Chịu
ảnh hưởng rất lớn từ tấm gương hiếu học của người cha, từ mảnh đất quê hương
được mệnh danh là “đất văn vật, chốn thi thư”, từ quan điểm “mở trí khôn cho
dân”, “khai dân trí” của các bậc tiền bối, với tầm hiểu biết và sự trải nghiệm
của một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà giáo dục lỗi lạc, Hồ Chí Minh trong
quá trình hoạt động cách mạng đã hình thành nên hệ thống quan điểm phong phú và
toàn diện về nâng cao dân trí, từ mục tiêu, điều kiện, chủ thể, đối tượng đến
nội dung và biện pháp nâng cao dân trí. Là sản phẩm của một trí tuệ trác việt
và trái tim nhân ái bao la, từng quan điểm, luận điểm trong di sản Hồ Chí Minh
về nâng cao dân trí cho đến nay vẫn giữ nguyên tính thời sự và sức hấp dẫn bởi
những nét đặc sắc, sáng tạo riêng có.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học bổ túc văn
hóa và kỹ thuật buổi tối của công nhân Nhà máy ô tô 1-5, lá cờ đầu của phong
trào bổ túc văn hóa ngành công nghiệp Hà Nội (năm 1963). Ảnh tư liệu
Nhà bác học nổi tiếng người Đức Gottfried Leibniz từng nói: “Ai
làm chủ giáo dục, người đó thay đổi thế giới”. Thật vậy, sự phát triển của mỗi
quốc gia, dân tộc đều liên quan đến sự phát triển giáo dục, đến vấn đề dân trí,
bởi con người (có trí tuệ, có văn hóa) là động lực quan trọng nhất, quyết định
sự hưng thịnh, tồn vong của quốc gia. Nhận thức rõ điều đó, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã sớm khẳng định: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(1), hay “dân có giàu thì nước mới mạnh”(2).
Sự “giàu có” trong tư duy của nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh
không chỉ là đủ đầy về đời sống vật chất, là “no cơm ấm áo” mà quan trọng hơn
còn là sự giàu có, phong phú về đời sống tinh thần, về trình độ dân trí, văn
hóa. Trên cơ sở nhận thức rõ tầm quan trọng của dân trí và giáo dục, Hồ Chí
Minh đã sớm đề xuất và hình thành hệ thống quan điểm phong phú và toàn diện về
nâng cao dân trí. Nét đặc sắc của hệ thống tư tưởng này thể hiện qua năm luận
điểm chủ yếu.
1. Hồ Chí Minh xác định đúng và trúng tầm quan trọng của vấn đề
nâng cao dân trí, coi đó là một chiến lược quan trọng trong phát triển đất nước
Để xác định đúng và trúng tầm quan trọng của vấn đề nâng cao dân
trí, trước hết, Hồ Chí Minh đã thể hiện quan niệm đúng đắn và tiến bộ về vấn đề
dân trí. Người cho rằng dân trí không đồng nhất với học vấn và có mối liên hệ
mật thiết với dân khí, với tinh thần dân tộc. Trong 15 tập Hồ Chí Minh Toàn
tập, Người có hai lần sử dụng từ “dân trí”, ngoài ra là những từ gần nghĩa với
“dân trí”: “trình độ văn hóa” 20 lần, “học vấn” 19 lần, “trình độ học vấn” 5
lần, “trình độ tri thức” 2 lần, “trình độ hiểu biết” 7 lần.
Mặc dù không có định nghĩa cụ thể nhưng qua các bài nói, bài
viết của Hồ Chí Minh, có thể thấy, theo quan điểm của Người, dân trí là trình
độ hiểu biết, am hiểu của người dân về tư tưởng - pháp luật, về khoa học, về
văn hóa, về đời sống mới trong những điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị, xã
hội cụ thể. Với Hồ Chí Minh, “dân trí” không chỉ hiểu giản hơn là trình độ học
vấn trung bình của người dân, thể hiện ở bao nhiêu phần trăm biết đọc biết
viết, bao nhiêu phần trăm có trình độ học vấn cao mà “dân trí” còn là tổng hợp
những hiểu biết của con người trên các mặt của đời sống xã hội, là sự hiểu biết
và ý thức về quyền và trách nhiệm của chính mình với tư cách là người làm chủ.
Như vậy, để đánh giá trình độ dân trí chúng ta phải căn cứ vào
nhiều tiêu chí (trong đó có học vấn) và phải gắn chúng với những điều kiện lịch
sử cụ thể của kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội…; gắn với sự giác ngộ về bổn
phận của từng cá nhân đối với đất nước; gắn với bản chất của chế độ chính trị
là vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển toàn
diện của con người.
Để nâng cao dân trí thì cần thiết phải đấu tranh loại bỏ sự dốt
nát, u mê. Do vậy, nhà văn hóa Hồ Chí Minh từ rất sớm đã gọi đích danh dốt nát
là một loại giặc. Trong lịch sử Việt Nam, thậm chí cả lịch sử nhân loại đã có
những tư tưởng đề cao vai trò của giáo dục, khởi xướng sự nghiệp “khai dân
trí”, “trồng người”… nhưng gọi đích danh dốt nát là một loại giặc thì mới chỉ
có Hồ Chí Minh.
Khi coi dốt nát là một thứ giặc - giặc nội xâm, giặc trong lòng
- Hồ Chí Minh muốn khẳng định đây là cuộc chiến sinh tử, một mất một còn, không
thể cùng chung sống. Giặc ngoại xâm rất hung ác, tàn bạo nhưng giặc nội xâm
cũng nguy hiểm không kém, nhất là khi chúng câu kết với nhau để cùng thống trị,
đàn áp nhân dân ta. Giặc nội xâm làm gia tăng thêm sức mạnh cho giặc ngoại xâm
và nhân khó khăn của nhân dân ta lên gấp bội. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, đất
nước muốn phát triển thì phải kiên quyết đấu tranh chống sự ngu dốt, phải không
ngừng nâng cao dân trí.
Từ chỗ hiểu đúng về tầm quan trọng của dân trí, Hồ Chí Minh đánh
giá nâng cao dân trí vừa là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài, xuyên suốt của
sự nghiệp cách mạng. Cấp bách bởi nó rất cần kíp, phải làm ngay, không thể chậm
trễ, bởi hậu quả của chính sách ngu dân, mị dân đã khiến cho hơn 90% dân số
Việt Nam mù chữ và ở nữ giới con số này là 100%. Lâu dài, xuyên suốt bởi sự
nghiệp cách mạng lúc nào cũng cần những con người có học vấn, có tri thức, có
trách nhiệm với Tổ quốc, dân tộc - đó là chủ thể, đồng thời vừa là mục tiêu vừa
là động lực của sự nghiệp cách mạng.
Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, thay mặt Chính phủ
cách mạng, Hồ Chí Minh khẳng định “diệt giặc dốt” là một trong sáu nhiệm vụ cấp
bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau này, Người nêu ra một luận
điểm nổi tiếng chỉ đạo ngành giáo dục: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây/
Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(3). Như vậy, nâng cao
dân trí, phát triển giáo dục - đào tạo là chiến lược trọng tâm trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội theo quan điểm của Hồ Chí Minh.
2. Mục tiêu nâng cao dân trí quan trọng nhất và xét đến cùng là
cho con người, vì con người
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao dân trí có nhiều mục tiêu:
để phát huy quyền làm chủ và năng lực làm chủ của nhân dân, xứng đáng với vị
thế chủ nhân của đất nước; để đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc; để xây
dựng chế độ mới, tăng cường sức mạnh dân tộc, thúc đẩy xã hội tiến bộ, đất nước
phát triển nhưng mục tiêu bao trùm và cao nhất, đó là nhằm phát triển con người
toàn diện, vì hạnh phúc của con người.
Mục tiêu này thể hiện chiều sâu, tính triết lý và bản chất nhân
văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh: luôn đặt con người ở vị trí trung tâm, mọi chủ
trương, chính sách là để phục vụ con người, cho con người và vì con người. Nâng
cao dân trí nhằm trang bị những kiến thức, hiểu biết về mọi mặt của đời sống xã
hội (kinh tế, chính trị, pháp luật, lịch sử, địa lý, tôn giáo, đạo đức,…), giúp
con người được phát triển toàn diện, đủ đức đủ tài, vừa hồng vừa chuyên. Con
người mới xã hội chủ nghĩa là con người vừa có bản lĩnh chính trị vững vàng,
vừa giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu về khoa học - kỹ thuật, vừa có những
phẩm chất đạo đức cao đẹp.
Trong Thư gửi các học sinh nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 5.9.1945, Người viết: “Ngày nay, các em được
cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập,
một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước
Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của
các em”(4). Nâng cao dân trí cũng nhằm phục vụ chính
cuộc sống lao động, học tập, sản xuất, chiến đấu của nhân dân: “Chúng ta phải
biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui
hạnh phúc”(5), cải thiện đời sống vật chất cho nhân dân
ngày càng đầy đủ, phồn vinh, đời sống tinh thần ngày càng phong phú, lành
mạnh.
Tính mục đích của tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao dân trí thể
hiện rõ nét nhất chính là để phục vụ con người. Đúng như nhận xét của một tác
giả nước ngoài về Người: văn hóa và tri thức trong tay Cụ đã trở thành một loại
vũ khí tích cực phục vụ cho quần chúng; và Hồ Chí Minh làm cách mạng không chỉ
giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, mà cái cao quý nhất là để giải phóng
con người thoát khỏi nền văn hóa nô dịch và xây dựng nền văn hóa của dân tộc.
Chính vì vậy mà thế giới đã ghi nhận và tôn vinh Người cùng một
lúc hai danh hiệu - vừa là anh hùng giải phóng dân tộc, vừa là nhà văn hóa kiệt
xuất. Tiến sĩ Amét - nguyên Giám đốc UNESCO khu vực châu Á Thái Bình Dương cũng
nhìn thấy sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa tính “cách mạng” và chất “văn
hóa” trong con người Hồ Chí Minh khi nhận xét: “Người sẽ được ghi nhớ không
phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là một
nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những
người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi
trái đất này”(6).
3. Quan niệm về đối tượng nâng cao dân trí của Hồ Chí Minh thể
hiện tính đại chúng rõ nét và tư tưởng nhân văn sâu sắc
Theo Hồ Chí Minh, đối tượng nâng cao dân trí là toàn dân bởi
Người hiểu rõ quy luật “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, nhưng trong lực
lượng toàn dân (bao gồm mọi giai cấp, mọi lứa tuổi, mọi giới tính, mọi ngành
nghề) ấy, Hồ Chí Minh có sự quan tâm đặc biệt tới những đối tượng yếu thế, chịu
nhiều tổn thương và thiệt thòi.
Trong xã hội cũ với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” lạc hậu, phụ
nữ là người bị áp bức, chịu nhiều đau khổ nhất. Còn trên thực tế, Hồ Chí Minh
nhận thấy, phụ nữ cũng là người chủ nước nhà, cũng đóng góp và giữ vai trò to
lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, Người yêu cầu: “chị em
phải cố gắng học tập. Học văn hóa, học chính trị, học nghề nghiệp. Nếu không
học thì không tiến bộ. Có quyết tâm thì nhất định học được”(7). Trong những bức thư gửi tặng các cháu gái có thành tích học
tập tốt, Người luôn khen ngợi và nhắn nhủ “mong cháu cố gắng học thêm” dù các
chị em đó đều đã thi đỗ nhất nhì trong tỉnh.
Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và hải đảo, Người
căn dặn: miền núi nước ta chiếm một vị trí quan trọng đối với quốc phòng, đối
với kinh tế. Vì vậy, Trung ương Đảng và Chính phủ, mà trực tiếp là các cấp ủy
đảng, các ủy ban địa phương, các cô, các chú, phải làm sao nâng cao đời sống
vật chất và văn hóa của đồng bào các dân tộc. Với trẻ em miền núi, Người nhắc
nhở: “Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần vào việc mở
mang quê hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”(8).
Với người cao tuổi - vốn là lớp người “cây cao, bóng cả”, là tấm
gương cho các thế hệ con cháu noi theo, Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở,
khuyến khích, động viên người cao tuổi phải tự mình học tập, nâng cao dân trí:
Công việc ngày càng nhiều, càng mới… nên đảng viên già phải cố gắng mà học, để
“chẳng những làm kiểu mẫu siêng năng cho con cháu mà lại còn tỏ cái ý chí hùng
mạnh của dân tộc Việt Nam”(9).
Hay với những thương binh, người tàn tật, Người cũng nêu ra yêu
cầu nâng cao dân trí để mở rộng hiểu biết, đồng thời có thực nghiệp để nuôi
sống bản thân: “Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của
mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong,...), Đảng,
Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn,
đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần
dần “tự lực cánh sinh”(10).
Như vậy, khi bàn về đối tượng nâng cao dân trí, Hồ Chí Minh dành
sự quan tâm đặc biệt tới các đối tượng yếu thế để tạo điều kiện cho họ vươn lên
tiếp cận và làm chủ tri thức khoa học. Giữa bộn bề công việc và chồng chất khó
khăn của nhà nước dân chủ non trẻ, Người vẫn dành thời gian và tình cảm tới
từng cá nhân, từng con người cụ thể trong xã hội. Điều đó phản ánh bản chất
nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh về nâng cao dân trí cũng như tính ưu việt,
tiến bộ của chế độ mới, nền giáo dục mới.
4. Quan niệm về nội dung nâng cao dân trí vừa toàn diện vừa có
chiều sâu
Trên cơ sở xác định khái niệm “dân trí” không chỉ là trình độ
học vấn mà còn là tổng hợp hiểu biết của con người trên tất cả các mặt của đời
sống xã hội, Hồ Chí Minh khẳng định nội dung nâng cao dân trí bao gồm: nâng cao
hiểu biết về tư tưởng, chính trị, pháp luật; hiểu biết về khoa học; hiểu biết
về văn hóa và hiểu biết về đời sống mới. Trong các nội dung nâng cao hiểu biết
rất toàn diện đó, đáng lưu ý là:
Trước tiên, quan niệm về nội dung nâng cao dân trí của Hồ Chí
Minh thể hiện sự tiến bộ khi Người coi ý thức, trách nhiệm công dân là một biểu
hiện, một thước đo của dân trí. Nhận thức rõ vai trò của pháp luật là cơ sở để
thực hiện các quyền tự do dân chủ; là cơ sở khẳng định quyền làm chủ nhà nước
của nhân dân để tạo ra trật tự, kỷ cương cho xã hội; ngăn chặn tình trạng công
dân xâm phạm quyền và lợi ích của nhau; Hồ Chí Minh đề cao việc nâng cao hiểu
biết về pháp luật cho nhân dân và coi nội dung cốt lõi của dân trí chính là ý
thức xã hội, ý thức, trách nhiệm công dân, tinh thần dấn thân theo phương châm
“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Nói cách khác, cái “gốc” của “trí”
chính là “đức”. Người từng nói: đã là người Việt Nam ai ai cũng phải đứng dậy
chống thực dân Pháp để cứu nước, hoặc: “Dân ta phải giữ nước ta/ Dân là con
nước, nước là mẹ chung”(11).
Ở đây, chúng ta bắt gặp sự tương đồng giữa quan điểm của Hồ Chí
Minh và Phan Châu Trinh khi yêu cầu dân trí phải đi đôi với dân khí, với tinh
thần dân tộc. Phan Châu Trinh cho rằng, dân khí là sức mạnh tinh thần của nhân
dân. “Chấn dân khí” là nói đến việc làm cho người dân từ chỗ không nhất trí đến
nhất trí, đồng lòng, hợp tác với nhau theo một mục đích chung là cứu nước, đặt
lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân.
Còn Hồ Chí Minh quan niệm, dân trí cao không chỉ là học vấn cao,
trình độ hiểu biết sâu rộng, mà cái nền, cái cơ sở vẫn là học vấn và hiểu biết
ấy để phục vụ cho ai, đem lại lợi ích cho giai cấp nào. Nếu không có tinh thần
dân tộc và ý thức công dân thì dù tài giỏi đến đâu, hiểu biết đến đâu cũng là
vô ích, thậm chí nó còn gây hại cho dân, cho nước.
Nhìn lại lịch sử Việt Nam trước năm 1945 mới thấy sự mẫn cảm
chính trị tuyệt vời của Hồ Chí Minh, khi mà người dân Việt Nam có tới hơn 90%
là mù chữ, trình độ học vấn thấp nhưng với ý thức, trách nhiệm cao với vận mệnh
của Tổ quốc, chúng ta vẫn làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám. Đây
là thời kỳ mà dân khí phát triển mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng cho sự
nghiệp cách mạng nói chung, sự nghiệp nâng cao dân trí nói riêng.
Thứ hai, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, “trí” ở tầng sâu nhất của
nó không chỉ là một trong bốn yếu tố phát triển con người toàn diện: đức - trí
- thể - mỹ mà “trí” (trong cụm từ “dân trí”) còn vượt lên, bao hàm cả yếu tố
đạo đức: có đạo đức thì mới có trí tuệ, có trí tuệ thì phải có đạo đức, người
có trí tuệ cũng phải là người có đạo đức, người vô đạo đức thì không thể coi là
người có trí tuệ. Giữa trí tuệ và đạo đức nó không biệt lập, tách rời nhau mà
hòa quyện, thẩm thấu vào nhau.
Đồng thời, “trí” còn bao hàm cả yếu tố thẩm mỹ, con người có trí
tuệ cũng là con người văn hóa, đẹp trong hành xử và lối sống. Bởi vậy, Hồ Chí
Minh yêu cầu, nâng cao nhận thức về văn hóa cho con người phải gắn liền với
việc nâng cao trình độ thưởng thức thẩm mỹ bởi “văn” nghĩa gốc là cái đẹp, cái
có giá trị. Người nói: “Mỹ dục: để phân biệt cái gì là đẹp, cái gì là không
đẹp”(12). Chữ “mỹ” nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang mà “trong
xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”(13).
Không nên hiểu hạn hẹp giáo dục thẩm mỹ là giáo dục năng khiếu
hay giáo dục nghệ thuật, bởi nâng cao trình độ văn hóa thẩm mỹ là hướng con
người đến nhu cầu xây dựng cuộc sống theo những giá trị thẩm mỹ cao đẹp ở mọi
lúc, mọi nơi và cái đẹp, cái lý tưởng ấy gắn liền với yêu cầu về sự cân bằng,
hài hòa giữa tinh thần và thể chất, với đòi hỏi về lối sống cao đẹp, về tinh
thần trách nhiệm và thái độ phục vụ đối với nhân dân.
Nâng cao nhận thức thẩm mỹ không chỉ để hình thành định hướng
thẩm mỹ của nhân cách mà quan trọng hơn là để phát triển những tiềm năng sáng
tạo - con người không chỉ hưởng thụ cái đẹp mà còn là chủ thể sáng tạo ra cái
đẹp. Một xã hội tiến bộ là phải tạo ra những điều kiện và thiết chế đầy đủ để
con người trở thành chủ thể sáng tạo văn hóa.
Có thể thấy, chữ “trí” của Hồ Chí Minh không chỉ hiểu đơn giản
là trí tuệ mà đó là tổng hợp các giá trị về đạo đức, thẩm mỹ, và cả thể lực,
thể hình. Nâng cao dân trí cũng là để hướng tới xây dựng mẫu hình con người
phát triển toàn diện. Đúng như nhận xét của Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “đức và
trí rất gắn với nhau, có thể đặt cái nào lên trước cũng được, và xét cho cùng,
đức là một dạng của trí (hiểu theo nghĩa rộng). Thể và mỹ rất gắn với nhau, có
thể xem thể là một dạng của mỹ và xét đến cùng, mỹ cũng là một dạng của trí
(hiểu theo nghĩa rộng)”(14).
5. Hồ Chí Minh đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao dân trí phong
phú, toàn diện và khả thi
Là một nhà biện chứng thực hành, để thực hiện được mục tiêu nâng
cao dân trí nêu trên, Hồ Chí Minh đã nêu ra hệ thống giải pháp toàn diện, từ
phát triển giáo dục - đào tạo, trong nền giáo dục đó phải hình thành cho người
học nhu cầu và khả năng tự học suốt đời; phát triển kinh tế, nâng cao chất
lượng cuộc sống cho nhân dân bởi “có thực mới vực được đạo”, “dân dĩ thực vi
thiên”; đẩy mạnh giao lưu, đối ngoại, mở rộng hợp tác quốc tế; tăng cường hoạt
động thông tin tuyên truyền; hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh đưa pháp
luật vào cuộc sống; đến phát huy ý thức tự học và học tập suốt đời của mỗi cá
nhân.
Ngoài những giải pháp khách quan đến từ phía các cơ quan lãnh
đạo và quản lý, Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng việc phát huy ý thức tự học bởi
bản thân mỗi người vừa là chủ thể vừa là đối tượng nâng cao dân trí. Đây là một
nội dung tiến bộ, có sự tương đồng với quan điểm giáo dục hiện đại được UNESCO
nêu ra vào cuối thế kỷ XX(15) - đó là yêu cầu phải xây dựng xã hội học
tập và mỗi con người phải biết tự động học tập, coi đó là cơ sở để học suốt
đời; đạo đức mới của nền giáo dục là mỗi con người phải phấn đấu trở thành một
nhà giáo dục cho chính mình và cho cộng đồng.
Hồ Chí Minh từng nhiều lần bày tỏ quan niệm, tự học và học tập
suốt đời là biện pháp tốt nhất để nâng cao trình độ hiểu biết, đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của nhiệm vụ cách mạng, bởi: “Nếu không chịu khó học thì không
tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng
nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là
bị đào thải, tự mình đào thải mình”(16). Người nhiều lần nhắc
lại câu nói của Lênin: “Học, học nữa, học mãi!” bởi vì đường đời là chiếc thang
không có nấc chót, học tập là quyển vở không có trang cuối cùng. Để việc tự học
đạt kết quả tốt, Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi người cần phải xác định mục đích,
động cơ học tập đúng đắn: “Học để sửa chữa tư tưởng... Học để tu dưỡng đạo đức
cách mạng... Học để tin tưởng... Học để hành...”(17), đồng thời phải học tập với thái độ nghiêm túc, khiêm tốn, thật
thà, biết đến đâu nói đến đó.
Người nghiêm khắc phê phán tệ giấu dốt, lười biếng học tập, tự
cao, tự đại, cho mình là giỏi nhất thiên hạ - kẻ thù số một của học tập. Hồ Chí
Minh không chỉ nêu ra yêu cầu tự học và học tập suốt đời để nâng cao dân trí
đối với mọi người mà chính bản thân Người cũng là một tấm gương mẫu mực. Mặc dù
tuổi đã cao và phải đảm đương những trọng trách lớn của Đảng và Nhà nước nhưng
Hồ Chí Minh vẫn luôn sắp xếp thời gian để trau dồi kiến thức lý luận và thực
tiễn, đi xuống cơ sở, học hỏi từ chính những người dân bình thường nhất. Điều
đó thể hiện ý chí mãnh liệt của một người luôn tìm tòi học hỏi nhằm chiếm lĩnh
tri thức nhân loại vì mục tiêu cao cả: Độc lập, tự do và hạnh phúc cho đồng bào
của mình và những người cùng khổ - một trong những điều làm nên sự vĩ đại Hồ
Chí Minh.
“Dân trí nâng cao” cùng với “dân tộc độc lập”, “dân quyền tự do”,
“dân sinh hạnh phúc” và “dân chủ thực hành” là năm chữ DÂN thường xuyên xuất
hiện, cũng chính là những mục tiêu quan trọng chi phối cả cuộc đời hoạt động
cách mạng của Hồ Chí Minh. Nâng cao dân trí không chỉ là tiền đề để xây dựng xã
hội độc lập, tự do, hạnh phúc mà đó cũng chính là điều kiện đảm bảo cho sự phồn
vinh, thịnh vượng của xã hội đó. Thời gian càng lùi xa thì tư tưởng Hồ Chí Minh
nói chung và tư tưởng về nâng cao dân trí nói riêng càng khẳng định giá trị
vững bền, đồng hành cùng dân tộc vững bước trên hành trình khẳng định mình để
“sánh vai với các cường quốc năm châu”!./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét