Thứ Năm, 6 tháng 6, 2024

PHÊ PHÁN THÓI VÔ CẢM, “VÌ DÂN SUÔNG” CỦA MỘT BỘ PHẬN CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

 


 

Một trong những biểu hiện suy thoái cả về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là: “Không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân”; “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”.

Không chỉ vậy, một số cán bộ, đảng viên thời nay còn có biểu hiện mị dân, “vì dân suông”, từ đó tạo khoảng cách với dân, gây mất niềm tin trong nhân dân. Do đó, chúng ta phải đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện vô cảm, “vì dân suông” để góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trung thành, mẫn cán, thật sự vì dân, vì nước.

Phê phán thói tiền hậu bất nhất, nói nhiều làm ít, dân ta có câu ca dao: “Nói chín thì phải làm mười/ Nói mười làm chín, kẻ cười người chê”. Hàm ý sâu sắc hơn, câu ca dao muốn nhắn nhủ, nhắc nhở con người phải luôn coi trọng giữ gìn chữ “tín”, nói đi đôi với làm; còn nếu ai mà nói nhiều hơn làm, dù làm chỉ kém nói một chút thôi thì cũng đáng coi thường, chê trách.

Thời nay, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện chỉ nói mà không làm, chỉ hứa rồi để đấy, chỉ thề thốt mà không hành động, người dân gọi đó là những kẻ nói suông, hứa suông, thề suông.

Những biểu hiện “vì dân suông” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra khá tinh vi. Có cán bộ gần dân mà vẫn không hiểu lòng dân. Những cán bộ này tuy đến với dân, nhưng chỉ tuyên truyền, vận động, giải thích cho dân theo ý chỉ đạo áp đặt của mình mà không thành tâm lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân. Giả sử nếu có lắng nghe thì cũng “nghe để biết”, nhưng thực chất là bỏ ngoài tai, không tìm cách giải quyết thấu đáo những ý kiến, băn khoăn, vướng mắc của dân và cả những mong muốn chính đáng của bà con. Trong cuộc tiếp xúc cử tri ngày 14-10-2023 tại Hà Nội trước kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở cán bộ, đảng viên nói chung, đại biểu Quốc hội và HĐND nói riêng cần khắc phục bệnh hình thức, khi tiếp xúc, đối thoại với dân thì phải “tuyệt đối tránh tình trạng hình thức, ngồi ra vẻ chú ý lắng nghe nhưng lại không nghe”.

Ngoài ra còn có những cán bộ tuy bề ngoài gần dân mà thực chất lại sống xa dân. Số cán bộ này khi gặp dân thì vẫn “mồm năm miệng mười”, cố gắng không làm mếch lòng người khác, nhưng bản thân và gia đình lại có một cuộc sống biệt lập, khác xa người dân. Nhờ các mối quan hệ “bôi trơn” và biết kiếm chác mà họ có nhà to, xe đẹp, thu nhập khủng, gia đình ung dung hưởng thụ một cuộc sống đề huề trong nhung lụa, mặc cho bao người dân lao động vẫn quanh năm tảo tần, lam lũ vì miếng cơm, manh áo. Với họ, tiếp xúc với dân chỉ là nghĩa vụ đơn thuần chứ không thực sự tâm huyết với dân, chung sức đồng lòng gánh vác bao nỗi lo toan hằng ngày của người dân. Bởi nếu thương yêu quần chúng cần lao, họ đâu lợi dụng kẽ hở pháp luật, đục nước béo cò để nhăm nhăm vun vén lợi lộc cho cá nhân, cốt để vinh thân phì gia.

Điều đáng nói, những động thái “vì dân suông” thường được bao bọc một lớp hào nhoáng, tinh vi mà không phải người dân nào cũng dễ nhận diện. Hơn nữa, để dễ bề che mắt thiên hạ, bên ngoài thì bao giờ họ cũng đề cao quan điểm “dĩ dân vi bản” (lấy dân làm gốc) và luôn chủ định làm một vài việc bề nổi nào đó nhằm vừa tránh bị mang tiếng là không thân thiện với dân, vừa phần nào lấy lòng dân. Suy cho cùng, một khi cán bộ coi việc gần dân chỉ là tấm bình phong, là màn kịch để che giấu những mục đích, động cơ thiếu trong sáng của mình thì đó là một thứ gần dân hình thức, giả dối, thực chất là mị dân.

Thói vô cảm, “vì dân suông” là một trong những biểu hiện suy thoái đáng báo động đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đề cập vấn đề này, Đảng ta cho rằng, trong điều kiện hiện nay, nếu không chăm lo một cách cụ thể, thiết thực đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì dù có nói bao nhiêu về quan điểm quần chúng, về quyền làm chủ của nhân dân cũng đều là vô nghĩa và không có sức thuyết phục.

Sau khi Liên Xô vừa sụp đổ, một số học giả nước này đã làm cuộc điều tra xã hội học rất đáng suy ngẫm. Trong phiếu điều tra, trả lời câu hỏi “Đảng Cộng sản Liên Xô đại diện cho ai?", thì có tới 85% ý kiến cho là đại diện của giới cán bộ quan chức nhà nước quan liêu, chỉ có 11% cho là đại diện của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Một đảng cộng sản cầm quyền mà tỷ lệ giới chức quan liêu, xa rời quần chúng, vô cảm với dân lớn đến mức nghiêm trọng như vậy, thế nên lúc gặp sóng gió không được nhân dân ủng hộ và bị các thế lực khác tước quyền lãnh đạo cũng không có gì khó hiểu!

Đâu chỉ có chuyện cán bộ sống quan liêu, “vì dân suông” xảy ra bên Liên Xô, mà ngay ở nước ta cũng cần nhắc lại vụ việc một bộ phận cán bộ, đảng viên vô cảm, sống xa dân nên để lại một bài học xương máu về mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Năm 1997, một bộ phận không nhỏ nông dân tỉnh Thái Bình tụ tập đông người phản đối cấp ủy, chính quyền có nguyên nhân chủ yếu là do quyền làm chủ của người dân đã bị vi phạm nghiêm trọng, chính quyền cơ sở huy động quá sức dân, thậm chí lạm thu nhiều khoản bất chính, trong khi đó một số cán bộ chủ chốt ở địa phương giàu lên một cách bất minh và lại có lối sống xa hoa, kệch cỡm, nên càng gây bất bình trong nhân dân. Sau sự kiện đáng buồn này đã có hơn 2.000 cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật, hơn 70% số tổ chức cơ sở đảng phải thay từ một nửa đến hai phần ba cấp ủy.

Nhắc lại những ví dụ nêu trên để thấy rằng, quần chúng nhân dân nhìn nhận, đánh giá Đảng chủ yếu là thông qua phẩm chất, tư cách, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Nói quần chúng giảm sút lòng tin đối với Đảng không phải là giảm sút lòng tin đối với lý tưởng, sự nghiệp của Đảng, mà là đối với những cán bộ, đảng viên đã thoái hóa, hư hỏng và không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, chỉ biết lo vun vén lợi lộc cho bản thân, gia đình mà không có hành động thiết thực để góp phần chăm lo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

 

Cán bộ, đảng viên cần trọng dân thực tâm, chăm lo cho dân thật lòng

Từ những thăng trầm, hưng vong của các vương triều phong kiến Việt Nam trong lịch sử, từ những thành bại trong việc huy động lòng dân, phát huy sức dân trong các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha đã đúc kết những lời thấm thía và trở thành bài học nhắc nhở muôn đời cho con cháu hôm nay và mai sau, đó là: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” và “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Nguyễn Trãi); “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” (Trần Hưng Đạo); nước phải lấy dân làm gốc, vì “Gốc có vững, cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (Hồ Chí Minh).

Cách đây 12 năm, ngày 7-6-2012, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI ban hành Quy định số 101-QĐ/TW “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, đã quy định 7 nội dung cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm nêu gương, trong đó có 2 nội dung liên quan đến ý thức, tác phong, phong cách ứng xử của cán bộ với nhân dân, gồm: “Nêu gương về tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng”; “Nêu gương về ý thức phục vụ nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của nhân dân”. Thực chất của những quy định này là yêu cầu cán bộ, đảng viên không vô cảm, không “nói suông” với nhân dân, không sống xa dân.

Hơn ai hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thời nay phải khắc cốt ghi tâm lời Bác Hồ chỉ dẫn: “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”. Nếu cấp ủy đảng, chính quyền nói chung, cán bộ, đảng viên nói riêng mà cứ phải tất ta tất tưởi “chạy ngược chạy xuôi” bởi lòng dân phân tâm, ly tán thì nguy cơ tan rã niềm tin của dân với Đảng, với chế độ ta là khó tránh khỏi. Đó là bài học không thể xem thường.

Muốn được lòng dân thì cán bộ, đảng viên phải thực tâm nói đi đôi với làm, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin, tuyệt đối tránh những biểu hiện vô cảm, mị dân, “vì dân suông”. Khi được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, nhất định khối sức mạnh đại đoàn kết toàn dân sẽ được củng cố, tăng cường và trở thành sức mạnh dời non lấp biển, từ đó chúng ta có thể đạp bằng mọi chông gai, vượt qua mọi khó khăn, thử thách trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đúng như nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từng nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ bất cứ kẻ thù nào dù là hung bạo nhất, chỉ sợ mất lòng dân. Lòng dân, đó là quốc bảo dựng nước và giữ nước Việt Nam”.

 

CẢM XÚC VỀ NGÀY 30/4 VÀ 01/5

Cách đây 49 năm, cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giành thắng lợi hoàn toàn. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta mãi tự hào và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng, các thế hệ cha ông đã chiến đấu hy sinh anh dũng vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Mỗi người dân Việt Nam nguyện tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân, quyết tâm vươn lên hoàn thành tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh – quốc phòng theo chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra.

Tuyên truyền kỷ niệm 48 năm Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước ( 30/4/1975 - 30/4/2023 ) và 137 năm ngày Quốc tế lao động ( 01/5/1886 - 01/5/2023 )Hòa chung không khí vui tươi phấn khởi chào mừng 49 năm Ngày Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, trong những ngày này cả nước cũng đang hân hoan chào mừng 139 năm Ngày Quốc tế Lao động 01/5 là dịp để giai cấp công nhân và nhân dân lao động cả nước ôn lại truyền thống đấu tranh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc đồng thời tiếp tục phát huy vai trò của mình và có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo tinh thần Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng xác định: “Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân”. Đây là chủ trương nhất quán của Đảng nhằm tạo động lực vật chất, tinh thần cho công nhân và giai cấp công nhân phát triển, phát huy vai trò đối với sự phát triển đất nước.

Trong không khí tưng bừng của cả nước hướng về ngày kỷ niệm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Toàn quân, toàn dân và Nhà trường đang cùng nhau xin ôn lại những chiến công vang dội của quân và dân ta trong cuộc dựng nước và giữ nước vĩ đại. đây cũng là dịp để mỗi chúng ta tôn vinh, ghi nhớ công lao của những thế hệ đi trước, thể hiện tinh thần “Uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa”, đó cũng là đạo lý sống của dân tộc ta bao đời nay.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV tháng 12/1976 đánh giá: “Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Hay đánh giá của đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Trong quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, ba cái mốc chói lọi bằng vàng: Tổng khởi nghĩa tháng Tám, chiến thắng Điện Biên Phủ và chiến thắng mùa xuân 1975, đại thắng mãi mãi sáng ngời trong sử sách. Nhân dân Việt Nam đã làm nên câu chuyện thần kì tưởng chừng không thể làm được giữa thế kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển, đánh thắng những cường quốc, đế quốc chủ nghĩa chủ yếu bằng sức của chính mình, nêu một tấm gương anh dũng, bất khuất, trí tuệ, tài năng trước toàn thế giới”.

Đại thắng mùa xuân năm 1975, như nhận định của Đảng ta là một sự kiện quan trọng có tầm quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc, làm nức lòng bạn bè và nhân dân tiến bộ khắp năm châu bốn biển. Chiến thắng 30/4/1975 là trang sử hào hùng, một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Đại thắng xuân 1975 mở ra thời kỳ mới đất nước thống nhất cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội cho đến ngày nay.

Trong lễ kỷ niệm này, chúng ta tưởng nhớ tới Chủ tịch Hồ Chí Minh vị cha già của Dân tộc Việt Nam, người đã đưa Cách mạng và các cuộc kháng chiến nước ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác; tưởng nhớ, biết ơn tới các anh hùng liệt sĩ, các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các thương binh, bệnh binh cùng nhân dân cả nước đã đóng góp cho cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước giành độc lập tự do, hòa bình hạnh phúc cho thế hệ hôm nay. Nhìn về quá khứ đau thương và hào hùng của dân tộc, chúng ta - thế hệ trẻ hôm nay càng biết ơn, trân trọng vô cùng cuộc sống thanh bình, yên ấm – cuộc sống không có chiến tranh. Bác Hồ đã từng nói:

Các vua Hùng đã có công dựng nước

Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước.

 

TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO LÀ NHU CẦU TINH THẦN

CỦA MỘT BỘ PHẬN NHÂN DÂN

Ngày 26/3/2024 trên trang Tiếng Dân New có bài viết của Chu Mộng Long với tiêu đề: “Vì sao có quá nhiều người mê tín”mượn câu chuyện đâu đó về việc học viên xin nghỉ sớm để về đi chùa vì là ngày rằm…câu chuyện rất nực cười ở chỗ, nó có thể đúng khi có 1 hoặc 2 học viên nào đó xin về sớm, xin nghỉ vì lý do cá nhân… thế mà Mộng Long có thể khẳng định, đánh đồng và cào bằng là tất cả người dân đều mù quáng mê tín, kiểu ngu dân…vẫn tiếp tục là giọng điệu rất đểu giả, vin vào chuyện diễn ra để cắt ghép, bịa đặt, làm biến tướng sự việc với một mục đích duy nhất và cuối cùng là chê Đảng, chê dân không sáng suốt.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xem tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền căn bản của con người, nhưng quyền đó phải gắn chặt và đồng hành cùng với lợi ích của đất nước, của dân tộc Việt Nam. Do vậy, quyền ấy chỉ có giá trị đích thực khi nó gắn với độc lập dân tộc, nước không được độc lập thì tôn giáo không được tự do. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân phải được tôn trọng và bảo đảm dựa trên cơ sở tôn trọng đức tin tôn giáo của mỗi người và không ai được xâm phạm, ép buộc, cản trở quyền đó. Dù thế giới quan khác nhau, niềm tin khác nhau, song không vì thế mà đối đầu, nghi kỵ, ngược lại phải tôn trọng niềm tin của mỗi người. Đấy chính là lý do mà ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) (ngày 3-9-1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ tuyên bố “Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết”.

Kế thừa tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Nghị quyết số 25-NQ/2003/TW, ngày 12/3/2003, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “Về công tác tôn giáo” (Nghị quyết số 25), Đảng đưa quan điểm “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”. Quan điểm này được thể hiện cụ thể trong vấn đề theo đạo và truyền đạo “Mọi công dân đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 có bước tiến mới trong việc mở rộng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo… Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật như: Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, nghị định hướng dẫn thi hành và các văn bản pháp luật khác. Biết rằng giai đoạn hiện nay sự chống phá ngày càng mạnh mẽ, tinh vi và xảo quyệt, chúng mượn chuyện, vu khống, bịa đặt hàm hồ…biết thực tế là vậy nhưng đảng ta vẫn kiên cường, bền vững với những quan điểm xuyên suốt, nhất quán đề bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng, bảo vệ nhân dân. Nội dung đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị chỉ rõ: Bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, bảo vệ sự toàn vẹn, thống nhất của quốc gia dân tộc; Đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, phản động, chống đối, các phần tử cơ hội, thoái hóa, biến chất.

Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo, tín ngưỡng với khoảng 20 triệu tín đồ theo các tôn giáo khác nhau. Quán triệt, kế thừa, phát triển và tôn trọng tín ngưỡng, tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm qua, Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm và không ngừng hoàn thiện chủ trương, cơ chế, chính sách pháp luật về tôn giáo tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Mọi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân đều được chính quyền tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các tôn giáo ngày càng được cải thiện.Tuyệt đại bộ phận tín đồ tôn giáo đều là nhân dân lao động, chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, quy định của địa phương; tích cực tham gia phong trào thi đua yêu nước, sống tốt đời đẹp đạo, đoàn kết lao động sản xuất, phát triển kinh tế – văn hóa góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh. Tuy nhiên, vẫn có hiện tượng một số đối tượng, tổ chức, cá nhân lợi dụng niềm tin tín ngưỡng và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận quần chúng đã lập ra những hội nhóm mang màu sắc tôn giáo lôi kéo người tham gia với những hoạt động mê tín dị đoan gây ảnh hưởng xấu đến đời sống văn hóa lành mạnh trong nhân dân làm phức tạp tình hình ANTT. Mục đích của số đối tượng này là nhằm trục lợi cá nhân như việc bán đồ thờ cúng, kinh sách, tiền cúng lễ mang đậm màu sắc mê tín dị đoan hoàn toàn không có cơ sở khoa học và không được pháp luật cho phép, đi ngược lại với hệ thống quan điểm chính sách tín ngưỡng tôn giáo của nhà nước ta, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, tuy nhiên phải khẳng định rằng người dân Việt Nam đa số đều sáng suốt, tự do lựa chọn tôn giáo và niềm tin riêng, phù hợp điều kiện, hoàn cảnh để xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ngày càng bền vững, đời sống tinh thần phong phú, đa dạng./.

 

ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU PHÁ HOẠI KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Trong lịch sử của dân tộc, chúng ta đã chứng kiến thủ đoạn thâm độc trong chính sách "chia để trị" của kẻ thù xâm lược. Ngày nay, các thế lực thù địch tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài khác nhau, nhằm phá hoại ta từ bên trong. Một trong những thủ đoạn đó là chúng thường kích động nhân dân, khuếch đại các vấn đề “nhạy cảm” trong xã hội; rồi thổi phồng, làm cho người dân từ nghi ngờ đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ. Chúng còn xuyên tạc một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, nhất là chính sách về dân tộc, tôn giáo để gây dư luận xấu trong nhân dân.

Trọng điểm của sự chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc là ở các địa bàn: Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ, vùng có đông đồng bào theo đạo. Đối tượng chúng quan tâm là đội ngũ trí thức, chức sắc, học sinh, sinh viên, cán bộ thoái hóa biến chất để tác động đến các đối tượng khác. Âm mưu trước mắt và lâu dài của chúng nhằm gây mất ổn định chính trị.

Có thể thấy âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là rất tinh vi, thâm độc; hành động quyết liệt, trắng trợn; đối tượng đa dạng, phức tạp; mục đích không thay đổi; hậu quả khó lường. Với tinh thần cảnh giác của người dân, cùng với các biện pháp nghiệp vụ của các lực lượng chức năng; đặc biệt là sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đây là sức mạnh mà biết bao nhiêu kẻ địch phải khiếp sợ khi chúng tiến hành xâm lược Việt Nam./.

 

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ NGÀY 30/4

1. Trên mạng xã hội đăng tải bài viết của Đỗ Thành Nhân có tiêu đề “Ngày 30/4- Ngày nói thật”, trong đó nêu vấn đề “nên gọi ngày 30 tháng 4 là ngày gì cho phù hợp” với cách lập luận mù gồm 6 luận điệu như sau:

1) “Gọi ngày 30/4 là “ngày giải phóng” thì mơ hồ vì có không thể có miền Bắc đi giải phóng cho miền Nam”;

2) “Gọi là “ngày thống nhất” thì rất khiên cưỡng vì Việt Nan dân chủ cộng hòa và VNCH là hai nước khác nhau”;

3) “Gọi là “ngày hòa bình” sao được vì đất nước đến nay vẫn chưa có hòa bình”;

4) “Gọi là “ngày hữu nghị” cũng không đúng vì đánh nhau với Campuchia và Trung Quốc”;

5) “Gọi là “ngày hòa giải” thì gợn những hạt sạn; gọi là “ngày hòa hợp”, “ngày nô lệ”, “ngày quốc hận”, “ngày đen tối” đều không chuẩn”.

6) “Không thể gọi là “ngày độc lập” vì chưa có độc lập, cũng không thể gọi là “ngày tự do” vì mãi đến năm 2013 Hiến pháp mới dè dặt bổ sung về “quyền con người, quyền công dân”;

Cuối cùng, Đỗ Thành Nhân đề xuất “gọi 30/4 là “ngày nói thật” để cho mọi người được nói lên sự thật”.

2. Chúng tôi khẳng định đó là một “sáng tạo mù”, vì Đại thắng mùa Xuân 1975 với chiến thắng 30/4/1975 chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam có sự phối hợp của bọn ngụy phản quốc, miền Nam được giải phóng, non sông thu về một mối, Tổ quốc Việt Nam thống nhất từ Mục Nam quan đến mũi Càu Mau.

Ngày 30/4/1975 không chỉ là mốc son chói lọi trường tồn, vang mãi trong quá trình dựng nước và giữ nước của lịch sử dân tộc Việt Nam anh hùng, mà còn đi vào lịch sử thế giới là “biểu tượng cho sức sống của chủ nghĩa quốc tế vô sản, tình đoàn kết chống đế quốc xâm lược”. Đây là “Thắng lợi của nhân dân Việt Nam nói lên sức sống bất diệt của CNXH và chủ nghĩa Mác-Lênin; là kết quả đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, ý chí quyết tâm chiến đấu, tinh thần hy sinh của nhân dân Việt Nam anh hùng; của nghệ thuật chỉ đạo quân sự thiên tài, lòng dũng cảm, sự giác ngộ chính trị, quân đội anh hùng.

Tờ báo Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc số ra ngày 30/4/2005 có bài khẳng định “thắng lợi của nhân dân Việt Nam là thắng lợi mãi mãi ghi vào sử sách, còn ngày 30/4 là ngày lễ lớn của đất nước Việt Nam cũng là ngày đáng được những người yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa trên toàn thế giới kỷ niệm”. Nhiều nước trên thế giới đánh giá thắng lợi của nhân dân Việt Nam mang ý nghĩa thời đại sâu sắc, cổ vũ và thúc đẩy quá trình đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân loại tiến bộ. Đây là thất bại nặng nề nhất của đế quốc Mỹ đồng thời là bài học xương máu cho chủ nghĩa đế quốc xâm lược; đưa lại hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á, đóng góp quan trọng làm dịu tình hình chung, củng cố an ninh quốc tế. Chiến thắng của Việt Nam mãi mãi ghi vào lịch sử đấu tranh giải phóng loài người như một trang sử huy hoàng nhất, cống hiến quan trọng vào củng cố vị trí các lực lượng hòa bình, dân chủ, độc lập dân tộc và CNXH. Nhân dân Việt Nam đã gạt bỏ quyền thống trị của đế quốc Mỹ, đánh bại kẻ vi phạm danh dự, vi phạm quyền tự do của con người, khiến cho quyền thống trị của đế quốc Mỹ trên thế giới bị tan vỡ. Nó trở thành thành trì vững chắc của sự nghiệp giải phóng dân tộc, hòa bình và CNXH ở Đông Nam Á, chứng minh rõ ràng so sánh lực lượng có lợi cho CNXH, còn CNTB bị đẩy lùi một bước, góp phần quan trọng vào việc tăng cường sức mạnh và phát triển thế tiến công của ba dòng thác cách mạng, xứng đáng với niềm tin yêu và lòng cảm phục của loài người tiến bộ trên thế giới[1].

3. Bản chất sự kiện lịch sử cho thấy chỉ có một đáp án đúng là gọi ngày 30/4/1975 là: “Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Hằng năm kỷ niệm ngày 30/4, tất cả nhân dân Việt Nam yêu nước và nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình trên thế giới đều nghĩ ngay, biết ngay đến “Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của Việt Nam”, vì:

Một là, gọi “giải phóng” vì ngày 30/4/1975 đánh dấu đất nước Việt Nam nói chung, lãnh thổ miền Nam Việt Nam nói riêng thoát khỏi ách thống trị của kẻ thù xâm lược (gồm kẻ ngoại xâm và nội phản). Đồng nghĩa với điều đó là sự thất bại hoàn toàn của kẻ xâm lược và bọn tay sai phản quốc; cũng chính là thất bại của tư tưởng chia cắt đất nước cùng với hệ thống tổ chức, bộ máy, quân đội… sinh ra để nuôi dưỡng tư tưởng đó.

Hai là, gọi “thống nhất” vì ngày 30/4/1975 đánh dấu đất nước Việt Nam được trả lại đúng nghĩa như nó đã có trong lịch sử, đúng với nguyện vọng ngàn đời của các thế hệ người Việt Nam yêu nước, thương dân. Nó kết thúc thời kỳ chia cắt làm 2 nửa với 2 lối nghĩ và cách làm hầu như trái ngược nhau: mục tiêu, bản chất của VNDCCH là độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ – còn VNCH thực hiện mục tiêu chia cắt, lệ thuộc, ăn xổi ở thì, dựa vào kẻ xâm lược để phản hại tổ tiên, nòi giống, rước bom đạn của Mỹ về cày xới xương thịt đất nước, giết hại nhân dân.

Ba là, đối với người đi theo Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo nhân dân Việt Nam yêu nước kiên cường chiến đấu chống giặc ngoại xâm và nội phản là hành động chính nghĩa, bảo vệ lợi ích Tổ quốc, bảo vệ truyền thống dân tộc, bảo vệ danh dự của một đất nước thống nhất. Đối với thế hệ sinh sau ngày 30/4/1975, nếu là người có học, được giáo dục tử tế đều biết trân trọng giá trị, ý nghĩa ngày 30/4 như một phần máu thịt tạo nên cơ thể và cuộc sống của mình. Đối với người nước ngoài yêu chuộng hòa bình, yêu quý đất nước Việt Nam đều ngưỡng mộ, khâm phục sức sống của dân tộc Việt Nam và trí tuệ, bản lĩnh, anh hùng của người Việt Nam, “gan góc đến lạ thường”. Qua đó, hiểu thêm về hành động phản quốc, nhận rõ bộ mặt của những kẻ nuôi cấy hận thù, kẻ phá hoại con đường phát triển đất nước Việt Nam hiện nay.

Bốn là, lịch sử không thể lặp lại về thời gian mà chỉ có thể lặp lại về tính chất, ý nghĩa của sự kiện. Ngày 30/4/1975 diễn ra một lần, đi vào lịch sử như một chân lý không ai phủ nhận được. Tự thân ngày 30/4/1975 đã nói lên sự thật, có chính danhrõ ràng nên không cần kẻ nào phải tốn nhiều công sức để giả danh cho sự kiện này. Dù ai đó cố tình xuyên tạc, bóp méo thì cũng không thể làm mờ nhạt giá trị, ý nghĩa của ngày 30/4/1975 đối với tiến trình phát triển đất nước Việt Nam từ cội nguồn đến hiện tại và tương lai.

Năm là, ngày 30/4 đã khẳng định chân lý hiển nhiên: Hành động chính nghĩa vì độc lập, thống nhất đất nước, dù khó khăn đến đâu, sớm hay muộn đều tất thắng; dù nghèo khó vẫn luôn ngẩng cao đầu, không hổ thẹn với tổ tiên, thêm rạng rỡ nòi giống. Hành động phản quốc dù mạnh bạo, hung hãn đến đâu thì tất yếu vẫn nhận thất bại, luôn bị người yêu nước khinh bỉ, nguyền rủa; lịch sử có lùi xa bao lâu thì vẫn không thể rửa hết nội nhục về tội phản quốc.

Vậy nên, người yêu nước tất yếu trân trọng ngày 30/4, còn kẻ phản quốc luôn tìm cách xuyên tạc, phủ nhận giá trị ngày 30/4, mà Đỗ Thành Nhân là một minh chứng cho chiêu trò bỉ ổi qua phong cách “sáng tạo mù”!

 

Tỉnh táo trước âm mưu xuyên tạc không cần bảo vệ Tổ quốc XHCN

Ngay từ năm 1916, đêm trước của cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga, Lênin chỉ rõ: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa XHCN, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”; và: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Bởi tự vệ là để bảo vệ chính quyền và bảo vệ các thành quả cách mạng đã giành được là một tất yếu khách quan, mang tính chính nghĩa, đó là một trong những vấn đề có tính quy luật của cách mạng vô sản. Lenin còn cho rằng, “không phải cách mạng có thể biết ngay được cách tự vệ”, vì “cách tự vệ là một khoa học và nghệ thuật của cách mạng, cách mạng chỉ có thể đi tới thành công đến nơi đến chốn khi biết cách tự vệ đúng".

Sau khi tư tưởng “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” của Lênin ra đời đã bị các thế lực thù địch, phản động chống phá quyết liệt. Chúng phủ nhận việc bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản khi tiến hành cách mạng thành công. Theo chúng, cách mạng vô sản giành thắng lợi xong không cần lập nên chính quyền nhà nước vì đã thành công rồi. Để đập tan luận điệu này, ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lenin chỉ rõ: “Kể từ ngày 25-10-1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành "bảo vệ tổ quốc", nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc XHCN, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc". 

Thời gian qua, lợi dụng hệ thống XHCN thoái trào và sự biến động mau lẹ, khó lường của tình hình thế giới, các thế lực thù địch, phản động càng ra sức chống phá các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam. Chúng cho rằng hiện nay không cần phải bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN vì không còn kẻ thù xâm lược và nếu có bảo vệ thì chỉ bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ chế độ XHCN. Đây là luận điệu hết sức thâm độc, dễ gây sự ngộ nhận trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của công dân Việt Nam hiện nay.

Cả về phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, mọi cuộc cách mạng nổ ra đều gắn với một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại và bao giờ vấn đề giành chính quyền cũng đều là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng gắn với một quốc gia, dân tộc cụ thể. Như vậy, không bao giờ có Tổ quốc tách rời với một chế độ xã hội, mà bao giờ cũng gắn chặt với một chế độ xã hội nhất định như chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội phong kiến, chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa, chế độ XHCN.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở mỗi thời kỳ lịch sử đều gắn liền với chế độ ở giai đoạn lịch sử, quốc gia, dân tộc đó. Đáng tiếc là, ngoài sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch, một số người trong nước vẫn ngộ nhận, chủ quan, không thấy hết các nguy cơ của đất nước và chế độ, không nhận thức được sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta nên có biểu hiện coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN; không nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Thậm chí một số người Việt Nam tuy mang trong mình dòng máu Lạc Hồng và đang được hưởng thành quả cách mạng nhưng quay lưng lại với dân tộc, ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, rắp tâm phá hoại thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, cuộc sống thanh bình của nhân dân. 

 

 

Về tính tiền phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên

 theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”. Vì vậy, Người coi "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến vai trò tiền phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người là tấm gương mẫu mực về đạo đức và nhân cách người đảng viên cộng sản, luôn tiên phong, gương mẫu trong lời nói, việc làm, hành động; những điều đó đã kết tinh thành những giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Bác rất coi trọng phương pháp nêu gương để giáo dục cán bộ, đảng viên, làm gương cho nhân dân noi theo; Bác nói: “Giáo dục thì phải miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước”. Để giáo dục và học tập lẫn nhau cùng xây dựng Đảng, xây dựng tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới văn minh, tiến bộ.

Theo Người, để nêu gương, thì trước hết bản thân mình phải làm gương trong mọi việc từ nhỏ đến lớn, trở thành phong cách, thói quen tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày. Điều đó không thể tự nhiên mà có, mà phải do chính người cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện hằng ngày, thông qua quá trình phấn đấu không ngừng mới có được. Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên “Phải làm gương mẫu trong lao động, sản xuất và trong học tập”; “Phải xung phong gương mẫu trong mọi công việc, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”; “Phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói tay làm để làm gương cho nhân dân”. Từ đó, nhân dân cũng noi gương theo Đảng mà tin và làm theo. Thực tế chứng minh, phương châm ấy đã làm nên sức mạnh vô địch về trí tuệ, tâm hồn, khí phách người Việt Nam ta, đưa nhân dân Việt Nam vượt qua muôn vàn thách thức, đánh thắng kẻ thù xâm lược, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Người chỉ rõ: Để mọi người noi gương thì bản thân cán bộ, đảng viên phải là “người tốt, việc tốt”, phải là “tấm gương tốt” về mọi mặt trong đời sống xã hội và trong công tác, phải thực sự Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư. “Nêu gương” theo Người là phương pháp tốt nhất vận động quần chúng, thuyết phục quần chúng, tập hợp quần chúng làm cách mạng. Quần chúng nhìn cán bộ, đảng viên tiên phong làm trước, phấn đấu hy sinh vì mục tiêu cách mạng cao cả, họ sẽ tự giác nghe theo, tin và làm theo.

Người cho rằng, trong mọi công việc, người cán bộ phải đi đầu, từ chỉ đạo đến vận động, tập hợp lực lượng, triển khai thực thi nhiệm vụ. Trong quá trình lãnh đạo hay thực thi công việc, người cán bộ đều phải ở vị trí tiên phong, nêu gương, sẵn sàng xông pha đi đầu vào những nơi khó khăn, nguy hiểm để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đối với các dân tộc phương Đông giàu tình cảm, thì một tấm gương sống, còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.

 Bối cảnh hiện nay, trước sự tác động tiêu cực từ mặt trái của đời sống xã hội đã có không ít cán bộ, đảng viên suy thoái phẩm chất, nhân cách, đạo đức lối sống, xa vào chủ nghĩa cá nhân, sống ích kỷ, vụ lợi chạy theo giá trị vật chất tầm thường, xa rời quần chúng, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Bởi vậy, để hoàn thành nhiệm vụ của mình, người cán bộ, đảng viên dù ở cương vị nào, hay lĩnh vực nào cũng phải tích cực học tập, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt. Học tập càng khá, thì giải quyết các vấn đề càng dễ dàng, công việc càng trôi chảy. Để học tập tiến bộ, Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ phải “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học ở nhân dân là một khuyết điểm rất lớn”.

Để có phong cách của người cán bộ cách mạng để được dân tin yêu, kính trọng, người cán bộ tốt phải biết tránh xa những căn bệnh, những thói xấu thường gặp và dễ mắc phải, như: Bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi, bệnh ba hoa, bệnh cá nhân chủ nghĩa... Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý bệnh “cá nhân chủ nghĩa”, vì nó là một thứ “vi trùng rất độc”, nó là thứ “bệnh mẹ”, “do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm” . Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để tự soi, tự sửa những khiếm khuyết của bản thân mình để trở thành cán bộ tốt, xứng đáng với trọng trách mà Đảng tin tưởng giao phó.

 

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (Chiến thắng 30-4)

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm đến công tác người Việt Nam ở nước ngoài; luôn coi kiều bào ta ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam. Đảng, Nhà nước và nhân dân luôn đánh giá cao những đóng góp của kiều bào, việc kiều bào ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc, gắn bó với quê hương, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung của dân tộc. Các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài có tầm quan trọng đặc biệt, mang tính toàn diện, cơ bản và lâu dài, thể hiện tư duy đổi mới của Đảng, Nhà nước đối với công tác kiều bào, là kim chỉ nam cho hành động của cả hệ thống chính trị.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (tháng 02/2021), Đảng ta tiếp tục thể hiện sự đổi mới tư duy trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài: “Hỗ trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hội nhập xã hội nước sở tại. Nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, quản lý lao động, du học sinh... Tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc. Làm tốt công tác thông tin tình hình trong nước, giúp đồng bào hướng về Tổ quốc, nhận thức và hành động phù hợp với lợi ích quốc gia - dân tộc, có đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Để thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, tiếp tục thực hiện tốt, hiệu quả hơn Nghị quyết 36, Chỉ thị 45 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, ngày 12/8/2021, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 12-KL/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới. Sau 16 năm thực hiện Nghị quyết 36 và 5 năm thực hiện Chỉ thị 45 của Bộ Chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của các cấp, các ngành, các địa phương, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đã đạt được kết quả tích cực. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã thực sự là bộ phận không tách rời; là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việc Bộ Chính trị ban hành Kết luận 12 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tiếp tục khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán và đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về củng cố vững chắc đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam; tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân ở trong nước cũng như kiều bào ta ở nước ngoài nhằm phát huy mạnh mẽ sức mạnh toàn dân tộc cho phát triển đất nước.

Ngày 31/12/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 169/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, Chỉ thị số 45-CT/TW và Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2021 - 2026. Theo đó, ban hành kèm theo Chương trình hành động của Chính phủ và Danh mục một số nhiệm vụ, đề án cụ thể triển khai Chương trình hành động của Chính phủ về công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2021 - 2026.

Thực tế đã minh chứng, chính sách hòa hợp, hòa giải dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện ý nghĩa nhân văn cao cả, sâu sắc trong truyền thống văn hóa hàng ngàn năm văn hiến của dân tộc Việt Nam.

Công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng gần 40 năm, đất nước ta đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, toàn diện trên các lĩnh vực: (1) Kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân được cải thiện và ngày càng được nâng cao. (2) Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh. (3) Quốc phòng, an ninh được giữ vững, tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao.

Với chính sách đối ngoại: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Với đường lối đối ngoại đúng đắn, Việt Nam đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi…

Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại Đảng với 254 chính đảng ở 114 quốc gia. Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 trong 200 quốc gia trên toàn thế giới; thiết lập khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài với 30 đối tác chiến lược và toàn diện, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam cùng các nước nâng tầm hợp tác vì lợi ích của mỗi nước và vì hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Trong số các nước đã thiết lập quan hệ ngoại giao, Việt Nam đã tuyên bố thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 7 quốc gia gồm: Trung Quốc (2008), Nga (2012), Ấn Độ (2016), Hàn Quốc (2022), Hoa Kỳ, Nhật Bản (2023), Úc (2024); quan hệ Đối tác chiến lược với 11 quốc gia; quan hệ Đối tác toàn diện với 13 quốc gia... Việt Nam tham gia có hiệu quả vào các định chế khu vực và toàn cầu, nhất là các hiệp định thương mại (FTA) thế hệ mới và đóng góp tích cực ở hầu hết các tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách, ghi đậm dấu ấn về sự chủ động, tích cực trong vai trò Chủ tịch luân phiên lần thứ hai của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021. Việt Nam đã trở thành tâm điểm chú ý của toàn cầu với vị trí, uy tín cao trong năm 2020. Việt Nam được thế giới đánh giá là “ngôi sao sáng của châu Á”, được xếp vào tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới.

Như vậy, đúng như với câu “hữu xạ tự nhiên hương”, mặc cho những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phần tử phản động trong và ngoài nước cứ “đến hẹn lại lên” tại những sự kiện quan trọng, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn kiên trì cùng nhân dân thực hiện đường lối đổi mới, chính sách phù hợp, góp phần đem lại những chuyển biến rõ rệt, tích cực ở Việt Nam về mọi mặt, và được thế giới cùng bạn bè quốc tế công nhận, đánh giá cao.

Chiến thắng 30-4 là mốc son chói lọi bằng vàng, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, được cả thế giới ngưỡng mộ và tôn vinh. Mọi sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, của các phần tử phản động, cơ hội chính trị đều không làm phai nhạt giá trị, ý nghĩa lịch sử của sự kiện Đại thắng mùa Xuân 30-4-1975.

Mỗi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên và các tầng lớp Nhân dân cần kiên quyết, chủ động tuyên truyền, đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, phản động của các thế lực thù địch, kịp thời ngăn chặn, uốn nắn những nhận thức, quan điểm lệch lạc trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

 

 

SỰ PHI LÝ CỦA QUAN ĐIỂM ĐÒI “BỎ KỶ NIỆM NGÀY CHIẾN THẮNG 30/4/1975 NẾU MUỐN HOÀ HỢP, HOÀ GIẢI DÂN TỘC”

Ngày Chiến thắng 30/4/1975 hay còn gọi là Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là một sự kiện lịch sử vô cùng trọng đại, tự hào của dân tộc Việt Nam. Trải qua 49 năm, với tầm vóc, giá trị và ý nghĩa của Ngày Chiến thắng 30/4/1975, các hoạt động kỷ niệm sự kiện lịch sử này được Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân Việt Nam tổ chức long trọng cả trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, đối ngược với tinh thần phấn khởi, hân hoan chung, mỗi khi đến dịp kỷ niệm, một số it cá nhân, tổ chức ở nước ngoài lại tăng cường đưa ra những quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc về sự thật lịch sử, về tầm vóc, ý nghĩa, giá trị và về các hoạt động kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4/1975. Chúng đòi Đảng, Nhà nước Việt Nam bỏ các hoạt động kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4/1975 nếu muốn hoà hợp, hoà giải dân tộc.

Những cá nhân, tổ chức đưa ra quan điểm này ngoài một số rất ít là người Việt Nam ở nước ngoài mang trong mình tư tưởng mặc cảm, tự ti về quá khứ. Còn lại đa phần là những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị, những tổ chức truyền thông (VOA, BBC, RFA...), tổ chức khủng bố Việt Tân có khuynh hướng chống cộng, được sự hà hơi, tiếp sức, tài trợ của thế lực thù địch nước ngoài. Lực lượng này đưa ra quan điểm đòi bỏ Ngày kỷ niệm Chiến thắng 30/4/1975, cho rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam tổ chức các hoạt động kỷ niệm sự kiện này là không muốn khép lại quá khứ, là kích động hận thù, thiếu thiện chí trong hoà hợp, hoà giải dân tộc. Thoạt đầu, lý do này có vẻ thể hiện tinh thần mong muốn hoà hợp, hoà giải dân tộc, nhưng khi đi sâu vào lập luận cụ thể lại thể hiện tính mâu thuẫn và bản chất tráo trở của chúng. Mục đích của chúng là chủ tâm xuyên tạc, làm thay đổi về bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam khi gọi cuộc chiến tranh này là một cuộc nội chiến của người Việt Nam; xem thất bại của chế độ Việt Nam Cộng hoà là thất bại trước sự xâm lăng của chế độ Cộng sản Bắc Việt, nên gọi tháng 4/1975 là “Tháng Tư đen” và ngày 30/4/1975 là “Ngày quốc hận”. Lập luận này thể hiện rõ dã tâm cố ý khơi gợi lại quá khứ đau thương của dân tộc, kích động hận thù dân tộc. Và thực tế những gì chúng làm càng khẳng định rõ hơn dã tâm này, một mặt chúng đòi Đảng, Nhà nước nước Việt Nam bỏ các hoạt động kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4/1975, mặt khác lại tăng cường đưa các thông tin lên Internet, tổ chức các hoạt động ở nước ngoài về cái gọi là kỷ niệm “Tháng Tư đen”, “Ngày quốc hận” mỗi khi đến tháng 4 và ngày 30/4.

Việc đưa ra và đòi thực thi luận điệu này là một điều hết sức phi lý, chẳng qua chỉ là một phương cách chống phá trong nhiều phương cách chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam và chế độ XHCN của các lực lượng phản động. Thực tế đã và đang diễn ra cho chúng ta thấy, lực lượng này đang cố gieo vào tâm lý của người Việt Nam ở nước ngoài nỗi thù hằn hận thù dân tộc, sự tự ti, mặc cảm về quá khứ. Chúng biết rằng Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam không bao giờ bỏ kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4/1975, nên càng dựa vào điều này để tăng cường xuyên tạc rằng Đảng, Nhà nước không có thiện chí để thực hiện hoà hợp, hoà giải dân tộc. Tựu trung mục đích, đồng thời là cái căn nguyên thúc đẩy chúng khi đưa ra quan điểm này là muốn cản trở quá trình thực hiện hoà hợp, hoà giải dân tộc, từ đó làm cản trở sự phát triển của đất nước, của chế độ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Như vậynhìn từ bản chất, cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ, đồng minh của Mỹ và chính quyền tay sai Việt Nam Cộng hoà. Đây là ngày đánh dấu chiến thắng, là mốc son chói lọi cho thành quả đấu tranh, chiến đấu anh dũng trong suốt 30 năm của dân tộc Việt Nam chống lại sự xâm lược của một siêu cường, đế quốc sừng sỏ đứng đầu thế giới để đi tới giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Và việc tiến hành hoà hợp, hoà giải dân tộc luôn là điều mà Đảng, Nhà nước Việt Nam nỗ lực thực hiện. Song không phải vì thế mà Đảng, Nhà nước Việt Nam tiến hành hoà hợp, hoà giải dân tộc bằng mọi giá, trong đó có việc chối bỏ sự thật lịch sử, đánh đồng, trộn lẫn chính nghĩa với phi nghĩa. Đảng, Nhà nước Việt Nam chỉ tiến hành hoà hợp, hoà giải với những người Việt Nam ở nước ngoài thực sự có tinh thần hòa hợp, hòa giải thật sự. Còn đối với những người, những lực lượng rắp tâm phá hoại đất nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó có lực lượng đưa ra quan điểm đòi bỏ ngày kỷ niệm Chiến thắng 30/4/1975 thì Đảng, Nhà nước xem đây là lực lượng phản động, cần phải đấu tranh.

ÂM MƯU THÂM ĐỘC ĐẰNG SAU CÁI GỌI LÀ

"DÂN CHỦ", "NHÂN QUYỀN"

 

Sau khi chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, phương Tây đã "hí hửng" cho rằng, cơ hội "ngàn vàng" đã đến để xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, sớm thực hiện giấc mộng "Bá chủ thế giới".

Do sự biến đổi mau lẹ của thời cuộc nên phương thức "kinh điển" là dùng bạo lực vũ trang để gây chiến tranh, đổ quân xâm lược nước khác đã trở nên lỗi thời. Vì vậy, chiến lược "diễn biến hòa bình" với các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền", "đa nguyên chính trị", "đa đảng đối lập",... được phương Tây coi là những "món đòn độc chiêu", hấp dẫn, được đưa vào các chương trình nghị sự, trở thành điểm "then chốt của chiến lược đối ngoại thời hậu "chiến tranh lạnh của phương Tây và là phương thức hữu hiệu nhất để họ áp đặt các giá trị dân chủ, nhân quyền tư sản "kiểu phương Tây" vào Việt Nam với những toan tính phiêu lưu, mạo hiểm: Nhằm chuyển hóa Việt Nam theo kiểu phương Tây, tạo thuận lợi để họ xếp đặt lại trật tự thế giới sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.

Phương Tây đang ngộ nhận là họ "đứng trên người khác", là trung tâm văn hóa phát triển, đỉnh cao của nền dân chủ, nhân quyền có quyền ban phát cái gọi là "dân chủ, nhân quyền" cho toàn nhân loại; thực hiện công việc "nhân đạo" là đi "khai hóa văn minh" cho các dân tộc phương Đông mà theo họ là "lạc hậu", "kém cỏi "chậm tiến". Vì thế, họ ra sức tán dương sứ mệnh "cứu vớt loài người", vạch sẵn các chương trình "can thiệp sâu vào nội bộ Việt Nam", phán xét, xếp loại Việt Nam về mức độ thực hiện dân chủ, nhân quyền theo "tiêu chuẩn phương Tây" và nếu Việt Nam làm trái ý họ, muốn trượt ra ngoài "vòng cương tỏa" của họ, thì ngay lập tức, bị họ đưa vào danh sách "Nước còn nhiều hạn chế về quyền tự do, dân chủ", là đối tượng "cần theo dõi", "chỉnh đốn".

Vì vậy, bằng mọi phương cách, họ đã và đang tung tin bịa đặt, nào là "Việt Nam thiếu văn hóa dân chủ, không có dân chủ, hạn chế quyền riêng tư của công dân", nào là "Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền con người". Việc dựng nên những cái chuyện hoang đường, phi lý ấy đều nhằm mục đích kích động những phần tử phản động, bất mãn với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tập hợp, tạo dựng phe cánh, gây "điểm nóng" về xung đột sắc tộc, tôn giáo, gây rối loạn tình hình chính trị, xã hội và khi có điều kiện thì tổ chức bạo loạn lật đổ, mà chúng đã từng gây ra các vụ bạo loạn ở Tây Nguyên các năm 2001, 2004, 2008 và một số địa phương khác.

Sự thật vẫn là sự thật và bản thân nó chứa đựng chân lý, không ai có thể dùng ý muốn chủ quan để áp đặt, chà đạp lên nó; đặc biệt là trong tình hình thế giới hiện nay, khi mà giao lưu quốc tế được mở rộng, các phương tiện thông tin đại chúng đã đạt đến trình độ siêu đẳng, tự động hóa trong "một thế giới phẳng" thì không có điều gì có thể che giấu được. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản khởi xướng và lãnh đạo sau hơn 35 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Bộ mặt của Việt Nam sau gần 50 năm kết thúc chiến tranh đã hoàn toàn khác trước. Đất nước Việt Nam đã hồi sinh và đang phát triển mạnh mẽ, đời sống của hơn 90 triệu người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện, không ngừng được nâng lên.

Hằng năm, khách du lịch quốc tế, trong đó có nhiều người phương Tây, những cựu binh Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam đến tham quan, du lịch đều nhìn thấy sự thật: Đất nước Việt Nam sau gần 50 năm kết thúc chiến tranh đã thay da đổi thịt, sự sống đang hồi sinh; dù còn nhiều việc phải làm, đời sống chưa thật sự khá giả; song cái quý nhất là chính trị - xã hội ổ định, cuộc sống thật sự có hòa bình, an ninh tốt, nhân dân thật sự là chủ nhân của đất nước.

Cuộc sống vẫn cứ thế trôi đi. Những điều giản dị ở Việt Nam là chăm lo cho đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành đã và đang được khẳng định. Đó là đạo lý, là lẽ sống của người dân Việt Nam tin yêu đi theo Đảng. Xin ai tự thừa nhận là tốt bụng, có lương tâm, biết sống vì con người thì đừng làm những điều sai trái, phản dân, hại nước, cản trở sự tiến bộ của lịch sử. Ai đó dù cố tình cũng chỉ có thể bóp nát được vài bông hoa còn ý định huỷ diệt cả mùa xuân thì không thể, không bao giờ làm được. Quy luật của ngàn đời vẫn thế. Xin đừng giả danh, giả nghĩa làm những điều phi nhân tính. Còn như ai đó vẫn cứ lên lớp về "dân chủ, nhân quyền", xin hãy nghiên cứu kỹ lưỡng lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; xin hãy đến thăm đất nước Việt Nam với những thành tựu to lớn mà nhân dân ta đã đạt được trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo để hiểu rõ sự thật.

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU LẠC LÕNG XUYÊN TẠC

CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

Trong khi cả nước sôi nổi các hoạt động hướng tới kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2024), thì những ngày gần đây trên internet và mạng xã hội xuất hiện một số bài viết lạc lõng có nội dung phán xét, xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, giá trị lịch sử to lớn này của nhân dân Việt Nam. Những luận điệu tráo trở xuyên tạc lịch sử Việt Nam xuất hiện ở một số trang báo, trang mạng quen thuộc, như: Việt Tân, Nhật ký yêu nước, VOA, BBC News, Tin tức Hoa Kỳ,...

Bên cạnh tập trung xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nhân dân ta; chúng còn xuyên tạc, hạ bệ thần tượng lịch sử như phủ nhận tấm gương anh dũng hy sinh của Anh hùng Tô Vĩnh Diện; phủ nhận công lao của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò chỉ huy tài ba của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đặc biệt, chúng còn tráo trở cho rằng, thực chất quân đội Pháp dưới sự hậu thuẫn của Mỹ có mặt ở Việt Nam là để ngăn Việt Nam xâm lược một nước khác. Đây là những luận điệu, hành động không mới về thủ đoạn nhưng hết sức thâm độc, qua đó gieo rắc sự nghi ngờ, làm phân tâm niềm tin trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là giới trẻ hiện nay.

Thực tế lịch sử đã chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam, mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng mọi biện pháp để giành hoà bình bằng việc đàm phán với thực dân Pháp mà cả thế giới đều biết. Tuy nhiên, với bản chất hiếu chiến, thực dân Pháp đã thực hiện dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa với việc đưa hàng chục vạn binh lính cùng hàng triệu tấn bom đạn, vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân nhất lúc bấy giờ, trút bom đạn lên đầu hàng chục triệu người dân vô tội.

Chiến dịch Điện Biên Phủ được biết đến là một trận đánh lớn nhất, mang ý nghĩa hết sức to lớn trong lịch sử kháng chiến chống Pháp của quân và dân ta. Năm 1954, với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, quân và dân cả nước dồn sức cho chiến trường Điện Biên Phủ. Đã có 55.000 quân được huy động để tham gia lực lượng chiến đấu, trên 260.000 dân công và 27.400 tấn gạo được huy động. Hàng vạn thanh niên xung phong cũng được huy động làm nhiệm vụ mở đường. Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng tiến công mở màn trận chiến Điện Biên Phủ tại đồi Him Lam. Với kế hoạch “đánh chắc, tiến chắc”, bộ đội ta đã kéo pháo lên núi cao, đưa vào hầm và chĩa thẳng pháo xuống trận địa kẻ thù, nâng cao được uy lực, chính xác và mang lại hiệu quả cao nhất.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, dũng mãnh, ngoan cường, khoét núi, ngủ hầm, quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã vượt mọi khó khăn, thử thách, đập tan tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược đầu tiên của quân đội ta kể từ ngày thành lập (ngày 22/12/1944), kết thúc 9 năm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp của Mỹ, đánh bại “kế hoạch Nava” của thực dân Pháp, tạo điều kiện đi đến quyết định ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (ngày 21/7/1954).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng đánh giá: “Trong quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, 3 cột mốc chói lọi bằng vàng: Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Chiến thắng Điện Biên Phủ và Chiến thắng mùa Xuân 1975, đại thắng mãi mãi sáng ngời trong sử sách. Nhân dân Việt Nam đã làm nên câu chuyện thần kỳ tưởng chừng không thể làm được giữa thế kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển, đánh thắng những cường quốc, đế quốc chủ yếu bằng sức của chính mình, nêu gương anh dũng, bất khuất, trí tuệ, tài năng trước toàn thế giới”.

Đây là một trong những chiến công hiển hách, vang dội nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, có ý nghĩa to lớn, mang tầm vóc thời đại. Nó không những buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, mà còn buộc chúng phải công nhận độc lập của nhân dân Lào và Campuchia, rút quân khỏi bán đảo Đông Dương.

Khi nói về Chiến thắng Điện Biên Phủ, Thượng tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, nay là Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh: “Chiến thắng Điện Biên Phủ là sự phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam, đặc biệt là nghệ thuật chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp”.

Với sự kiện và nhân vật lịch sử rõ như ban ngày trong Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 70 năm về trước, thế nhưng các thế lực thù địch, phản động và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí vẫn xuyên tạc, bóp méo sự thật quả là không thể chấp nhận được./.

 

ÂM MƯU THÂM ĐỘC ĐẰNG SAU CÁI GỌI LÀ

"DÂN CHỦ", "NHÂN QUYỀN"

Sau khi chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, phương Tây đã "hí hửng" cho rằng, cơ hội "ngàn vàng" đã đến để xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, sớm thực hiện giấc mộng "Bá chủ thế giới".

Do sự biến đổi mau lẹ của thời cuộc nên phương thức "kinh điển" là dùng bạo lực vũ trang để gây chiến tranh, đổ quân xâm lược nước khác đã trở nên lỗi thời. Vì vậy, chiến lược "diễn biến hòa bình" với các chiêu bài "dân chủ", "nhân quyền", "đa nguyên chính trị", "đa đảng đối lập",... được phương Tây coi là những "món đòn độc chiêu", hấp dẫn, được đưa vào các chương trình nghị sự, trở thành điểm "then chốt của chiến lược đối ngoại thời hậu "chiến tranh lạnh của phương Tây và là phương thức hữu hiệu nhất để họ áp đặt các giá trị dân chủ, nhân quyền tư sản "kiểu phương Tây" vào Việt Nam với những toan tính phiêu lưu, mạo hiểm: Nhằm chuyển hóa Việt Nam theo kiểu phương Tây, tạo thuận lợi để họ xếp đặt lại trật tự thế giới sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ.

Phương Tây đang ngộ nhận là họ "đứng trên người khác", là trung tâm văn hóa phát triển, đỉnh cao của nền dân chủ, nhân quyền có quyền ban phát cái gọi là "dân chủ, nhân quyền" cho toàn nhân loại; thực hiện công việc "nhân đạo" là đi "khai hóa văn minh" cho các dân tộc phương Đông mà theo họ là "lạc hậu", "kém cỏi "chậm tiến". Vì thế, họ ra sức tán dương sứ mệnh "cứu vớt loài người", vạch sẵn các chương trình "can thiệp sâu vào nội bộ Việt Nam", phán xét, xếp loại Việt Nam về mức độ thực hiện dân chủ, nhân quyền theo "tiêu chuẩn phương Tây" và nếu Việt Nam làm trái ý họ, muốn trượt ra ngoài "vòng cương tỏa" của họ, thì ngay lập tức, bị họ đưa vào danh sách "Nước còn nhiều hạn chế về quyền tự do, dân chủ", là đối tượng "cần theo dõi", "chỉnh đốn".

Vì vậy, bằng mọi phương cách, họ đã và đang tung tin bịa đặt, nào là "Việt Nam thiếu văn hóa dân chủ, không có dân chủ, hạn chế quyền riêng tư của công dân", nào là "Việt Nam vi phạm nghiêm trọng quyền con người". Việc dựng nên những cái chuyện hoang đường, phi lý ấy đều nhằm mục đích kích động những phần tử phản động, bất mãn với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, tập hợp, tạo dựng phe cánh, gây "điểm nóng" về xung đột sắc tộc, tôn giáo, gây rối loạn tình hình chính trị, xã hội và khi có điều kiện thì tổ chức bạo loạn lật đổ, mà chúng đã từng gây ra các vụ bạo loạn ở Tây Nguyên các năm 2001, 2004, 2008 và một số địa phương khác.

Sự thật vẫn là sự thật và bản thân nó chứa đựng chân lý, không ai có thể dùng ý muốn chủ quan để áp đặt, chà đạp lên nó; đặc biệt là trong tình hình thế giới hiện nay, khi mà giao lưu quốc tế được mở rộng, các phương tiện thông tin đại chúng đã đạt đến trình độ siêu đẳng, tự động hóa trong "một thế giới phẳng" thì không có điều gì có thể che giấu được. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản khởi xướng và lãnh đạo sau hơn 35 năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Bộ mặt của Việt Nam sau gần 50 năm kết thúc chiến tranh đã hoàn toàn khác trước. Đất nước Việt Nam đã hồi sinh và đang phát triển mạnh mẽ, đời sống của hơn 90 triệu người dân Việt Nam ngày càng được cải thiện, không ngừng được nâng lên.

Hằng năm, khách du lịch quốc tế, trong đó có nhiều người phương Tây, những cựu binh Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam đến tham quan, du lịch đều nhìn thấy sự thật: Đất nước Việt Nam sau gần 50 năm kết thúc chiến tranh đã thay da đổi thịt, sự sống đang hồi sinh; dù còn nhiều việc phải làm, đời sống chưa thật sự khá giả; song cái quý nhất là chính trị - xã hội ổ định, cuộc sống thật sự có hòa bình, an ninh tốt, nhân dân thật sự là chủ nhân của đất nước.

Cuộc sống vẫn cứ thế trôi đi. Những điều giản dị ở Việt Nam là chăm lo cho đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành đã và đang được khẳng định. Đó là đạo lý, là lẽ sống của người dân Việt Nam tin yêu đi theo Đảng. Xin ai tự thừa nhận là tốt bụng, có lương tâm, biết sống vì con người thì đừng làm những điều sai trái, phản dân, hại nước, cản trở sự tiến bộ của lịch sử. Ai đó dù cố tình cũng chỉ có thể bóp nát được vài bông hoa còn ý định huỷ diệt cả mùa xuân thì không thể, không bao giờ làm được. Quy luật của ngàn đời vẫn thế. Xin đừng giả danh, giả nghĩa làm những điều phi nhân tính. Còn như ai đó vẫn cứ lên lớp về "dân chủ, nhân quyền", xin hãy nghiên cứu kỹ lưỡng lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; xin hãy đến thăm đất nước Việt Nam với những thành tựu to lớn mà nhân dân ta đã đạt được trong công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo để hiểu rõ sự thật.

 

BẢN LĨNH VỮNG VÀNG TRƯỚC THÔNG TIN XUYÊN TẠC

Lợi dụng xã hội thông tin mở và đa dạng hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động chống phá nước ta. Chỉ cần mở điện thoại thông minh, lên mạng xã hội là mỗi người chúng ta đã có thể bị tấn công bởi rất nhiều tin giả, tin đồn thất thiệt, xuyên tạc. Do đó, cán bộ, đảng viên nếu không đủ bản lĩnh, không tỉnh táo nhận diện thì rất dễ mắc mưu, dẫn đến những trạng thái tâm lý, những hành động tiêu cực. Cạm bẫy từ những “bả thông tin”.
Để tránh những tác hại lan truyền của thông tin xấu, độc, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng cho mình hệ miễn dịch trước thông tin xấu, độc, cần nhận thức sâu sắc, giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, với những giải pháp như sau:

Thứ nhất, thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai, mỗi cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc học tập, kết hợp tự học, tự nghiên cứu nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, quản lý nhà nước..., hình thành thói quen chỉ tiếp nhận thông tin qua các kênh thông tin chính thống của Đảng, Nhà nước.

Thứ ba, các tổ chức đảng trong sinh hoạt thường kỳ nên lồng ghép những buổi sinh hoạt tư tưởng, nhanh nhạy nắm bắt, phát hiện các thông tin xấu, độc, bịa đặt lan truyền trong xã hội, đặc biệt là trên không gian mạng để kịp thời có sự định hướng bằng những thông tin đúng đắn, các luận điểm thuyết phục để phản bác, hạn chế sự lan tỏa, ảnh hưởng của các luồng thông tin xấu, độc trong đơn vị.

Thứ tư, các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Ðảng, Nhà nước, nghiêm cấm lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động.

Để những thông tin xấu, độc không còn đất dung thân thì cán bộ, đảng viên phải giữ vững lập trường, quan điểm, giữ gìn đạo đức, lối sống trong sáng, bình tĩnh trong việc tiếp nhận thông tin, kiểm chứng thông tin, thận trọng trong lan truyền thông tin. Đồng thời, việc cung cấp thông tin chính thống kịp thời, đúng đắn, chính xác của các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng, cơ quan báo chí sẽ có tác động rất lớn giúp cho đảng viên và nhân dân có thêm kiến thức, sự hiểu biết và tư tưởng ổn định, giúp loại bỏ các khoảng trống cho thông tin xấu, độc./.

 

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN DIỄN BIẾN HÒA BÌNH CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI TA

Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ra sức thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” chống phá cách mạng nước ta. Chúng coi đây là phương thức chính, nhưng vẫn kết hợp răn đe quân sự, khi cần và có thời cơ có thể can thiệp vũ trang hoặc gây chiến tranh xâm lược với những mức độ và quy mô khác nhau.

Tuy đặc trưng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là sử dụng các biện pháp phi quân sự là chủ yếu, nhưng chủ nghĩa đế quốc vẫn coi việc giành ưu thế quân sự là điều kiện tiên quyết bảo đảm thắng lợi cho chiến lược “diễn biến hòa bình”. Để giành được ưu thế quân sự, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động một mặt tăng cường sức mạnh quân sự, nâng cao khả năng chiến đấu đủ sức răn đe và có thể đáp ứng các tình huống tác chiến; mặt khác, dùng nhiều thủ đoạn làm suy yếu khả năng quốc phòng, trước hết là suy yếu quân đội đối phương.

Đối với Việt Nam, kẻ thù cũng biết rằng quân đội ta hiện nay là một lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; muốn thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” phải “phi chính trị hoá”, “vô hiệu hoá” lực lượng này.

Các thế lực thù địch coi trọng trước hết là chống phá về tư tưởng. Trong cuốn “Chớp lấy thời cơ, thách thức đối với Hoa Kỳ trong thế giới một siêu cường”, R. Ních-xơn khẳng định: “Toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hiệp ước mậu dịch, viện trợ và các quan hệ văn hoá sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”.

Mục tiêu phá hoại về tư tưởng ở Việt Nam là xoá bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, của nhân dân ta là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm chuyển hoá tư tưởng theo các trào lưu tư tưởng phản động phương Tây và các trào lưu tư tưởng phản động khác.

Các thủ đoạn chúng thường dùng là sử dụng hệ thống phương tiện truyền thông hiện đại công khai cùng với việc lén lút lưu hành tài liệu phản động và các kiểu thông tin truyền miệng xuyên tạc, phê phán chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận chủ nghĩa xã hội; tán dương chế độ tư bản; cổ vũ thuyết “đa nguyên, đa đảng”, tuyên truyền cho “chủ nghĩa xã hội dân chủ”.

Gần đây, một số luận điệu phản động đặt lại những vấn đề về quan điểm đường lối cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, đặc biệt là về phương pháp cách mạng. Chúng cố tình xuyên tạc lịch sử, đảo lộn tính chất chính nghĩa các cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp, Mỹ của dân tộc ta thành cuộc “chiến tranh ý thức hệ”. Chúng xoá nhoà ranh giới giữa quân đội ta, một quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu với quân ngụy tay sai đế quốc, rồi lên án cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc là chiến tranh “vô nghĩa”, “hao người tốn của”...

Kẻ thù cũng biết rất rõ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất, truyền thống và sức mạnh của quân đội ta. Chúng chống phá về chính trị, tư tưởng, đòi xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi bỏ hệ thống cán bộ Đảng và tổ chức Đảng trong quân đội, đòi quân đội là tổ chức độc lập không lệ thuộc một khuynh hướng chính trị, một chính đảng nào...

Với cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân, chúng xoáy vào những vấn đề dễ nhạy cảm về tư tưởng lối sống như kích động lối sống thực dụng, vị kỷ trong quân đội, gây tâm lý bi quan, giảm sút ý chí, và tinh thần chấp hành kỷ luật gây ảnh hưởng xấu đến xây dựng đơn vị và khả năng sẵn sàng chiến đấu. Chúng kích động gây mâu thuẫn giữa quân đội với nhân dân, quân đội với công an, cán bộ quân đội với cán bộ Đảng, chính quyền, cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ với chiến sĩ... hòng phá hoại tinh thần đoàn kết gắn bó quân dân, đoàn kết cán binh, đoàn kết hiệp đồng giữa các lực lượng trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa.

Các thế lực thù địch cũng rất chú trọng tác động vào lối sống của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Lợi dụng những tiêu cực phát sinh trong cơ chế thị trường, trong lối sống ngoài xã hội, chúng đẩy mạnh tác động xâm nhập những yếu tố tiêu cực này vào trong quân đội. Chúng cổ động tâm lý tự do không kỷ cương, ngại tổ chức kỷ luật chặt chẽ trong quân đội, lối suy nghĩ vị kỷ, chạy theo đồng tiền, làm giàu bằng mọi giá, lối sống buông thả, bản năng...

Cho đến nay có thể nhận định rằng, phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" vẫn được giữ vững và phát huy, nhưng cần nhận thấy những hiện tượng tiêu cực trái bản chất truyền thống tốt đẹp của quân đội đã xuất hiện trong một số quân nhân, dao động niềm tin, tư duy thực dụng, buôn bán bất chính, tham nhũng, vi phạm kỷ luật... Những hiện tượng này có sự tha hoá, kém ý thức phấn đấu rèn luyện của người quân nhân cách mạng và do sự buông lỏng quản lý giáo dục của lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Nhưng có mặt do sự tác động phá hoại bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” của kẻ thù. Sự hiện diện của nó hiện nay đã phần nào làm ảnh hưởng đến hình ảnh cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ", nếu không được loại trừ sẽ mắc vào âm mưu của các thế lực thù địch, từng bước làm suy yếu quân đội, dẫn đến “phi chính trị hoá”, “vô hiệu hoá” quân đội ta.

 

Cảnh giác với Dân chủ - nhân quyền của các thế lực thù địch

Dân chủ – nhân quyền là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, đã và đang trở thành một nội dung then chốt bao trùm lên các hoạt động chống phá Đảng và nhà nước ta của các thế lực thù địch trong và ngoài nước. Thông qua hoạt động lợi dụng các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, các thế lực thù địch tìm mọi cách thúc đẩy Việt Nam mở rộng các quyền tự do cá nhân, tôn giáo, dân tộc, ngôn luận, bày tỏ chính kiến; yêu cầu ta giảm bớt sự kiểm soát của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy kinh tế tư nhân ở Việt Nam phát triển; can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước. Chúng từng bước vô hiệu hóa và tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chuyển hóa toàn diện chế độ chính trị của Việt Nam. Chủ nghĩa đế quốc và các nước thù địch bên ngoài gia tăng sức ép với ta trên nhiều lĩnh vực như chính trị, ngoại giao và kinh tế, đặc biệt tăng cường lợi dụng chiêu bài “tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền” để răn đe, gây sức ép với hy vọng Việt Nam sẽ từng bước thay đổi tiến tới ủng hộ và đi theo quỹ đạo của Chủ nghĩa đế quốc.

Thực hiện âm mưu này, các thể lực thù địch lợi dụng triệt để, khai thác những vấn đề tiêu cực, phức tạp trong đời sống xã hội, những bất cập, thiếu sót trong việc ban hành, thực hiện các chính sách và pháp luật có liên quan đến quyền con người; khai thác tâm lý, tâm trạng bất bình của một bộ phận nhỏ quần chúng nhân dân, cán bộ đảng viên để kích động, lôi kéo quần chúng nhân dân vào các hoạt động chống đối Đảng và Nhà nước ta. Đặc biệt hiện nay, chúng đã và đang lợi dụng, khai thác tình trạng quan liêu, tham nhũng của một bộ phận nhỏ cán bộ công chức để kích động các hoạt động chống đối dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền. Đồng thời kích thích, hỗ trợ các phần tử lợi dụng tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền chống phá ta một cách mạnh mẽ.

Tóm lại các thế lực thù địch dưới danh nghĩa đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền sẽ tiếp tục tung ra nhiều luận điệu, thủ đoạn xảo trá để xuyên tạc, kích động gây chia rẽ, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước phá hoại đoàn kết nội bộ. Do vậy, mỗi người dân, cán bộ, đảng viên, thanh niên, học sinh sinh viên… cần nâng cao cảnh giác, miễn dịch với các thông tin độc hại; đồng thời có những nhận thức và hành động đấu tranh, phản bác trước âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng dân chủ và nhân quyền để chống phá sự nghiệp cách mạng của nước ta./.

 

VAI TRÒ CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Một trong những âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng xem đây là mũi nhọn đột phá hòng xoá bỏ thành quả cách mạng, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, hướng lái Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Để thực hiện dã tâm, mưu đồ đen tối ấy, các thế lực thù địch thường xuyên đưa ra những lý lẽ, luận điệu sai trái, xuyên tạc, phủ nhận vai trò và hạ thấp uy tín của Đảng.

Một là: Thực tế lịch sử đã chứng minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Bước ngoặt quan trọng trong tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam là ngày 03/02/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả tất yếu của sự kết hợp, chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân, phong trào yêu nước Việt Nam. Từ đây, cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước kéo dài nhiều năm đã chấm dứt, mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam-thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Qua gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, kinh tế tăng trưởng khá, văn hóa – xã hội có bước phát triển. Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và ngày càng đi vào chiều sâu. Dân chủ được phát huy và ngày càng mở rộng; đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường. Xây dựng Nhà nước pháp quyền và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt được nhiều kết quả. Cán bộ, đảng viên và Nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo Đảng, quản lý của Nhà nước, tin tưởng vào công cuộc đổi mới và triển vọng đi lên của đất nước. Những thành tựu đó đã minh chứng sinh động khẳng định vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Hai là: Đảng và Nhà nước ta luôn kiên quyết, kiên trì, chủ động đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra, tham nhũng, lãng phí, là một trong những nguy cơ đe dọa đến tồn vong của chế độ, sự phát triển bền vững của đất nước, làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng. Quan điểm nhất quán của Đảng là kiên quyết kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Điều đó thể hiện rõ quyết tâm chính trị lớn lao, dù khó khăn, lâu dài nhưng vẫn không chùn bước trước “nạn giặc nội xâm”. Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đã khẳng định, để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, vấn đề “gốc” phải làm từ cán bộ và công tác cán bộ. Gần đây nhất, lần đầu tiên 22 hành vi tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng trong hoạt động thanh tra, kiểm toán được nhận diện trong Quy định 131. Tương tự như vậy, 28 hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trong Quy định 132. Những quy định này là cần thiết và kịp thời nhằm răn đe, chấn chỉnh, ngăn chặn vi phạm từ sớm, từ xa và cũng là minh chứng khẳng định “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong thực hiện những quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Ba là: Ở Việt Nam không có bóc lột, hành hạ, trấn áp người dân

Ở Việt Nam quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của công dân Việt Nam, được Hiến pháp, pháp luật Việt Nam quy định, bảo đảm và bảo vệ. Mọi người dân đều có quyền bày tỏ ý kiến, trong đó có những người có ý kiến khác, thậm chí trái chiều với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Những cá nhân bất đồng chính kiến được trao đổi, đối thoại trực tiếp về những vấn đề còn có quan điểm, nhận thức khác nhau để đi đến thống nhất. Trong đối thoại, trao đổi trực tiếp với các cá nhân bất đồng chính kiến, cấp ủy, chính quyền các cấp đã thực hiện trên tinh thần: cầu thị, khách quan, bình đẳng, dân chủ, cởi mở, tôn trọng sự khác biệt, biết lắng nghe, không định kiến với cá nhân, tạo tâm lý tích cực và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân ngay từ cơ sở… Không có chuyện bắt giam, bỏ tù những người bất đồng chính kiến như luận điệu một số hãng truyền thông phương Tây rêu rao. Những người bị bắt, truy tố, xét xử đều là những tội phạm hình sự, đã hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước, kích động lật đổ chính quyền, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bất mãn, “trở cờ”, đã quay lưng lại với Đảng, với dân tộc và nhân dân.

Trước những luận điệu xuyên tạc của những kẻ cơ hội, phản động, vấn đề quan trọng hàng đầu là mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội cần nâng cao bản lĩnh, trí tuệ để nhận diện và vạch trần bản chất của các luận điệu ấy. Đồng thời, vận dụng sáng tạo các hình thức đấu tranh, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước trong tình hình mới./.

 

ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK

Trong những năm qua, công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, qua đó góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Công tác đấu tranh được thực hiện trên nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó công tác đấu tranh chống quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên mạng xã hội Facebook có vị trí rất quan trọng.

Thực tiễn cho thấy, tại Việt Nam, với dân số khoảng 95 triệu người, tỷ lệ người sử dụng internet chiếm hơn 65% đứng thứ 16 thế giới về số lượng người sử dụng internet, trong đó có khoảng 94% người dùng với mục đích sử dụng mạng xã hội. Các mạng xã hội được người dùng Việt Nam sử dụng phổ biến là Facebook, Zalo, Youtube, Instagram..., nhiều nhất là mạng xã hội Facebook với gần 60 triệu người dùng đứng thứ 7 thế giới. Facebook là một trong những mạng xã hội hàng đầu thế giới hiện nay, là nơi kết nối tất cả mọi người lại với nhau trên toàn thế giới. Tương tự như mạng Internet, Facebook tạo ra một thế giới phẳng - nơi không còn khoảng cách địa lý cho phép tất cả người dùng đăng tải và chia sẻ trạng thái, thông tin cá nhân và tương tác với người khác. Nhận thức được điều này, Đảng ta đã xác định, cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch thực chất là cuộc đấu tranh giữa hai ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; là cuộc đấu tranh lâu dài, phức tạp, ngày càng diễn ra quyết liệt.

Xác định rõ hình thức, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, để đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên mạng xã hội facebook, thiết nghĩ cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân để nhìn nhận và có trách nhiệm, ý thức trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, các dấu hiệu “tự diễn biến, tự chuyển hóa. Đây là một giải pháp rất quan trọng, thường xuyên, cơ bản, lâu dài để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm và nâng cao cảnh giác, bảo đảm “giữ vững bên trong là chính”.

Hai là, tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình thức, trong đó tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên Facebook của các loại đối tượng làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên, Nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ bình luận, hưởng ứng, bài viết trên các trang Facebook có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật.

Ba là, tiếp tục triển khai có hiệu quả các chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới, xem đây là sự định hướng chiến lược quan trọng trong việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, tăng cường rà soát, tổ chức đăng ký thông tin cá nhân, quản lý chặt chẽ các tài khoản chính chủ, mỗi cá nhân chỉ nên tạo một tài khoản chính chủ, không để xảy ra hiện tượng tài khoản ảo. Bộ Thông tin và Truyền thông cần đẩy mạnh các hoạt động trao đổi, làm việc với đại diện của Facebook, yêu cầu giải quyết các đề nghị ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật Việt Nam trên mạng xã hội đối với các tài khoản ảo.

 

KHÔNG THỂ LỢI DỤNG KHÓ KHĂN VỀ NƯỚC ĐỂ THỰC HIỆN

 ÂM MƯU PHÁ HOẠI ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

Thời gian gần đây, trên không gian mạng, các đối tượng thù địch, đối tượng xấu đã lợi dụng những khó khăn về nước để tung tin xuyên tạc, vu khống, kích động nhằm phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Họ cho rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam không quan tâm gì đến nhân dân, bỏ mặc nhân dân khốn đốn vì thiếu nước sản xuất, sinh hoạt. Họ làm thơ tung hỏa mù, hòng gây nghi ngờ, thắc mắc: “Dân khát, ruộng đồng khô, lúa chết! Hỏi ai có biết, tại đâu không?”. Họ phán bừa: giá nước sạch ở một số địa phương tăng cao, chính là “Thiên đường CNXH nằm ngay trước mắt rồi” và: “THIÊN TÀI CỘNG SẢN: Miền Tây thiếu nước thì họ khuyên nhân dân sống chung với hạn mặn… NHÀ NƯỚC VÔ DỤNG CÓ CŨNG NHƯ KHÔNG”. Họ bịa đặt, quy kết: Chính quyền chỉ thích xây tượng đài vì mới ăn bớt, kiếm được tiền, còn nước ngọt cho dân thì không quan tâm vì chẳng được gì. Họ khuyên người dân “tự cứu nhau” chứ “trông chờ gì ở chính quyền” rồi kích động nhân dân phải đứng lên chống lại Đảng, chính quyền, thay đổi thể chế thì đất nước mới phát triển, nhân dân mới thoát cơ cực…

Chúng ta có đủ cơ sở thực tế để chứng minh: sự tuyên truyền trên là sai trái, vô lý, trắng trợn, với âm mưu chống phá đất nước Việt Nam.

Trước hết, phải khẳng định ngay rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành, địa phương, cùng nhân dân Việt Nam luôn chú trọng quan tâm, có nhiều chủ trương, chính sách giải pháp tích cực, hiệu quả bảo đảm an ninh nguồn nước, khắc phục khó khăn về nước để phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề thủy lợi, bảo đảm nước cho sản xuất và đời sống nhân dân. Người trực tiếp nhiều lần về công trường thủy lợi Bắc – Hưng – Hải, về tỉnh Hưng Yên chỉ đạo phong trào làm thủy lợi. Người từng dạy: “Làm thủy lợi khó nhọc trong vài năm để được sung sướng muôn đời”. Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên có chủ trương, chính sách thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát triển hạ tầng thủy lợi theo hướng đa mục tiêu, bảo đảm an ninh nguồn nước, gắn với phòng chống thiên tai; tập trung cao hơn các nguồn lực cho thích ứng với biến đổi khí hậu”. Ngày 23 – 6 – 2022, vừa qua, Bộ Chính trị (khóa XIII) đã có Kết luận số 36 – KL/TW Về bảo đảm an toàn an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Kết luận đã đề ra nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để thực hiện có hiệu quả an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước với mục tiêu tổng quát: “Bảo đảm số lượng, chất lượng nước phục vụ dân sinh trong mọi tình huống; đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho sản xuất, kinh doanh của các ngành, lĩnh vực, đặc biệt là các ngành kinh tế quan trọng, thiết yếu; mọi người dân, mọi đối tượng được tiếp cận, sử dụng nước công bằng, hợp lý. Chủ động tích trữ, điều hòa nguồn nước, khai thác, sử dụng hiệu quả đi đôi với bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước; ứng phó hiệu quả với các thảm họa, thiên tai liên quan đến nước, thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo vệ môi trường, khắc phục tình trạng suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước”. Đồng thời, Kết luận cũng xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2025, năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, trong đó nêu rõ: “Đến năm 2030 cân đối đủ nước phục vụ cho dân sinh và phát triển kinh tế – xã hội; 100% hộ gia đình ở thành thị và 80% hộ gia đình ở nông thôn được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn”…

Những chủ trương đúng đắn của Đảng về bảo đảm an ninh nguồn nước đã nhanh chóng được triển khai thực hiện. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã cụ thể hóa chủ trương của Đảng thành những nhiệm vụ, mục tiêu, biện pháp cụ thể và tổ chức thực hiện hiệu quả trên thực tế. Ví dụ, như năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành và triển khai tổ chức thực hiện hiệu quả Chỉ thị 2101/CT – TTg triển khai biện pháp cấp bách khắc phục tình trạng thiếu nước sản xuất và sinh hoạt trong những tháng cuối năm 2009 và đầu năm 2010. Hay gần đây, năm 2022, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 1595/QĐ – TTg Kế hoạch hành động thực hiện Kết luận số 36 – KL/TW Về bảo đảm an toàn an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với 10 nhiệm vụ giải pháp cụ thể để đạt kết quả thiết thực. Kế hoạch xác định tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức, hoàn thiện thể chế chính sách liên quan đến bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước. Kế hoạch yêu cầu chú trọng nâng cao: hiểu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng công tác quy hoạch và điều tra cơ bản, năng lực tích trữ, điều hòa, phân phối nguồn nước, tiêu, thoát nước phục vụ sản xuất, đời sống dân sinh; chất lượng, hiệu quả quản lý, vận hành, bảo đảm an toàn đập, hồ chứa nước; năng lực phòng, chống thiên tai liên quan đến nước và biến đổi khí hậu; chất lượng nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số trong bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn đập, hồ chứa nước. Kế hoạch cũng đề ra yêu cầu tăng cường bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn sinh thủy, phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước và tăng cường hợp tác, ngoại giao với các đối tác quốc tế và các quốc gia có chung nguồn nước với Việt Nam.

Đồng thời, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng thường xuyên sâu sát, trực tiếp chỉ đạo các dự án, các công trình, các công việc liên quan đến bảo đảm an ninh nguồn nước. Thủ tướng Chính phủ cũng kiên quyết yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra tình trạng người dân không có nước sinh hoạt.

Cùng với nỗ lực của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và cả cộng đồng đã cùng chung sức, đồng lòng, huy động sức mạnh vật chất, tinh thần để vượt qua khó khăn, trở ngại về nước, bảo đảm an ninh nguồn nước. Nhà nước cùng với các Bộ, ngành địa phương, các phong trào xã hội hóa đã đầu tư tích cực, nhiều dự án, công trình ngắn hạn và dài hạn, nhất là các công trình thủy lợi ra đời, phát huy hiệu quả thiết thực. Những ngày vừa qua, cũng giống như trước đây, khi xảy ra khó khăn về nước thì tinh thần tương thân, tương ái, thắm đậm tình nghĩa lại được thể hiện phong phú, sinh động với nhiều việc làm rất thiết thực. Đó là việc cả cộng đồng cùng đến với những nơi, những người dân thiếu nước, là nhiều người dân hỗ trợ nước ngọt cho nhau, là các đơn vị Quân đội dùng xe chở nước đến giúp nhân dân…

Chúng ta đồng thuận với khẳng định của Đảng: Bảo đảm an ninh nguồn nước luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo, cả hệ thống chính trị và cộng đồng cùng tích cực vào cuộc nên đạt được nhiều kết quả tích cực, cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, đời sống sinh hoạt của người dân. Đồng thời chúng ta cũng xác định rõ ràng rằng: trước mặt cũng như lâu dài việc bảo đảm an ninh nguồn nước vẫn còn nhiều khó khăn, phức tạp đòi hỏi cả nước phải kiên quyết, kiên trì khắc phục, vượt qua.

Đó cũng là cơ sở quan trọng để chúng ta tin tưởng, khẳng định rằng: Những thế lực, những đối tượng lợi dụng khó khăn về nước của Việt Nam để chống phá đất nước Việt Nam chắc chắn họ sẽ bi thất bại./.

 

NGƯỜI DÂN VIỆT NAM KHÔNG DỄ BỊ NHỒI SỌ ĐÂU!

Một số kẻ “yêu nước” ở tận hải ngoại tỏ vẻ am hiểu về chính trị, đưa ra những bài viết sáo rỗng dưới góc nhìn như một “chuyên gia” về chủ nghĩa cộng sản. “Tóm tắt về chủ nghĩa cộng sản” – một bài viết mới đăng trên trang “Nhật ký yêu nước” là một kiểu bài như vậy. Chúng đưa ra những thông tin sai lầm về bản chất như cho rằng chủ nghĩa cộng sản là “chủ nghĩa toàn trị”, “tẩy não, nhồi sọ toàn thể dân chúng bằng hệ tư tưởng của đảng”…

Thứ nhất, tác giả bài viết trên chưa “đủ tuổi” để “tóm tắt” về chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản là một hệ tư tưởng rất lớn trong chính trị học, đối trọng chính của học thuyết chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa cộng sản là một khái niệm vô cùng rộng lớn với tổng hợp các lý luận chính trị, kinh tế, xã hội, tư tưởng gắn liền với các phong trào xã hội, phong trào chính trị. Do đó, thực sự phải học sâu, hiểu rộng đến mức nào mới có thể hiểu được hệ tư tưởng này chứ đừng nói đến việc tóm tắt nó trong một bài viết ngắn với vỏn vẹn chỉ 404 từ!

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản là đảng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo đất nước nhưng quyền lực thực sự lại thuộc về Nhân dân. Điều này được thể hiện ngay trong hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 2 Hiến pháp năm 2013 (đây là bản Hiến pháp mới nhất) quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” đã thể hiện nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đề cao quyền làm chủ của Nhân dân. Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ XHCN, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của Nhân dân”.

Lịch sử thế giới đã chứng minh, không một dân tộc, một quốc gia nào có thể phát triển được nếu không có một giai cấp, tầng lớp đứng lên lãnh đạo. Ở Mỹ có thể là Đảng Dân chủ hoặc Cộng hòa; ở Pháp là liên minh Đảng cầm quyền, bao gồm Đảng “Nước Pháp bất khuất” (LFI), đảng Xanh và Sinh thái (EELV), đảng Cộng sản (PCF) và đảng Xã hội (PS); ở Đức là liên minh đảng Dân chủ Xã hội (SPD), đảng Xanh và đảng Dân chủ Tự do (FDP)… Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước và xã hội. Bằng chứng không thể chối cãi đó là những chiến thắng Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, trấn động địa cầu”, đại thắng Mùa Xuân 1975…đánh đuổi những kẻ thù hùng mạnh nhất thế giới là thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ.

Điều đó tiếp tục được thực tiễn chứng minh là hoàn toàn đúng đắn và có sức thuyết phục. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, an ninh chính trị luôn ổn định, kinh tế, văn hóa – xã hội từng bước phát triển, đời sống Nhân dân ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc. Năm 2023, kinh tế nước ta đạt được kết quả khả quan với mức tăng trưởng kinh tế ước đạt 5,05%, cao gấp 1,5 lần so với mức tăng trưởng 2,9% của kinh tế toàn cầu. Việt Nam tăng 12 bậc trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2023, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65.

Chúng ta đều rõ, “chủ nghĩa toàn trị” là một thuật ngữ được các nhà nghiên cứu chính trị, triết học,… sử dụng để mô tả một thể chế chính trị, trong đó nhà nước áp đặt chế độ chuyên chế, độc đoán, áp đặt mọi hành vi cá nhân và cộng đồng trên mọi khía cạnh. Ngược lại, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam luôn đặt lợi ích của dân tộc, của toàn thể Nhân dân lên trên hết, trước hết. Hơn 94 năm đi theo Đảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tầng lớp nhân dân Việt Nam nhận rõ hơn ai hết, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không có một lực lượng, một tổ chức nào có thể đại diện chân chính cho lợi ích của mình. Thực tế đó chứng minh, Việt Nam chỉ cần một đảng lãnh đạo là đủ và do đó, ở Việt Nam không cần đa nguyên, đa đảng và hoàn toàn không có khái niệm “Chủ nghĩa toàn trị”.

Bất kỳ đảng cầm quyền nào cũng phải thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền cho Nhân dân về tính ưu việt của chính đảng mình, của nền tảng tư tưởng mà đảng đó lựa chọn và về cương lĩnh, chiến lược, các định hướng lớn về chính sách và các chủ trương lớn mà đảng cầm quyền đang theo đuổi. Vì vậy, không có gì lạ khi Đảng cộng sản Việt Nam tuyên truyền về Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản để tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với đường hướng phát triển của đất nước. Đó là thông tin, tuyên truyền, làm sáng rõ chứ hoàn toàn không có chuyện “tẩy não”, “thông não”, “nhồi sọ”… như các “chuyên gia” của Nhật Ký Yêu nước xuyên tạc.

Trong thời đại 4.0, sự phát triển như vũ bão của Internet, mạng xã hội, người dân Việt Nam có đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin… và đương nhiên, người dân cũng được trang bị đầy đủ kiến thức, dễ dàng xác minh thông tin, không dễ gì để họ tin vào những lý thuyết sáo rỗng cho dù công tác tuyên truyền của Đảng cộng sản có sức lôi cuốn, thuyết phục đến đâu. Chỉ có kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn; những chủ trương, đường lối, chính sách thiết thực, cụ thể mang lại lợi ích cho Nhân dân mới chứng minh được sự lãnh đạo của Đảng là đúng đắn.

Chính vì thế, mấy ông “chuyên gia” – thực chất là những tên phản động, chống phá lưu vong tận bên Mỹ, bên Úc như Việt Tân, Nhật ký yêu nước… hãy tém tém lại. Người dân Việt Nam không dễ bị nhồi sọ đâu!./.

 

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TINH, GỌN, MẠNH, TỪNG BƯỚC HIỆN ĐẠI

“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, truyền thống ấy đã thấm đượm vào lý trí bao thế hệ cán bộ chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Trải qua gần 80 năm chiến đấu và trưởng thành quân đội ta đã tạo nên bao nhiêu chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Chiến lược “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm thôn tính các nước cộng sản diễn ra trên nhiều lĩnh vực mà trong đó, quân đội là mục tiêu quan trọng, là mũi nhọn tiến công nhằm vô hiệu hóa vai trò bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa với chiêu bài “phi chính trị hóa quân đội”.

Thời gian vừa qua Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương đã xem xét và đề nghị thi hành kỷ luật đối với một số tổ chức và một số cá nhân vi phạm điều lệnh, vi phạm kỷ luật quân đội, vi phạm tác phong lễ tiết, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm nguyên tắc tổ chức, vi phạm công tác quản lý kinh tế, vũ khí khí tài, đất đai quốc phòng…. Việc làm đó là kịp thời, chính xác và nghiêm minh để nhằm củng cố sức mạnh của quân đội ta. Kỷ luật quân nhân sai phạm là việc thể hiện đặc tính nghiêm minh trong quân đội mà bao thế hệ “Bộ đội Cụ Hồ” đã dày công vun đắp. Như lời Bác nhắc nhở cán bộ: “Phải nâng cao kỷ luật, giữ vững kỷ luật. Những cán bộ có ưu điểm thì phải khen thưởng; người làm trái kỷ luật thì phải phạt”.

Vậy mà việc làm kịp thời, kiên quyết và cần thiết trên lại bị các “anh hùng bàn phím”, thế lực thù địch, bọn phản động trong nước cũng như ngoài nước, một số đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ. Những người này đã bị lôi kéo, mua chuộc nên lung lay lập trường chính trị, bị kéo theo tư tưởng của địch rồi biên soạn, tán phát tài liệu, trả lời phỏng vấn phương tiện truyền thông với nhiều nội dung sai lệch, đi ngược lại đường lối, chính sách của Đảng, đăng tải lên các trang mạng xã hội với nội dung xuyên tạc tình hình an ninh, quốc phòng làm nhiễu loạn thông tin với ý đồ làm cho cư dân mạng và quần chúng thiếu thiện cảm với quân đội ta, làm cho nhân dân có cái nhìn thiển cận đối với tình hình Quân đội ta.

Để xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, quân đội ta cách mạng, chính quy, hiện đại thì nhất định phải loại khỏi đội ngũ những phần tử thoái hóa, biến chất, phải “kỷ luật vài người để cứu muôn người” như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định. Việc phải xem xét, xử lý cán bộ, đảng viên, nhất là các đồng chí cán bộ cấp cao là điều không ai mong muốn. Vì thế, xử lý các sai phạm của một số cán bộ quân đội nó vừa thể hiện sự nghiêm minh, đề cao kỷ luật vừa củng cố niềm tin của nhân dân, của cán bộ, chiến sĩ, chứ không phải “làm suy giảm năng lực bảo vệ chủ quyền quốc gia của một dân tộc” như sự xuyên tạc của một số đối tượng thù địch với cách mạng Việt Nam.

Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng như hiện nay, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động với nhiều “mưu mẹo” thường xuyên lợi dụng sự cả tin của nhân dân để gieo rắc thông tin xấu độc, xuyên tạc tình hình, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Nhà nước, quân đội. Trước hàng loạt thông tin bịa đặt tràn lan trên mạng vừa qua, mỗi chúng ta cần hết sức tỉnh táo, biết phân tích để phân biệt thông tin nào là đúng, thông tin nào là sai cần phải loại bỏ. Đồng thời có thái độ kiên quyết đấu tranh chống lại nhưng thông tin xuyên tạc, luận điệu sai trái, không đúng với quan điểm đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước, phản bác lại bằng những thông tin chính thống, công khai, minh bạch. Đó là trách nhiệm chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên, góp phần bảo vệ thanh danh của Đảng, uy tín của quân đội.

 

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, BÓP MÉO CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

Mới đây, lợi dụng quan hệ giữa Trung Quốc và Phi-lip-pin trở nên căng thẳng liên quan đến vấn đề Biển Đông sau vụ một tàu hải cảnh Trung Quốc va chạm, phun vòi rồng vào tàu tuần duyên Phi-lip-pin và trước đó không lâu tàu hải cảnh Trung Quốc Haijing-5901 hoạt động ở khu vực bãi Tư Chính của Việt Nam, một số phương tiện truyền thông phương Tây và trang mạng xã hội của các đối tượng chống phá đã có nhiều tin, bài xuyên tạc, chỉ trích đường lối đối ngoại và chính sách ngoại giao của Việt Nam.

Việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mời tổng thống Nga Putin thăm chính thức Việt Nam, chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, chuyến thăm làm việc của Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn tới Mỹ và cuộc gặp giữa hai bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam và Trung Quốc trong khuôn khổ Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam – Trung Quốc lần thứ 8 ngày 12/4/2024 cũng bị các thế lực thù địch xuyên tạc bằng những luận điệu khiêu khích: “Việc Putin, một tội phạm chiến tranh, thăm Việt Nam có thể mang lại điều gì tốt lành cho đất nước?”, “Bản chất trục lợi của nền ngoại giao Việt Nam chưa bao giờ bộc lộ như hiện nay”, “Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay là “đu dây, nhu nhược, tự trói mình, bị lệ thuộc, bị chi phối bởi các cường quốc”, “Chính sách ngoại giao cây tre của Việt Nam là ngoại giao kiểu “cave”, không thể tin cậy được”, “Việt Nam đang mất đi sức hút đối với đầu tư nước ngoài do đường lối đối ngoại không rõ ràng”…

Từ nhiều năm nay, các thế lực cơ hội, thù địch luôn tìm mọi cách xuyên tạc đường lối đối ngoại và chính sách ngoại giao Việt Nam. Chúng thường lợi dụng những vụ việc liên quan đến vấn đề Biển Đông, diễn biến tình hình quốc tế phức tạp, đặc biệt là cuộc xung đột đang diễn ra tại Ucraina, để tung tin thất thiệt gây hiểu lầm về đường lối đối ngoại, chính sách ngoại giao của Việt Nam. Mục đích của các thế lực chống phá là tạo ra sự hoang mang, dao động, gây chia rẽ từ bên trong, phủ nhận thành quả của đường lối đối ngoại của Việt Nam, gây ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với các nước nhằm chống phá Đảng, Nhà nước. Sự chống phá đó rất nguy hiểm trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực đang có những diễn biến phức tạp, khó dự đoán, mâu thuẫn giữa Mỹ với Trung Quốc, Nga (ba nước mà Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện) ngày càng trở nên sâu sắc, có lúc bên bờ vực xung đột, đe dọa hòa bình, ổn định tại khu vực.

Tuy nhiên, bất chấp âm mưu và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững. Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, chính nhờ đường lối đối ngoại sáng suốt và ngoại giao chính sách khôn khéo xuất phát từ lợi ích quốc gia – dân tộc xử lý đúng đắn, hài hòa, cân bằng mới quan hệ với các quốc gia trong cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước lớn, không chịu bất kỳ sự áp đặt từ các yếu tố bên ngoài mà Việt Nam mới duy trì được môi trường hòa bình, sự ổn định chính trị, xã hội để đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử như ngày hôm nay.

Trong vấn đề Biển Đông, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là kiên quyết, kiên trì đấu tranh quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên các vùng biển, đảo, tuy nhiên về biện pháp tiến hành, cần phải hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt trong các tình huống cụ thể. Việt Nam luôn nỗ lực cao nhất để xử lý các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển; duy trì quan hệ hữu nghị với các nước: kiên quyết không mắc mưu lôi kéo, kích động, khiêu khích của bất cứ thế lực nào.

Từ sự cố khiến Phi-lip-pin mất kiểm soát bãi cạn Scarborough, từ thực tế những gì đang diễn ra tại Ucraina và khu vực Trung Đông hiện nay, càng thấy rõ đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ, hợp tác và phát triển và chính sách “ngoại giao cây tre”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mang đậm bản sắc dân tộc là sự lựa chọn khôn ngoan, nhìn xa, trông rộng của Việt Nam. Đó là điều được người dân trong nước và cộng đồng quốc tế công nhận rộng rãi và không một thế lực cơ hội, thù địch nào có thể xuyên tạc được./.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét