Những giá trị mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã theo đuổi suốt cuộc đời mình cũng rất gần với những giá trị mà
UNESCO đã và đang thúc đẩy kể từ khi thành lập năm 1945 đến nay. Nhiều triết
lý, tư tưởng, phương châm sống và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn có giá
trị với chúng ta ngày nay. UNESCO vui mừng nhận thấy các giá trị Hồ Chí Minh đã
và đang tiếp tục được thúc đẩy không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên
toàn thế giới”. Đó là chia sẻ của ông Michael Croft, Quyền Trưởng đại diện Văn
phòng UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc) tại Việt
Nam.
Sự kết hợp hài hòa văn hóa Đông - Tây trong một nhân cách lớn
Chúng ta biết Đại hội
đồng UNESCO năm 1987 đã thông
qua một nghị quyết nhằm khuyến nghị các quốc gia thành viên cùng tham gia
kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh hùng giải phóng
dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam (1890-1990). Tôi cho rằng, đây là
một sự kiện rất có ý nghĩa, thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế, ở đây
chính là sự ghi nhận của các quốc gia thành viên UNESCO, đối với vai trò của hệ
tư tưởng và những cống hiến cho cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Những giá trị mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo đuổi suốt cuộc đời
mình cũng rất gần với những giá trị mà UNESCO đã và đang thúc đẩy kể từ khi
thành lập năm 1945 đến nay là xây dựng hòa bình thông qua hợp tác quốc tế. Ngày
nay, hệ tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị đối với công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước Việt Nam. Vì vậy, sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế từ
năm 1987 giúp khơi gợi thêm niềm tự hào của người dân Việt Nam về một nhân vật
lịch sử đã có những đóng góp vĩ đại không chỉ cho đất nước mình mà còn cho nền
hòa bình trên thế giới.
Văn hóa khoan dung của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện ở nhận
thức, tư duy, phương pháp cách mạng của ông. Trong hành trình cứu nước và lãnh
đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp nhận
chọn lọc hầu hết các giá trị tư tưởng lớn của loài người từ cổ chí kim, từ Đông
sang Tây: Từ tư tưởng nhân nghĩa, đề cao sự tu dưỡng cá nhân của Nho giáo;
sự từ bi, vị tha của Phật giáo; tư tưởng dân chủ, bình đẳng của phương Tây đến
tư tưởng duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa
Mác-Lênin. Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu giá trị tư tưởng tiến bộ
trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân
quyền Pháp năm 1791.
Tôi cũng được biết, ngay từ những ngày đầu tiên ở cương vị lãnh
đạo đất nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ, Việt Nam sẽ luôn thể
hiện tinh thần hữu nghị, hợp tác với bất kỳ quốc gia nào coi Việt Nam là một
quốc gia tự do và độc lập. Những ví dụ đó cho thấy, Hồ Chí Minh là một trong
những chính khách đi tiên phong cổ vũ về giá trị tinh thần khoan dung, đối
thoại văn hóa, tin tưởng vào những giá trị tốt đẹp của các dân tộc khác.
Chúng ta công nhận các quyền phổ quát của con người và các quyền
tự do cơ bản của người khác. Chỉ có lòng khoan dung mới có thể
bảo đảm sự tồn tại của những cộng đồng hỗn hợp ở mọi khu vực trên thế
giới. Đây chính là giá trị mà Liên hợp quốc và UNESCO mong muốn thúc đẩy và lấy
ngày 16-11 hằng năm để khuyến khích mọi quốc gia, dân tộc và mọi người cùng
hưởng ứng Ngày Quốc tế Khoan dung.
Ngày nay, Việt Nam đã làm hết sức mình cho cộng đồng quốc tế
thấy rằng: Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có
trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Điều này có nghĩa là văn hóa khoan dung mà
Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng vẫn được các thế hệ người Việt Nam phát huy hiệu
quả.
PV: Việc UNESCO khẳng định: “Hồ Chí Minh là hiện thân của những
khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và
mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc” chứa đựng thông
điệp gì, thưa ông?
Ông Michael Croft: Khẳng định điều
này bởi vì Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân mẫu mực của sự tiếp thu tinh hoa
các nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Bôn ba qua các đại dương và lục địa,
từ phương Đông sang phương Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh hình thành một quan điểm
độc đáo về tầm quan trọng của đối thoại liên văn hóa làm nền tảng cho sự hiểu
biết lẫn nhau giữa các dân tộc và là một công cụ ngoại giao quan trọng. Di sản
Hồ Chí Minh trở thành "sức mạnh mềm" của văn hóa quốc gia.
Tôi được biết, tư duy Hồ Chí Minh rất cởi mở, thể hiện đối thoại
văn hóa sâu sắc khi ông cho rằng: “Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của
văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại. Tây phương hay Đông phương có
cái gì tốt ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh
nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật
có tinh thần thuần túy Việt Nam để hợp với tinh thần dân chủ”.
Những yếu tố cấu thành di sản văn hóa Hồ Chí Minh là sự chắt
lọc, tổng hợp những tinh hoa văn hóa Việt Nam kết hợp với những tinh hoa nhân
loại vì sứ mệnh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.
Đây là một lý tưởng nhân văn cao cả, cần thiết cho Việt Nam, cho các nước và
cho nhân loại.
PV: Từ năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đưa ra triết lý: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học để phụng sự
tổ chức, đoàn thể, phục vụ Tổ quốc, dân tộc và nhân loại”. Gần nửa thế kỷ
sau, năm 1996, UNESCO đưa ra 4 trụ cột là: “Học để biết, học để làm, học để
chung sống, học để tồn tại”. Đề nghị ông cho biết tầm nhìn văn hóa của Hồ Chí
Minh về giáo dục và mối quan hệ của tầm nhìn đó với triết lý giáo dục mà UNESCO
đã đưa ra?
Ông Michael Croft: Chúng ta không thể phủ
nhận vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của bất kỳ cá nhân, tổ chức,
quốc gia, dân tộc nào. Chúng ta cũng thấy rõ Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong
những nhà lãnh đạo của Việt Nam coi trọng giáo dục hơn cả, ngay khi ông đang
lãnh đạo các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Tôi đánh giá rất cao Chủ
tịch Hồ Chí Minh ở điểm này, vì việc đề cao vai trò giáo dục của ông chính là
hướng tới tương lai, bởi giáo dục là nền tảng của mọi công cuộc xây dựng và
phát triển.
UNESCO đã xây dựng 4 trụ cột học tập để thúc đẩy giáo dục, trong
đó, tôi muốn chú trọng vào 2 trụ cột là “học để làm” và “học để chung sống”.
Các trụ cột này nhấn mạnh vào việc học nghề để nâng cao trình độ chuyên môn,
gắn việc học với những yêu cầu tại môi trường làm việc để đáp ứng được những
tình huống ngoài dự kiến trên tinh thần làm việc nhóm. Hơn nữa, học tập còn là
để hiểu biết về nhau, về lịch sử, về truyền thống và tín ngưỡng của nhau để góp
phần thúc đẩy một giá trị tiến bộ chung.
Tôi cho rằng, những trụ cột này của UNESCO tương đồng với phương
châm học tập mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khuyến khích người dân. Rõ ràng Chủ
tịch Hồ Chí Minh có tầm nhìn xa của một nhà giáo dục lớn của thế giới.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét