Diễn đạt một cách hình ảnh, nếu Quốc thể được tạo thành từ toàn bộ những tư chất chung và riêng, phổ quát và đặc thù kiến lập nên dung mạo, hồn phách quốc gia Việt Nam; làm nên thần thái, vị thế, sức mạnh, khí phách đất nước Việt Nam; tỏa ra sức mạnh hiện hữu và tương lai dân tộc Việt Nam, nhìn bên trong qua suốt ngàn năm vẻ vang cương vực lãnh thổ, trông ra và xét bên ngoài thời đại nào cũng rạng rỡ khắp bốn bể năm châu khắp hoàn cầu, thì đó chính là sự trầm tích, kết tinh và thể hiện sức sống và tỏa sáng của văn hóa Việt Nam, của con người và dân tộc Việt Nam, kể từ khi lập quốc, bền bỉ và quật cường suốt mấy ngàn năm qua.
Đó là gì, nếu không phải chính là văn hóa?!
Theo đó, hiện nay có thể hình dung, nhận diện
và phát triển mấy tư chất căn bản và phương diện trọng yếu nổi bật, trong chức
năng “soi đường cho quốc dân đi” của văn
hóa, nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Quốc hồn Việt Nam: Văn hóa Việt Nam - nền
móng và xuyên thấm trong chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
“Chủ nghĩa cộng sản, coi như chủ nghĩa
tự nhiên hoàn bị = chủ nghĩa nhân đạo”! Đó là ý tưởng của C. Mác. Và, đó
chính là Văn hóa được viết hoa!
Việt Nam đi từ chủ nghĩa yêu nước, là văn
hóa, trên nền tảng chính trị chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghĩa
là văn hóa, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, dưới ngọn cờ của Đảng, để vươn
tới Văn hóa theo nghĩa viết hoa. Đó là
lô-gic phát triển Việt Nam từ năm 1930 trong tầm nhìn tới năm 2030 - một trăm năm
Đảng Cộng sản Việt Nam! Đó là con đường xã hội chủ nghĩa hiện thực Việt Nam từ
năm 1945 tới năm năm 2045 - một trăm năm Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam!
Trên con đường ấy, cần nắm lấy những gì?
Phải chăng là kiến tạo tầm nhìn, định vị chiến
lược, phát triển Đất nước phồn vinh, bền vững; bảo vệ độc lập, tự chủ, thống nhất
Quốc gia; hòa mục, hội nhập quốc tế; xây dựng, chỉnh đốn Đảng dẫn dắt Dân tộc
tiến cùng nhân loại?
Phải chăng cần một triết lý Văn hóa của sự
phát triển mạnh mẽ và bền vững, để Quốc gia Tự tôn - Mỗi người Tự trọng - Dân tộc
Tự cường - Tổ quốc Phồn vinh?
Và, phải chăng, tất cả nhằm xây dựng nước Việt
Nam độc lập, thống nhất, công nghiệp, hiện đại, phồn thịnh, hùng cường, văn hiến,
giữ vị thế xứng đáng trên trường quốc tế?
Nghĩa là nhìn lại và trông tới từ cội nguồn chủ nghĩa yêu nước, những bước xuyên qua kinh tế thị trường định, bằng chính trị xã hội chủ nghĩa, thông qua công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, để tới Văn hóa tức là chủ nghĩa xã hội, và đó là con đường phát triển tự nhiên của đất nước, phù hợp với xu thế phát triển tương lai của loài người. Nghĩa là, đối với chúng ta, trên nền tảng văn hóa mấy nghìn năm, triết lý phát triển “chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc...”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói. Đó cũng chính là mục tiêu phát triển mang tầm chiến lược của văn hóa Việt Nam.
Quốc khí Việt Nam: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - thống nhất, dân chủ, hùng cường
Không một quốc gia, dân tộc nào phát triển
và thịnh vượng không có, không gìn giữ và không nối đời vun đắp quốc khí. Ấy là
vận khí và khí vận của quốc gia. Việt Nam không nằm ngoài quy luật muôn đời ấy.
Nhưng, sinh ra, phát triển và trường tồn ở một
vị trí mang tầm vóc địa chính trị, địa kinh tế án ngữ ngã ba con đường giao lưu
từ Á sang Âu, cũng là địa quân sự hiểm yếu nhìn ra Biển Đông, nối khắp những biển
lớn: từ Thái Bình Dương tới Ấn Độ Dương, đồng thời là nơi hợp lưu tiếp biến và
thâu hóa những dòng văn hóa lớn lên mặt Bắc, xuống phương Nam, ra phía Đông…
nên Việt Nam không chỉ đơn thuần bồi tụ và phát triển quốc khí, mà bước theo tiến
trình lịch sử dựng nước, giữ nước và giao lưu quốc tế của mình, còn chăm lo quốc
khí ấy thành nguyên khí quốc gia.
Nguyên khí là cái gốc cũng là cái đỉnh cao
phát triển của quốc khí, làm nên Quốc thể.
Nói về nguyên khí, khi xét quốc khí, tức cái
khí vận và vận khí của quốc gia, thì
nguyên khí là chỉ cái khí đầu tiên, khi trời đất hỗn độn chưa phân chia, vũ trụ
chưa định hình. Vì thế, nên nguyên khí là khởi đầu của trời đất, là tổ của vạn
vật, cũng là khí của tự nhiên, của giang san, cho nên nguyên khí là thiên khí
nghĩa là vậy. Nguyên khí cũng là tinh thần, tinh khí một mặt của chính con người
; đồng thời chỉnh là lực lượng vật chất, tinh thần của quốc gia. Bởi thế, cổ
nhân ta nói: “Đạo trị nước, trước tiên là bồi dưỡng nguyên khí” (Trị quốc chi đạo,
tiên tại dưỡng kỳ nguyên khí). Cổ nhân ta lại nói: “Hiền tài là nguyên khí của
quốc gia” là vậy. Nói xác đáng, từ lịch sử mấy ngàn năm, nguyên khí là tinh thần,
tinh khí, là lực lượng tinh thần (và cả lực lượng vật chất) của quốc gia dân tộc
Việt Nam. Đó chính là văn hóa.
Nhìn lại lịch sử Việt Nam, có thể nói, dường
như đất nước Việt Nam sinh ra cùng với lịch sử chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhưng
đầy máu và nước mắt của mình cùng sự tận cùng khó khăn như sinh tử của việc bảo
vệ và thống nhất giang san. Chỉ tính trong 2020 năm sau Công nguyên, dân tộc Việt
Nam bước qua và kết liễu 11 cuộc đại chiến tranh vệ quốc, đánh bại đủ loại giặc
ngoại xâm hung bạo nhất của mọi thời đại đến từ phương Bắc, phương Đông tới
phương Tây và giữa những cuộc vệ quốc vĩ đại ấy là gần 500 cuộc khởi đủ quy mô,
trải khắp Bắc Trung Nam, vì Tổ quốc Việt Nam độc lập và thống nhất. Từ “Nam quốc
sơn hà” (năm 1077) qua “Bình Ngô đại cáo” (năm 1428) tới “Tuyên ngôn độc lập”
(năm 1945) đều khẳng định cái khí ấy, cái vận khí và khí vận quốc gia độc lập
và thống nhất ấy, với tư cách là những tuyên ngôn bất hủ. Trong 2020 năm ấy,
dân tộc Việt Nam đã phải đối mặt và trải qua tối thiểu gần 1.500 năm chiến
tranh giữ nước, vì độc lập và thống nhất quốc gia. Quốc thể thăng trầm ở đó và
văn hóa cũng hiện diện chính là ở đó.
Nhìn lại như thế để càng thấy và càng khắc
thêm cái vô giá được trả bằng máu của nền độc lập, của hòa bình và thống nhất của
dân tộc Việt Nam từ suốt trường kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước. Vì thế, hơn hết
bao giờ, chúng ta càng phải tự mình gây dựng và bảo vệ nền độc lập, sự thống nhất
quốc gia và trở nên hùng mạnh. Nước không độc lập, thống nhất tất biệt phái,
phân ly và mất tự do, không hùng mạnh thì khó lòng độc lập và thống nhất. Và, rốt
cuộc, hậu quả Nhân dân sẽ bị làm nô lệ, dù hình thức này hay khác, ở mức độ này
hay kia.
Tất cả hun đúc và làm nên văn hóa dựng nước
và văn hóa giữ nước thấm sâu, thống nhất và hiện diện qua mấy chục triều đại độc
lập, trải suốt mấy ngàn năm qua là như vậy.
Chiến tranh chống ngoại xâm, dù kẻ thù tàn bạo
thế nào, dù hung hiểm bao nhiêu suốt mấy nghìn năm qua, như đã thấy, cũng không
thể khuất phục và tiêu diệt được dân tộc Việt Nam độc lập và thống nhất. Nhưng,
chính lúc này đây, lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đang vang vọng, rằng: “Còn non, còn
nước, còn người…”; rằng: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”; và rằng: “Nếu nước
độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý
gì”. Đó chính là dân chủ và thước đo phát triển dân chủ và dân chủ phát triển
trên nền móng quốc gia Việt Nam độc lập và thống nhất.
Đó chính là Quốc thể Việt Nam hiện nay, là
liêm sỉ của mỗi một người Việt Nam lúc này. Nếu không biết giữ lấy, đau đáu và
chăm lo vun đắp Quốc khí ấy và liêm sỉ và Quốc sỉ ấy để đất nước ngày càng tự
mình độc lập, thống nhất, dân chủ và hùng cường, thì họa đất nước suy vong, lệ
thuộc mới sẽ tới và theo đó, thân phận mỗi người lâm vào vòng vong quốc nô mới,
sẽ cận kề! Gần 100 triệu người Việt Nam, dù ở khắp hoàn cầu, cần một chữ Đồng,
vì vị thế, sức mạnh, danh dự và uy tín Việt Nam trước hoàn cầu! Vì, tất cả người
Việt Nam chúng ta là đồng bào, đều sinh ra từ một bọc trứng của Mẹ Âu Cơ vĩ đại!
Đó là ý chí, lương tri, là nhân phẩm và đạo
lý đồng bào suốt mấy ngàn năm dồn tụ, kết tinh và làm nên khát vọng Quốc khí -
nguyên khí của Quốc thể Việt Nam!
Quốc chính Việt Nam: Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa
Đó là chính thể nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Với tư cách là hình thức tổ chức các cơ quan
quyền lực tối cao, Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp được lập ra với cơ cấu,
trình tự và mối liên hệ của chúng với nhau bằng sự tham gia và quyết định của
Nhân dân trong việc thiết lập các cơ quan này, thông qua nguyên tắc bầu cử bình
đẳng, phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín, Nhân dân bỏ phiếu bầu ra cơ quan đại
diện của mình, lập nên chính thể Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quyền lực nhà nước tối cao thuộc về Quốc hội: có quyền lập pháp, quyền giám sát
tối cao đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, quyết định những vấn đề
quan trọng của quốc gia. Và, với tư cách là một thực thể chính trị có đủ tư
cách, đứng độc lập, có quyền duy nhất thống lĩnh giang sơn xã tắc, cai quản
trong cương vực quốc gia, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
"Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa", theo Điều 2, Hiến pháp 2013.
Đây là sự kết hợp giữa hai kiểu nhà nước: Nhà nước xã hội chủ nghĩa và Nhà nước
pháp quyền.
Chính thể Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được Hiến pháp khẳng định việc tổ chức quyền lực nhà nước phải đặt dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính
trị Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Điều 4 Hiến pháp 2013 nêu
rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời
là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung
thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy
chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng
lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Quốc chính ấy đòi hỏi văn hóa chính trị
tương dung. Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp quyền trở thành mối quan hệ căn bản
và nóng bỏng. Và, văn hóa lấy đó làm mục tiêu và động lực phát triển của mình.
Hành động cao nhất lúc này là, Đảng phải xứng
đáng “vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của Nhân dân”,
“là đạo đức, là văn minh, là thống nhất, độc lập, là hòa bình ấm no”, vì “Đảng
ta là một Đảng cầm quyền”, “Đảng cũng ở trong xã hội”, như Hồ Chí Minh mong mỏi.
"Phải đưa chính trị vào giữa dân gian". Trước kia, việc gì cũng từ
"trên dội xuống". Từ nay việc gì cũng phải từ "dưới nhoi
lên", “Dân là gốc”, “Dân làm gốc”. Phải tổ chức, xây dựng một Nhà nước Việt
Nam pháp quyền khoa học, phù hợp, mạnh mẽ và sáng suốt với đội ngũ cán bộ, công
chức thực lòng là công bộc của dân. Phải kiểm soát, đẩy lùi những sự tha hóa,
thoái hóa quyền lực của một bộ phận không nhỏ người được giao quyền lực - cội
nguồn đẻ ra những hủ bại làm băng hoại thể chế quốc gia: “Miệng thì nói dân chủ,
nhưng việc làm thì họ theo lối “quan” chủ. Miệng thì nói “phụng sự quần chúng”,
nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm
và chính sách của Đảng và Chính phủ”. Phải trừng phạt nghiêm minh các tệ: “Tham
ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không,… làm hỏng tinh thần trong sạch
và ý chí khắc khổ cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm,
liêm, chính... Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám”. Pháp luật
phải là “bà đỡ” của dân chủ, của tự do. Và, tự do đối với chúng ta, vừa là mục
đích vừa là con đường để giải phóng Nhân dân và nhân dân tự giải phóng mình. Mọi
quyền dân chủ của Nhân dân phải được thể chế hóa bằng Hiến pháp và pháp luật, đồng
thời hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do dân chủ của Nhân dân được
tôn trọng và bảo vệ. Đó là mục tiêu chính trị của dân chủ, của văn hóa pháp luật,
của đạo đức hành động chính trị lúc này… mà chúng ta cần và dứt khoát kiên định
thực thi.
Hành động cao nhất lúc này là, dưới ngọn cờ
của Đảng, Chính phủ “phải có chính trị trước rồi có chuyên môn; chính trị là đức,
chuyên môn là tài”, Chính phủ phải đem “tài dân, sức dân, của dân để làm lợi
cho dân”. Chúng ta đang hướng tới xây dựng một Chính phủ hành động, phục vụ
nhân dân với tầm nhìn dù là trung hạn, quyết sách quản trị quốc gia vĩ mô và
con đường thực thi dù là chiến lược. Xin nhấn mạnh, Chính phủ phải có chính trị
trước. Vì, nền chính trị Việt Nam là một nền chính trị đạo đức hay nền chính trị
nhân bản, với hạt nhân “Nước lấy dân làm gốc”; “sao cho được lòng dân”; rằng,
“Chính phủ là công bộc của dân”, “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc
gì có hại cho dân phải hết sức tránh”; rằng, “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao
nhiêu quyền hạn đều của dân”, và rằng, “Dân làm chủ thì chủ tịch, bộ trưởng, thứ
trưởng, ủy viên này khác là làm gì? Làm đày tớ. Làm đày tớ cho Nhân dân, chứ
không phải là làm quan cách mạng”, “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền
đuổi Chính phủ”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo. Chúng ta phải bảo đảm sao
cho pháp quyền là sự cai trị của pháp luật chứ không dừng ở pháp trị là sự cai
trị bằng pháp luật. Và, theo đó, mấu chốt quan trọng là, Nhân dân cũng như Nhà
nước, tất cả đều bình đẳng và tự do trước pháp luật.
Quốc lực Việt Nam: Công nghiệp hiện đại phát
triển mạnh mẽ, bền vững và nhân văn
Bất kể quốc gia nào cũng phải hết sức coi trọng
xu thế phát triển của thời đại, những giá trị phổ quát của nhân loại thì chính
giá trị chung phổ quát ấy và là xu thế phát triển của thời đại đó; và các mục
tiêu cơ bản có tính bản chất và có tính nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội là nhất
trí hay gần đồng nhất với nhau. Bởi các nước càng phát triển lên văn minh và hiện
đại thì càng gần với chủ nghĩa xã hội văn minh, hiện đại, nhân văn và phát triển
bền vững. Định hướng xã hội chủ nghĩa làm cho nó phù hợp với tính phổ quát và
xu thế nhân văn, tất yếu ấy chứ không phải chủ nghĩa xã hội là khác, ngược với
xu thế ấy.
Sức mạnh của quốc gia từ nền móng sức mạnh của
kinh tế.
Lịch sử thế giới xác tín, một quốc gia chỉ cần
ba, bốn thập kỷ để trở thành một cường quốc kinh tế nhưng phải cần hành trăm
năm, thậm chí nhiều trăm năm mới có thể trở thành cường quốc văn hóa.
Việt Nam khát vọng trở thành cường quốc kinh
tế một cách văn hóa!
Chính vì vậy, chúng ta phát triển nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một cách đặc thù, nhưng cần tránh rơi
vào vũng bùn của căn bệnh đặc thù (chủ nghĩa ngoại lệ). Hơn nữa, cần thấy rằng,
cái đặc thù là trên cơ sở cái chung, mang tính bản chất cụ thể, (có thể chưa)
toàn vẹn, chứ không phải nằm ngoài cái chung. Mối quan hệ giữa kinh tế và văn
hóa, đạo đức và thị trường trở thành vấn đề chiến lược nhưng nóng bỏng trong
phát triển kinh tế. Đó là tầm nhìn của chính trị và của chính văn hóa về phát
triển kinh tế đất nước.
Xét về xu hướng và tính phổ quát, giá trị
chung nói trên thì, nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa không phải là cái
ngoại lệ nào đó. Bởi vì tính xã hội chủ nghĩa nảy sinh trên nền tảng kinh tế -
xã hội hiện đại thông qua biến đổi có tính cách mạng gạt bỏ hình thức kinh tế
xã hội lỗi thời của nó - chủ nghĩa tư bản mà thôi. Do đó, nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội là một nấc thang, một giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị
trường xã hội chủ nghĩa hiện đại, hoàn bị, dưới chủ nghĩa xã hội, chứ không phải
là thứ gì khác. Nó là công cụ dưới chủ nghĩa xã hội, để tạo nên thực lực
và sức mạnh Việt Nam, tôn vinh vị thế và uy tín
Quốc thể Việt Nam.
Cần thiết phải thấy rằng, mỗi quyết sách về
kinh tế cần bắt đầu từ nền móng trước hết là một quyết sách về chính trị, văn
hóa và nhân văn, để tránh rơi vào quyết định luận kinh tế đơn thuần, nhất là khắc
chế cái quy luật tàn khốc “cá lớn nuốt cá bé”, “kinh tế vị kinh tế”, “tiền vị
tiền”, cổ xúy vô hình cho thói “tiề trao cháo múc”, “trả tiền ngay, lạnh lùng
không tình nghĩa”… của thị trường mà không ít quốc gia mắc phải khi cùng xây dựng
và phát triển nền kinh tế thị trường. Đó chính là tính nhân văn, tính đạo đức
làm nên bản chất nhân văn của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, vì Nhân dân và cho Nhân dân, vì sự hùng mạnh của quốc gia, mà chúng ta
đang quyết tâm xây dựng và phát triển mang tầm chiến lược. Đó cũng là bản chất
ưu việt của chế độ ta, nhân tố làm nên sức mạnh và tôn vinh Quốc thể Việt Nam.
Do đó, công việc mấu chốt cần kíp tập trung
đổi mới ở đây đối với chúng ta là vấn đề thể chế. Nói đến thể chế, trước hết
và trung tâm là nói đến vai trò của Nhà nước trong và đối với nền kinh tế đất
nước hiện nay, thông qua các việc chế định và định chế các cơ chế,
chính sách vĩ mô và đòn bẩy đối với nền kinh tế, theo chủ kiến của
Nhà nước. Nói xác đáng đó là mối quan hệ giữa Nhà nước và thị
trường, xét ở mọi chiều cạnh cả chính trị lẫn kinh tế và văn hóa.
Cần nhấn mạnh, trong mối quan hệ giữa
Nhà nước và thị trường, thì Nhà nước tập trung làm tốt các công việc: đẩy
mạnh hội nhập quốc tế đưa kinh tế Việt Nam vận động theo quỹ đạo kinh tế thị
trường hiện đại; đổi mới thể chế bảo đảm tôn trọng và củng cố các nền tảng cơ bản
của kinh tế thị trường; ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựng, bảo vệ các nền tảng về
kinh tế và pháp lý của kinh tế thị trường; khắc phục, sửa chữa các khiếm khuyết
và dự báo những chấn động, những “cú sốc”, “cú co giật” của thị trường; xây
dựng đội ngũ điều hành nền kinh tế một cách ngang tầm... nhằm chủ động
phân bổ đúng, trúng và kiểm soát hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển bền
vững; đồng thời, song hành thực hiện tốt các chức năng xã hội nhằm bảo đảm công
bằng, văn minh và tiến bộ xã hội. Nói gọn lại, Nhà nước làm nhiệm vụ kiến tạo
phát triển, dẫn lối và chuẩn bị những điều kiện cần và đủ để kiểm
soát, điều tiết nền kinh tế thị trường một cách dân chủ và nhân văn.
Chính vì thế, khi chúng ta vượt qua và thoát
khỏi vòng kiềm tỏa về văn hóa trên phương diện phát triển kinh tế, thì đồng thời
thoát khỏi vòng kiềm tỏa về kinh tế một cách văn hóa, để phát triển mạnh mẽ và
bền vững của chính kinh tế quốc gia. Nhà nước cần có chính sách giảm thiểu nhập
siêu, khuyến khích người trong nước sản xuất kinh doanh. Người Việt phải xây dựng
được một nền kinh tế độc lập, phải mở được những lối đi riêng, tạo dựng được những
mô hình phát triển khác các nước khác. Phải phấn đấu trở thành hội điểm đầu tư
và thương mại toàn cầu. Việc này nói thì dễ mà làm thì rất khó. Nhưng không vì
thế mà không gắng sức, vì tương lai dân tộc phụ thuộc phần nhiều vào chính chỗ
văn hóa này. “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập
cũng chẳng có nghĩa lý gì”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói. Đó là bẳn chất văn
hóa của nền kinh tế quốc gia hiện nay và tương lai.
Điều cần cảnh báo là, tư duy chộp giật, “sống
chết mặc bay tiền thày bỏ túi” của nhiều người có trách nhiệm đã và đang dung
túng tình trạng này, gây hại lâu dài cho nền kinh tế, nhưng đáng lo hơn là, làm
tổn thương văn hóa và chính trị. Chúng ta phải trách mình trước hết, vì nếu
không non kém, không tiếp tay thì làm sao ai có thể tác oai tác quái. Dung
túng, tiếp tay cho những tệ nạn đó, giữa thời buổi cạnh tranh của thị trường,
thử hỏi có khác nào mua dây để tự trói chân mình, tự mình làm băng hại mình. Mà
khi mua dây để tự trói chân mình, thậm chí tự buộc mình một cách khiếm khuyết
văn hóa như thế, thì làm sao có thể đi nhanh, đi xa vfa bền vững cho được?
Những thói hư tật xấu nảy sinh trong nền
kinh tế thị trường đang tác oai tác quái làm suy đồi văn hóa và đạo đức của
chúng ta. Bệnh hình thức hư danh, tật khoe khoang thành tích, thói nịnh trên lừa
dưới, tệ chạy chức chạy quyền… đã thành phổ biến, nên không còn cách nào khác
là phải dứt bỏ để học những giá trị tiến bộ của một thế giới mới như dân chủ, tự
do, bình đẳng, bác ái, thực học thực nghiệp… thì mới có thể tiến kịp người. Nạn
chuộng bằng cấp hư danh, tệ mua quan bán chức, thói tầm chương trích cú, ếch ngồi
đáy giếng, ngông nghênh coi thường chân lý, bệnh phụ mẫu quan phương, thậm chí
xem nhẹ kinh tế… phải bị loại trừ, để dân tộc Việt Nam ngẩng đầu đồng hành tiến
cùng nhân loại.
Vấn đề phát triển mạnh mẽ và bền vững của
kinh tế Việt Nam hiện nay dường như cho thấy cần phải giải quyết ở tầm nhìn,
sâu hơn là tầm chủ thuyết phát triển kinh tế trong mối quan hệ tổng thể, toàn
diện và đồng thời về phát triển kinh tế với chính trị và văn hóa, chứ không phải
đơn thuần chỉ dừng lại xem xét những chính sách kinh tế thành công biệt lập hay
sai lầm yếu kém đơn lẻ, dù là vô cùng cần thiết, và vô hình tự bó mình vào đó.
Và, nếu trái thế, chắc chắn thất bại là điều được báo trước, cũng “lạnh lùng vô
tình vô nghĩa”!
Quốc bảo Việt Nam: Dân là gốc Nước
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một
nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền,
hải đảo, vùng biển và vùng trời. Trên con đường phát triển, mỗi quốc gia, dân tộc,
tất cả đều phải lựa chọn quốc sách và phương thức hành xử riêng, tùy thuộc vào
điều kiện cụ thể của mình và thời đại. Và, chúng ta thấy, những sự lựa chọn
khác nhau đã đưa các quốc gia, dân tộc phát triển rất khác nhau, thậm chí khoảng
cách rất xa nhau. Nói một cách hình ảnh, đối với chúng ta, khi công cuộc đổi mới
toàn diện, đồng bộ bước sang nhịp sóng thứ hai, khi cuộc Cách mạng Công nghệ
4.0 bùng nổ, càng không thể chấp nhận bộ máy 1.0, lại càng không thể thừa nhận
một thể chế trình độ 0.4.
Vì thế, muốn trở nên hùng mạnh và đi xa, nhất
định phải lấy con người làm mục tiêu, chủ thể, động lực và là nhân tố quyết định
phát triển Việt Nam, dù ở bất cứ phương diện này hay thời kỳ kia. Nói cách
khác, con người phải là trung tâm của mọi sự phát triển, và mọi sự phát triển
phải xoay quanh con người, vì và cho con người, chứ không phải ngược lại; với một
thể chế tương dung. Đó là yêu cầu khách quan và nhu cầu của chính khâu đột phá
của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ vì quốc gia phát triển mạnh mẽ và bền
vững sẽ bàn định và xác quyết tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng.
Chính trị, nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, là
đạo đức! Đạo đức, lúc này, là hành động. Do đó, hành động lúc này đó chính là
tôn vinh quyền lực của Nhân dân trong việc cử ra, tổ chức nên bộ máy nhà nước
cũng như toàn bộ hệ thống chính trị nước ta. Nó là “sự tự quy định của Nhân
dân”, “là sự nghiệp của bản thân Nhân dân” (K.Marx); đòi hỏi “sự bình đẳng giữa
những người công dân..., mọi người ngang nhau trong việc xác định cơ cấu nhà nước
và quản lý nhà nước” (V.I.Lenin). Nó càng cho thấy, không phải Nhà nước tạo ra
Nhân dân mà Nhân dân tạo ra chế độ nhà nước, phù hợp với nguyện vọng và ý chí của
nhân dân. Đó là nhà nước do dân và nó có nhiệm vụ hướng tới phục vụ Nhân dân,
vì nhân dân, là sự nghiệp của bản thân Nhân dân. “Chính quyền từ xã đến chính
phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ trung ương đến xã do dân tổ chức nên…
quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền.
Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy” (Hồ Chí
Minh).
Hành động cao nhất lúc này là bảo vệ lợi ích
của Nhân dân là tối cao, quyền lợi của dân tộc là tối thượng! Xin nhắc lại:
“Sông phía Bắc, biển phía Đông. Nếu không dân cũng là không có gì”. Lòng tin của
Nhân dân là nền móng vững bền của thể chế, là quốc bảo của chế độ, là tài sản
vô giá của Đảng!
Nếu xem thời cơ là lực lượng hiện thực thì
cuộc cách mạng công nghiệp mới này là lực lượng cho cả trăm năm. Không thể do dự,
phải chủ động nắm lấy và thực thi một cách quyết liệt, với những đột phá, tạo
những “cú nhảy” bứt phá trên con đường phát triển, nếu coi nhẹ con người; và
như thế nhất định tụt hậu và vô phương cứu vãn. Hơn hết bao giờ, do đó, phải cấp
bách lựa chọn ưu tiên và quyết liệt xây dựng, thực thi Chiến lược Phát triển
Nhân tài quốc gia - rường cột của khâu đột phá chiến lược phát triển con người.
Đây chính là động lực căn bản mang tầm đột phá chiến lược để nắm lấy, làm chủ
thời cơ với chủ thể phát triển chiến lược trong tầm nhìn 2045.
Nói gọn lại, phải xác lập tầm viễn kiến, xây
dựng và thực thi Chiến lược Phát triển Nhân tài quốc gia và đây chính là Quốc
sách phát triển quốc gia hiện nay và tương lai.
Lòng Dân, sức Dân - Quốc bảo phát triển Việt
Nam nằm ở chính đây! Đây chính là nhân tố bất biến chiến lược để ứng với mọi khả
biến trên con đường Việt Nam phát triển.
Quốc tín Việt Nam: Thủy chung, hòa mục, tín
nghĩa, nhân văn
Bất kỳ quốc gia nào cũng đều có nét đặc
trưng rất riêng và đáng được tôn trọng, mọi so sánh đều không công bằng và khó
tránh có sự thiên vị. Một dân tộc được định hình chính bởi cái gì? Có phải là bởi
đất đai, tài nguyên của dân tộc đó hay không? Chắc hẳn là không. Người ta phân
biệt dân tộc này với dân tộc khác bởi chính văn hóa của nó. Không có và không
thể so sánh, đánh giá về nền văn hóa cao này cao hay nền văn hóa kia thấp, chí
có những nền văn hóa khác nhau. Càng tới
lúc chúng ta và bất cứ ai đó cần hiểu rõ hơn về cả hai sự thật đó và tìm kiếm
những liên kết mạnh mẽ, sâu sắc kết nối các nền văn hóa của các quốc gia dân tộc
trên thế giới. Lịch sử có từ lâu đời thường đọng lại trong tim của người đương
thời.
Càng ra biển lớn càng cần có những phẩm chất
cốt lõi riêng, những sức mạnh nội tại để tạọ nên giá trị từ chính sự khác biệt.
Những giá trị này không chỉ là thái độ sống mà còn định vị thương hiệu của một
quốc gia trong xu hướng hội nhập toàn cầu.
Vào những lúc này, mắt ta phải nhìn xa trông
rộng, phải tìm cách kết thân với những người có cùng mối lo âu để đồng tâm đối
phó. Muốn vậy, chúng ta phải thiện chí thành tâm, đặt lợi ích quốc gia, vận mệnh
Tổ quốc lên trước hết, trên hết.
Trong hội nhập toàn cầu, dân tộc ta khác,
phong hóa, đất đai, vị thế của nước ta cũng rất khác. Vậy hà cớ gì chúng ta phải
bắt chước theo ai, phải lệ thuộc ai. Tham vọng bá quyền của thiên hạ gắn liền với
âm mưu mở rộng biên giới quốc gia. Giờ việc chúng ta cần làm là hãy tự mình trở
nên hùng mạnh mới có thể giữ được vẹn toàn cương thổ.
Vì, “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ
ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”, như Chủ tịch Hồ
Chí Minh nói. Hơn nữa, hiện nay, thế thời đã đổi, thế giới đã mở rộng muôn
phương. Đoàn thuyền ra biển lớn phần đông đều đi theo một hướng. Và hướng đi ấy
phù hợp với quy luật phát triển của một thế giới mới với những tư duy mới. Phải
dũng cảm buông bỏ mọi sự chuyển dịch vu vơ hay áp đặt vô lối để củng cố và phát
triển bản sắc của mình, phải vứt bỏ sợi dây vô hình hay hữu hình đang trói buộc
mình thì bàn tay khối óc mới được giải phóng, sự độc lập và sáng tạo mới được
thành tựu vẻ vang. Đó là tầm nhìn, là tư duy, là quyết sách…và đó chính là văn
hóa.
Nếu như chỉ mê muội sùng kính những thứ người
ta đã phải vứt bỏ đi, thì mãi lếch thếch lôi thôi theo sau người khác thì cũng
là điều sẽ không tránh khỏi!
Quốc sỉ Việt Nam: Quốc gia tự tôn - Mỗi người tự trọng - Dân tộc
đại đoàn kết - Tổ quốc tự cường
Mọi dân tộc đều có lòng yêu nước mãnh liệt,
chỉ với một ngày kỷ niệm hằng năm, khi đối đầu với một quốc gia thù địch lâu đời,
hoặc chỉ đơn giản là một câu nhận xét vu vơ, lòng tự tôn ấy lại trỗi dậy.
Nếu không bắt đầu từ lịch sử và triết học
thì mối quan hệ của con dân với Tổ quốc, lòng yêu nước, rất khó để cắt nghĩa.
Đó chính là sự vận động của văn hóa. Mối liên kết của mỗi người đối với tinh thần
dân tộc cũng như văn hóa của nước nhà đều rất sâu sắc và độc đáo. Lòng yêu nước
vẫn luôn tồn tại trong mỗi người. Mọi
người ai cũng muốn có lòng tự tôn cao – nhưng trau dồi nó là một điều khó khăn
hơn chúng ta nghĩ. Nhiều người trong chúng ta nhận ra tầm quan trọng của việc
nâng cao cảm thụ của mình về giá trị của bản thân. Khi lòng tự tôn của chúng ta
cao hơn, chúng ta không những cảm thấy tốt hơn về mình, mà chúng ta còn trở nên
kiên cường hơn nữa. Rất hiếm thấy dân tộc
nào như dân tộc Việt, vì dù bị hơn ngàn năm đô hộ bởi phong kiến phương Bắc, rồi
một thế kỷ thực dân cũ, mới… nhưng vẫn không “đồng hóa” được dân tộc này bởi
lòng tự hào, tự tôn dân tộc đã trở thành bộ gen di truyền của người Việt Nam
Tuy lòng tự tôn cao là một điều tuyệt vời,
nhưng việc nâng cao nó không phải là điều đơn giản. Sự tự tin thái quá - như những
người ái kỷ - thì lại trở nên mong manh, rất dễ bị tổn thương. Đó chính là sự
cân bằng của văn hóa.
Ý thức tự tôn dân tộc là ý thức về sự tồn tại
vững bền, sức sống mãnh liệt của dân tộc, bảo vệ cội nguồn, đề cao những giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trước hết là những giá trị về lòng yêu nước,
cần cù, sáng tạo, về lòng nhân ái, khoan dung, hiếu học; tự hào về truyền thống
lịch sử, đấu tranh dựng nước, giữ nước và đấu tranh cách mạng của dân tộc; tinh
thần sẵn sàng bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tinh thần tự giác
trong đề phòng, ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại hoàn toàn mọi âm mưu, hành động
xâm phạm tới lợi ích của quốc gia dân tộc.... Ý thức tự tôn dân tộc còn thể hiện
ở sự tự giác sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật, theo các chuẩn mực đạo
đức, phong tục, tập quán của cộng đồng dân tộc, biết tiếp thu tinh hoa văn hóa
thế giới có chọn lọc, giữ gìn và quảng bá hình ảnh và nét đẹp của dân tộc, tạo
hình ảnh đẹp và tin cậy với bạn bè quốc tế trong giao lưu, hội nhập.
Sự kiện dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa
và giành lại được độc lập sau gần một nghìn năm Bắc thuộc là một sự kiện hy hữu
trên thế giới. Sau khi giành được độc lập, quá trình này được tiếp nối không chỉ
ở các cuộc kháng chiến vệ quốc, mà còn ở các nỗ lực giữ gìn ngôn ngữ, văn hóa ở
các triều đại sau này. Cũng cần lưu ý rằng, chủ nghĩa dân tộc, nói như Chủ tịch
Hồ Chí Minh, như “ là động lực lớn của đất nước... Phát động chủ nghĩa dân tộc
bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản... Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi...
nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế” đóng vai trò
như một chất keo quan trọng kết dính khối đoàn kết quốc gia.
Việt Nam sẽ không tồn tại mà thiếu đại đoàn
kết dân tộc, và cho dù có phép màu kinh tế để năm 2045 trở thành nước công nghiệp
có thu nhập cao cũng sẽ không thành hiện thực nếu thiếu lòng tự hào dân tộc,
lòng yêu nước nồng nàn của hai thế hệ thứ năm, thứ sáu, thứ bảy tương lai, trên
nền móng bốn thế hệ kể từ khi lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945.
Chúng ta phải tự mình trở nên hùng cường!
Đó là nền móng để dân tộc Việt Nam tự tin
trên hành trình phát triển cùng nhân loại.
Đó cũng chính là chiều sâu, là sức mạnh tiềm
ẩn và hiện hữu của văn hóa tô thắm Quốc thể Việt Nam!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét