Lịch sử chính trị thế giới đã cho chúng ta nhiều bài học để thấy rằng sự chia rẽ, phân rã, thiếu tập trung về quyền lực chính trị sẽ dẫn đến sự bất hòa, đó chính là mầm mống cho những nỗi thống khổ, bất hạnh của người dân. Thực tiễn cũng cho thấy, chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập hoàn toàn không phù hợp với bối cảnh lịch sử-xã hội ở Việt Nam.
Những nghịch lý và hệ lụy của
chế độ đa đảng
Đa nguyên chính trị,
đa đảng đối lập là một khuynh hướng tổ chức đời sống chính trị-xã hội xuất hiện
từ đầu thế kỷ 18 với xu hướng tuyệt đối hóa sự đa dạng, đối kháng của các
đảng chính trị.
Chế độ đa đảng là hệ thống mà ở đó có nhiều đảng chính trị có khả năng giành
quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau.
Lịch sử chính trị thế
giới cho chúng ta một số bài học để thấy rằng hệ thống đa đảng đối lập nhiều
khi không dẫn các quốc gia theo con đường này đến hòa bình, ổn định và phồn
vinh, mà ngược lại nó dẫn đến sự bất hòa, phân lập, thậm chí là tê liệt của bộ
máy công quyền. Trở lại bối cảnh lịch sử của nước Đức cuối thế kỷ 19, đầu thế
kỷ 20. Nước Đức thời kỳ này tồn tại nhiều đảng phái chính trị, mỗi đảng đại
diện cho những lợi ích xã hội được xác định rõ ràng, tranh giành quyền lực và
lợi lộc từ quyền lực, thỏa hiệp và ký kết thỏa hiệp với nhau khi nào có thể. Sự
chia rẽ trong đời sống chính trị không chỉ dẫn đến hậu quả đau đớn cho Đức vào cuối
thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 mà hiện vẫn còn dẫn tới sự bất ổn chính trị, làm gia
tăng nghèo đói và bạo loạn ở nhiều nước trên thế giới.
Nhìn lại cuộc cách
mạng “mùa xuân Ả Rập” diễn ra năm 2011 cho thấy điều đó. Phân hóa giàu nghèo,
tham nhũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự nổi dậy lật đổ chính quyền tại một
loạt quốc gia ở khu vực Bắc Phi và Trung Đông. Nhưng sau khi lật đổ chính
quyền, điều mà người dân trông chờ là một nền chính trị ổn định, ít tham nhũng,
quan tâm đến đời sống của đại đa số người dân, những gì mà các thế lực bên
ngoài rao giảng đã không được thực thi trên thực tế. Thay vào đó là sự tranh
giành quyền lực giữa các đảng phái và thế lực chính trị. Cho đến hiện tại, ở
các quốc gia này, không có một đảng chính trị hay một lực lượng chính trị nào
đủ mạnh để có thể thống nhất, lãnh đạo đất nước khiến xã hội vẫn chưa đi vào ổn
định và phát triển.
Thể chế đa đảng với
cách thức tổ chức cho phép các đảng đối lập phản đối chính sách của đảng cầm
quyền nhằm thực hiện dân chủ, nhưng nghịch lý của nó là khiến chính phủ trở nên
phân rã và chia rẽ. Sự phân cực chính trị làm phân tán nguồn lực và các chính
sách đem lại lợi ích cho đa số người dân thường sẽ khó được thực thi. Bởi khi
không nắm chính quyền, các đảng chính trị sẽ có nhiệm vụ là tìm mọi cách phê
phán chính sách của đảng đối lập; mục đích chính của việc làm này không phải là
để có tiếng nói phản biện nhằm làm cho chính sách được thực thi một cách tốt
hơn mà là để giành giữ lá phiếu cho đảng mình trong các lần bầu cử tiếp theo.
Nhìn vào đời sống
chính trị của các quốc gia tổ chức theo chế độ đa đảng đối lập, chúng ta sẽ
thấy các đảng chính trị để tranh giành quyền lực, họ không dựa trên lợi ích của
đông đảo người dân nhằm giải quyết các vấn đề mà xuất phát từ lợi ích của đảng
phái, thậm chí là lợi ích cá nhân hẹp hòi.
Sự lựa chọn cho ổn định, ấm no,
tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam
Lịch sử chính trị thế
giới đã cho chúng ta nhiều bài học để thấy rằng sự chia rẽ, phân rã, thiếu tập
trung về quyền lực chính trị sẽ dẫn đến sự bất hòa, đó chính là mầm mống cho
những nỗi thống khổ, bất hạnh của người dân.
Tại Việt Nam, vào cuối
thập niên 20 của thế kỷ trước, cùng với sự phát triển của các phong trào yêu
nước, các tổ chức cộng sản đảng đã ra đời
mà tiêu biểu là An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng và Tân Việt Cách
mạng Đảng. Sau khi ra đời 3 tổ chức cộng sản đều tuyên bố ủng hộ Quốc tế cộng
sản và đều tự nhận mình là đảng cách mạng chân chính. Tuy nhiên sự xuất hiện và
tồn tại 3 tổ chức cộng sản đảng cùng hoạt động cách mạng đã dẫn đến sự chia rẽ
nguồn lực, các đảng công kích lẫn nhau để tranh giành ảnh hưởng. Sự chia rẽ,
công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thời kỳ này đã gây tổn
hại lớn cho sự phát triển của phong trào cách mạng và gây nên tâm trạng nghi
ngờ, hoang mang trong quần chúng.
Để chấm dứt sự chia rẽ
và công kích lẫn nhau của các tổ chức cộng sản, đầu tháng giêng năm 1930, được
sự ủy nhiệm của Quốc tế cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã đến Hương Cảng để triệu tập
hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt
Nam. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 là minh chứng lịch sử
cho chúng ta thấy cách thức tổ chức một đảng duy nhất cầm quyền, đây là sự lựa chọn
đúng đắn của lịch sử, phù hợp với đặc trưng văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội
của nước ta.
So với thể chế đa đảng
đối lập, nhiều quan điểm cho rằng các quốc gia có một đảng duy nhất cầm quyền
lãnh đạo đất nước đó là “chế độ độc đảng toàn trị”. Hằng năm, các báo cáo về
chỉ số tự do dân chủ (Democracy Index) vẫn dựa vào tiêu chí đa đảng đối lập để
đánh giá mức độ tự do, dân chủ của một quốc gia. Dựa vào các báo cáo này, họ
rao giảng rằng các quốc gia như Việt Nam có một đảng duy nhất cầm quyền lãnh
đạo đất nước thì xu hướng chung “đảng đó sẽ độc chiếm quyền lực, tiếm đoạt các
chức năng của nhà nước, kiểm soát toàn bộ đời sống của xã hội nói chung, của cá
nhân nói riêng”. Họ "khuyến cáo" rằng, "Việt Nam cần phải thực
hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” để thực hiện dân chủ"(!).
Tuy nhiên phải hiểu
rằng, dù đề cập đến dân chủ như một giá trị tốt đẹp, dân chủ như một hình thức
cai trị, một cách thức ra các quyết định chung hay dân chủ như một chế độ chính
trị thì tất cả các ngữ nghĩa này đều không bắt nguồn từ cách thức tổ chức các
đảng chính trị như thế nào. Dù là chế độ một đảng nhưng chúng ta đã, đang thực
hiện dân chủ theo những cách riêng, phù hợp với đặc trưng văn hóa, tập quán,
lối sống và năng lực thực hành dân chủ của người dân Việt Nam.
Lịch sử đấu tranh cách
mạng ở Việt Nam đã cho chúng ta thấy Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất
lãnh đạo đất nước, đó là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử, phù hợp với phong
tục, tập quán, năng lực thực hành dân chủ của người Việt. Nếu ai đó nói với chúng
ta rằng Việt Nam cần phải học hỏi các quốc gia trên thế giới, phải xóa bỏ chế
độ độc tôn của Đảng Cộng sản Việt Nam để tổ chức đời sống chính trị theo chế độ
đa đảng, nhất là đa đảng đối lập giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới
thì chúng ta đừng hoang mang, dao động, mà hãy nhìn vào đời sống chính trị
của các quốc gia theo chế độ đa đảng, đặc biệt là hệ thống đa đảng đối lập đã
được phân tích cụ thể ở phần trên. Hãy nhìn vào cuộc sống hiện tại của người
dân ở các quốc gia đã trải qua "mùa xuân Ả Rập" hay trải qua
"cách mạng sắc màu", những người đã tin theo những lời xúi giục đó,
họ đang khát khao như thế nào về một cuộc sống yên bình, ổn định, không có xung
đột, đói nghèo và tội phạm gia tăng để cân nhắc quan điểm và lựa chọn hành động
cho đúng.
Cho đến hiện nay, chế
độ đa đảng, đặc biệt là đa đảng đối lập với đại diện theo tỷ lệ vẫn được các
quốc gia phương Tây sử dụng như một “tiêu chuẩn của các nền dân chủ tiên tiến”.
Lịch sử tổ chức đời sống chính trị trên thế giới lại cho chúng ta thấy rằng, dân
chủ không bắt nguồn từ cách thức chúng ta tổ chức các đảng chính trị như thế
nào. Nếu bạn đọc ở đâu đó hay nghe ai đó thuyết giảng rằng Việt Nam cần
phải xây dựng chế độ đa đảng giống như mô hình của nhiều quốc gia phương Tây,
thì bạn hãy nhớ rằng: Hiện nay, trên thế giới đang có hàng chục quốc gia lựa
chọn thể chế "đa nguyên, đa đảng" nhưng đang chìm trong đói nghèo,
khủng hoảng chính trị triền miên. Chúng ta có lợi thế hơn họ bởi chúng ta có
những tấm gương trước mắt để học hỏi và lựa chọn. Sự lựa chọn đúng đắn nhất của
chúng ta là: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo nhà
nước và xã hội. Đây là sự lựa chọn cho sự ổn định, ấm no, tự do, hạnh phúc của
nhân dân ta và sự phát triển bền vững của đất nước Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét