã hội chủ nghĩa
như Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp còn những điểm chưa
thật hợp lý, hiệu lực, hiệu quả… Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí chưa
đạt yêu cầu đặt ra; tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng. Nguyên nhân của
tình trạng này được Đảng nêu rõ: Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
là vấn đề mới đối với nước ta. Sự phân định giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và
vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước còn những nội dung chưa rõ; phương thức
và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở các cấp còn chưa được chế định
rõ và phù hợp với nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền. Tổ chức thực hiện pháp
luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa chưa nghiêm.
Tại
Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta xác định: Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Nâng
cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai
trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở nguyên tắc
pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch,
phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước. Xây dựng hệ thống
pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch,
ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp
làm trọng tâm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền
vững.
Với
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ
hưởng”, Đại hội XIII của Đảng đã tiến hành điều chỉnh, bổ sung một số điểm mới
về tư duy xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân
được thực thi trên thực tế. Đồng thời, xác định rõ hơn vai
trò “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội làm nòng cốt” để nhân dân làm chủ. Đảng và Nhà nước ban hành
đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý,
tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.
Lý
luận và thực tiễn chỉ ra rằng, mô hình Nhà nước pháp quyền XHCN đã và đang được
triển khai xây dựng và hoàn thiện ở Việt Nam là một tất yếu khách quan. Tuy
nhiên, quá trình đó, theo nhận định của Đại hội XIII là vẫn còn nhiều hạn chế,
bất cập cả về nhận thức và tổ chức thực hiện; cùng với đó là những khó khăn,
thách thức đến từ sự chống phá của các thế lực thù địch với
mức độ, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp.
Xuyên
tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, phủ nhận nền
dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN là những trọng tâm chống phá “không
ngừng nghỉ” của các đối tượng và thế lực phản động, thù địch, đặc biệt là trong
bối cảnh hiện nay.
Nhằm phủ nhận nền dân chủ XHCN và Nhà nước XHCN, các quan điểm,
luận điệu chống phá “khẳng định” rằng chế độ dân chủ tư sản như nó đang tồn tại
ở phương Tây là chế độ dân chủ cao nhất, là thiên đường vĩnh hằng; rằng không
có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ, đa đảng, đa nguyên là thành
tố quan trọng nhất để xây dựng nên một quốc gia dân chủ, và đa đảng sẽ bảo đảm
quyền làm chủ đất nước của nhân dân; rằng CNXH là chuyên chính, không có dân
chủ. Theo đó, những “nhà dân chủ” đòi chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp năm 2013,
sửa đổi thể chế Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo mô hình tam quyền phân
lập, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo đối với xã hội, nhất là
đối với Nhà nước. Để “cộng hưởng” cho những giọng điệu đó, họ “minh họa” bằng
một số bất cập, thiếu sót trong thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước,
nhất là những khiếm khuyết liên quan đến quản lý cán bộ, đảng viên dẫn đến tình
trạng tham nhũng, tha hóa...
Cần khẳng định rằng, đa nguyên, đa đảng không phải là yếu tố duy
nhất, nền tảng duy nhất bảo đảm cho một nền dân chủ đích thực mà bản chất của
dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ là một giá trị xã hội, được
hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có lực lượng cầm quyền xã hội,
cơ chế quản lý xã hội và trình độ làm chủ của người dân… Vì vậy, một đảng lãnh
đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo và càng không đồng nhất với mất dân
chủ. Theo đó, không nhất thiết cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân
chủ thật sự. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động Việt Nam, quyền và lợi ích của Đảng hoàn toàn thống nhất với
nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước là để cho nền dân chủ XHCN cũng như quyền và
lợi ích hợp pháp của nhân dân luôn được bảo đảm.
Bằng
nhiều chiêu bài, các thế lực thù địch và thành phần “ngụy dân chủ” thường không
ngừng rêu rao về cái gọi là ranh giới giữa “xã hội dân sự” với nhà nước, giữa
“công” và “tư”, giữa “chính trị” và “phi chính trị”. Theo đó, họ “thổi lên tận
mây xanh”, tuyệt đối hóa, coi “xã hội dân sự” là mô hình xã hội nhân đạo nhất,
tốt đẹp nhất, dân chủ nhất và ngược lại, nhà nước là cơ quan bảo thủ, chuyên
chế và cưỡng bức. Theo đó, họ “kêu gọi” Đảng Cộng sản Việt Nam phải thúc đẩy “xã
hội dân sự” chứ không nên và càng không thể lãnh đạo xây dựng được Nhà nước
pháp quyền, của dân, do dân và vì dân.
“Xã
hội dân sự” còn là cái “cớ” để các thế lực chống phá đòi dân chủ hóa bất chấp
pháp luật, đòi Nhà nước phải bảo đảm tự do vô giới hạn trong các lĩnh vực; cổ
súy cho sự “vượt ngưỡng” và thái quá trong tự do cá nhân; đưa ra tự do ngôn
luận và nhân quyền để đòi lập hội, nhóm bất chấp quy định, kêu gọi biểu tình,
kích động trái phép. Bên cạnh đó, họ lợi dụng vấn đề viện trợ, quan hệ kinh tế,
thương mại, ngoại giao để gây sức ép với Đảng và Nhà nước ta về cái gọi là “vi
phạm dân chủ, nhân quyền”, hòng làm thay đổi đường lối, chính sách, hệ thống
pháp luật và lĩnh vực tư pháp của chúng ta.
Không phải ngẫu nhiên mà một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài
thường rất quan tâm đến những địa bàn trọng điểm về an ninh, chính trị, trật tự
an toàn xã hội ở nước ta. Phát triển các tổ chức “xã hội dân sự” luôn được
không ít “đối tác hai mặt” coi như một phương thức để “diễn biến hòa bình” tiến
tới “diễn biến không hòa bình” hòng triệt tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối
với Nhà nước ta.
Kiên quyết đấu tranh với quan điểm “Chỉ có thể
chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế tam quyền phân lập để kiểm soát
quyền lực”. Về thực chất, quan điểm này không hướng đến mục tiêu phòng,
chống tham nhũng mà muốn nhân danh chống tham nhũng, lợi dụng đấu tranh chống
tham nhũng để kích động đòi thay đổi thế chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo
của Đảng đối với Nhà nước, lật đổ Nhà nước XHCN. Các nước tư bản hầu như đều vận dụng thuyết tam quyền phân lập
trong xây dựng, tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước với nhiều biến thể khác
nhau, tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở không ít quốc gia tư bản, thể chế này
không thể ngăn chặn được sự chuyên quyền. Theo đó, có thể nói, “tam quyền phân
lập” không phải là mấu chốt để giải quyết vấn đề tham nhũng. Bởi, tham nhũng
xảy ra ở những nơi mà hệ thống pháp luật, cơ chế, quy chế còn bất cập, thiếu
kín kẽ, thiếu chặt chẽ, không công khai, minh bạch; sự kiểm tra, giám sát chưa
được duy trì có hiệu quả; vai trò của nhân dân, của dư luận xã hội chưa được
phá huy đầy đủ; các hoạt động quản lý, giáo dục bị buông lỏng… Chính vì vậy,
“tam quyền phân lập” không phải là “chìa khóa vạn năng” để xóa bỏ được nguồn
gốc, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng; không thể là phương thức và giải
pháp duy nhất để đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả. Bất kể thể chế
chính trị nào, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng chỉ có thể thành
công khi có quyết tâm chính trị cao, coi trọng công tác phòng ngừa trên cơ sở
kết hợp chặt chẽ giữa quản lý, giáo dục, tu dưỡng rèn luyện là cơ bản với trừng
trị nghiêm khắc những cá nhân vi phạm; hoàn thiện thể chế về chống tham nhũng,
tăng cường năng lực của bộ máy nhà nước và tính đồng bộ về pháp luật, pháp chế,
kỷ cương; thực hiện tốt việc giám sát của các tổ chức, cá nhân trong xã hội với
hoạt động của cơ quan nhà nước; có chính sách đãi ngộ với đội ngũ cán bộ công
chức, viên chức...
Đưa tinh thần của Đại hội XIII vào cuộc sống
một cách thiết thực, bảo đảm cho nền dân chủ XHCN được thực thi một cách hiệu
quả nhất. Nâng cao
hơn nữa nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Tiếp tục thực hiện đổi mới đồng bộ trên các mặt hoạt động lập pháp, hành
pháp, tư pháp; đổi mới trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và
giáo dục, khoa học và công nghệ; đổi mới tổ chức, hoạt động của
bộ máy nhà nước; xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Tích cực thực hành tiết kiệm, phòng ngừa và kiên quyết chống tham
nhũng, lãng phí; tăng cường nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống lại
những luận điệu sai trái, thù địch, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một
nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển trên con đường
đi lên CNXH.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét