Thứ Ba, 18 tháng 6, 2024

 Một số vấn đề về tính đảng và tính khoa học trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Tính đảng và tính khoa học là hai khuynh hướng cơ bản mà mỗi cá nhân, tổ chức chính trị biểu hiện trong các hoạt động của một hình thái kinh tế - xã hội xác định. Thực tiễn xã hội luôn thay đổi, biến động liên tục, đòi hỏi mỗi cá nhân, tổ chức phải bảo đảm tính khoa học để nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động và thích ứng môi trường để tồn tại, phát triển; song trong một hình thức chính trị xác định, các cá nhân, tổ chức còn phải bảo vệ lợi ích chung của nhóm chủ thể quyền lực chính trị - đảng chính trị mà họ tham gia, để duy trì, ổn định và phát triển. Thực tế đó đặt ra đối với mỗi cá nhân, tổ chức chính trị là giải quyết mối quan hệ giữa tính đảng và tính khoa học trong mỗi hoạt động xã hội.

Tính đảng là sự thể hiện nhất quán và xuyên suốt quan điểm, hệ tư tưởng của một đảng chính trị nhất định trong xã hội. Theo Từ điển tiếng Việt, tính đảng là “khuynh hướng trong công tác, hoạt động, v.v. thấm nhuần hệ tư tưởng của đảng”(1). Tính đảng còn là khuynh hướng phản ánh đầy đủ nhất sự bảo đảm, bảo vệ và đấu tranh một cách tích cực và chủ động cho những lợi ích của một đảng chính trị xác định trong các hoạt động đời sống xã hội. V.I.Lênin cho rằng: “Tính đảng là kết quả và là biểu hiện chính trị của những đối lập giai cấp đã phát triển cao độ”(2) và cụ thể đó là “tư tưởng xã hội chủ nghĩa”(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Bất kỳ bao giờ, bất kỳ việc gì, đều phải tính đến lợi ích chung của Đảng, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, việc của cá nhân và lợi ích của cá nhân phải để lại sau. Đó là nguyên tắc tối cao của Đảng. Mỗi một đảng viên phải ghi chắc điều đó. Chúng ta gọi nó là Đảng tính”(4).

Mặc dù không nêu rõ các công cụ bảo đảm, bảo vệ tính đảng, song, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn đến ba vấn đề mang tính sống còn của Đảng và thể hiện rõ nhất trong Di chúc của Người: (1) Giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng; (2) Thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình; (3) Thấm nhuần, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân(5).

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là hoạt động làm rõ bản chất phản động, phản cách mạng của những quan điểm sai trái, thù địch, từ đó vạch trần, lên án và làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch về mặt tư tưởng, lý luận. Đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, và do đó, là biểu hiện sinh động của tính đảng trong thực tiễn.

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ “chống” trong toàn cục của nhiệm vụ “xây” - bảo vệ, tăng cường nền tảng tư tưởng của Đảng. Suy cho cùng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch “là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(6). Đây là những yêu cầu mang tính nguyên tắc của tính đảng trong nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Tính khoa học trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chính là việc bảo đảm nguyên tắc của khoa học lịch sử và khoa học chính trị. Để bảo đảm sự thuyết phục trong đấu tranh phản bác, thì những thông tin phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần bảo đảm yêu cầu, nguyên tắc của khoa học lịch sử và khoa học chính trị. Nội hàm các quan điểm sai trái, thù địch được xác định gắn liền hai nội dung chính trị và lịch sử.

Khoa học lịch sử hay sử học là khoa học nghiên cứu về quá khứ loài người. Để tìm hiểu lịch sử, người nghiên cứu phải dựa vào sử liệu(7): tìm kiếm, sưu tầm, chọn lọc, giải mã các thông tin trong sử liệu, đặc biệt là cần phê phán sử liệu, xác định tính xác thực của sử liệu và độ tin cậy của các thông tin mà sử liệu phản ánh, bởi “nguồn càng xác thực, thông tin có mức độ tin cậy càng cao, thì sự kiện lịch sử được phản ánh trong sử liệu càng trung thực”(8). Do vậy, khoa học lịch sử là quá trình tương tác liên tục, phát triển giữa nhà sử học và sử liệu được nhà sử học tích lũy, phê phán(9). Khoa học lịch sử gắn liền với các sự kiện trong quá khứ, đòi hỏi phải bảo đảm ba nguyên tắc cơ bản: khách quan, trung thực và nhân văn, tiến bộ(10).

Để bảo đảm yêu cầu, nguyên tắc của khoa học lịch sử, nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thể hiện: Một là, các sự kiện, nhân vật lịch sử, nhất là lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cần phản ánh một cách khách quan trên cơ sở nhận thức khoa học về sự kiện, nhân vật lịch sử đó. Hết sức tránh cách trình bày một chiều, “tô hồng” hoặc “bôi đen”, tránh trình bày phiến diện. Hai là, phải dựa trên nguồn tài liệu, sử liệu xác thực và có độ tin cậy cao. Đây là yêu cầu quan trọng hàng đầu của khoa học lịch sử. Xã hội tất yếu phát triển, tri thức khoa học ngày được bổ khuyết, cái mới trong khoa học lịch sử ngày càng được khám phá. Do đó, cần phải thường xuyên bổ sung, cập nhật những thông tin sử học mới nhất, bổ khuyết các “khoảng trống” trong nghiên cứu, liên hệ và liên kết các sự kiện để tìm ra những kinh nghiệm, bài học và quy luật mới, từ đó không những chủ động phản bác các luận điệu sai trái, thù địch mà còn đập tan các quan điểm sai trái, thù địch ngay dưới dạng “ý tưởng”, trong “trứng nước”. Ba là, nội dung đấu tranh hướng đến việc tôn trọng và trân trọng quá khứ, bảo vệ hòa bình, xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ, không kỳ thị, kích động hận thù.

Khoa học chính trị hay chính trị học là “một khoa học nghiên cứu chính trị như một chỉnh thể nhằm nhận thức và vận dụng những quy luật và tính quy luật chung nhất của chính trị”(11). Khoa học chính trị có một nguyên tắc cơ bản nhất là khách quan(12). Nguyên tắc khách quan xuất phát từ ý tưởng về sự thống nhất của khoa học, chủ yếu là cách nhận biết thế giới - sự hiểu biết thông qua kinh nghiệm quan sát trực tiếp, được hệ thống hóa theo các quy luật logic. Nhận thức về thực tế không đòi hỏi một sự hiểu biết, tư duy trừu tượng, mà là sự khám phá và phân tích các sự kiện thực tế. Điều quan trọng nhất trong nguyên tắc khách quan là: (a) sự xác minh (kiểm chứng bằng kinh nghiệm, thực nghiệm) và (b) tính rõ ràng (sự rõ ràng của các phạm trù, khái niệm được sử dụng và khả năng hoạt động của chúng)(13). Một trong phương pháp kiểm chứng, bảo đảm khách quan trong khoa học chính trị chính là lịch sử. Sir J.R. Seeley cho rằng: “Lịch sử mà không có khoa học chính trị thì không có kết quả; khoa học chính trị mà không có lịch sử thì không có gốc rễ”(14).

Để bảo đảm yêu cầu, nguyên tắc của khoa học chính trị, nội dung đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cần phản ánh rõ ràng, trung thực, khách quan chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thể hiện đầy đủ, đúng đắn thực tiễn, thực tế công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trên hết, trước hết;... Đồng thời, xác thực (chứng minh) bằng thực tiễn sinh động việc tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và những vấn đề khác của Đảng. Từ đó, mọi thông tin phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bảo đảm tính khách quan của khoa học chính trị, thể hiện sự thuyết phục cũng như chia sẻ của mọi người dân về những thành công cũng như một số hạn chế được Đảng thừa nhận, khắc phục trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Xét đến cùng, khoa học lịch sử và khoa học chính trị thuộc nhóm ngành khoa học xã hội và nhân văn, mang đầy đủ đặc trưng của nhóm ngành này, đó là “khoa học cụ thể nhất và đặc biệt nhất, phụ thuộc nhiều nhất vào các ngành khoa học sớm hơn và trừu tượng hơn, một trong đó các sự kiện khó thu thập và phân tích hơn và do đó là cái cuối cùng xuất hiện trên sân khấu”(15). Do vậy, trong công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch phải nắm chắc các yêu cầu, nguyên tắc của khoa học lịch sử và khoa học chính trị.

(1) Viện Ngôn ngữ học: Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, 2023, tr.999.

(2) V.I. Lênin: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.348.

(3) V.I. Lênin: Toàn tập, t.12, Sđd, tr.165.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.290.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Sđd, tr.622.

(6) Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng: Tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.28.

(7) Sử liệu “bao gồm mọi nguồn tri thức lịch sử (trực tiếp hoặc gián tiếp), tức là mọi thông tin (theo nghĩa của lý thuyết thông tin) về quá khứ của con người, bất cứ nơi nào thông tin đó được tìm thấy, cùng với các cách truyền tải thông tin đó (các kênh thông tin)”. Xem Jerzy Topolski (1992), Metodología De La Historia (tercera edición), Cátedra, Madrid, pág.300.

(8) Xem Phạm Xuân Hằng (Chủ biên): Đại cương về sử liệu học và các nguồn sử liệu chữ viết lịch sử Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2016, tr.43.

(9) Theo Edward Hallett Carr, “đó là một quá trình tương tác liên tục giữa nhà sử học và các dữ kiện của nhà sử học, một cuộc đối thoại không hồi kết giữa hiện tại và quá khứ”. Xem Edward Hallett Carr (1961), What is History?, Vintage Books, New York, p.35.

(10) Trong nghiên cứu lịch sử, tính khách quan là tái hiện lại hiện thực lịch sử, đưa lại nhận thức đầy đủ nhất (tiệm cận hoặc chính xác) về quá khứ của con người dựa trên những thông tin đáng tin cậy. Đây là nguyên tắc đầu tiên và cũng là quan trọng nhất của khoa học lịch sử; tính trung thực là tôn trọng sự thật lịch sử và mô tả lại quá khứ một cách chân thực dựa trên những sử liệu đáng tin cậy, không xuyên tạc sự thật lịch sử; tính nhân văn, tiến bộ là giúp con người hiểu rõ về quá khứ, từ đó rút ra kinh nghiệm, bài học, quy luật có ích. Khoa học lịch sử vừa phải phản ánh sự thật trong quá khứ, nhưng không kích động hận thù, xung đột hoặc kỳ thị, thành kiến..., vừa phải góp phần bảo vệ hòa bình, xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ.

(11) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Khoa học chính trị: Tập bài giảng Chính trị học (hệ cao cấp lý luận chính trị), Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, tr.9. Cũng trong cuốn sách này (trang 8), thuật ngữ chính trị được định nghĩa là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, tập trung là quyền lực nhà nước.

(12) Nguyên tắc khách quan nhằm khắc phục các lối suy nghĩ, thách thức trong chính trị học ngay từ khi ra đời: 1) Thái độ “kỳ lạ” của nhiều người đã quen với việc dành phần lớn nỗ lực của họ để phân tích ý kiến của người khác; 2) Niềm tin về những ý tưởng của sự vật sở hữu một số thực tế siêu việt; 3) Giải thích các sự kiện ở thế giới bên ngoài theo hình ảnh chủ quan theo các lý thuyết “vật linh”, tìm kiếm trong tâm trí về một cách diễn giải có mục đích và hài lòng. Xem Naresh Chandra Roy, Jyotirindra Das Gupta, Jayanta Kumar Ray (1963), Principles of political science, Macmillan and Company Limited, Calcutta, pp.4-5.

(13) В. П. Пугачев, А. И. Соловьев (2004), Введение В Политологию, Аспект Пресс, Москва, c.43.

(14) Sir J.R. Seeley (1896), Introduction to political science: two series of lectures, Macmillan and Co., London and New York, p.4.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét