Trong công tác đấu tranh PCTN, phương thức lãnh đạo của Đảng vừa có điểm chung với tư cách là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng đề ra chủ trương, đường lối để Nhà nước thể chế thành chính sách, pháp luật để cả nước, mỗi người dân, đặc biệt là cán bộ, công chức trong bộ máy công quyền thực hiện; Đảng lãnh đạo thông qua việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục; Đảng lãnh đạo thông qua công tác kiểm tra, giám sát và Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức cơ sở đảng, sự nêu gương của đảng viên. Bên cạnh đó, tính đặc thù trong phương thức lãnh đạo của Đảng là đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong nội bộ của Đảng.
Đảng viên, tổ chức đảng vừa phải tuân thủ pháp luật, vừa chịu sự quản lý nghiêm minh ngay trong nội bộ của Đảng bằng Điều lệ, các văn bản quy định khác. Trong 50 năm qua, đặc biệt là trong 10 năm trở lại đây, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh PCTNTC đã có nhiều thay đổi, tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ, toàn diện. Coi trọng cả ban hành văn bản, quy định lẫn tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục đi đôi với kiểm tra, giám sát. Gắn kết chặt chẽ giữa xây và chống. Đề cao vai trò nêu gương của người đứng đầu, coi công tác cán bộ là then chốt của then chốt(10). Đây là phương thức lãnh đạo bảo đảm quản lý cán bộ, đảng viên nghiêm minh khi được thực hiện tốt.
- Đề ra quan điểm, chủ trương mới về quy hoạch, luân chuyển, bố trí cán bộ, như: Coi luân chuyển cán bộ là khâu đột phá để phá vỡ tình trạng trì trệ, khép kín trong công tác cán bộ; bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý không quá 2 nhiệm kỳ; bố trí cán bộ lãnh đạo chủ chốt không phải là người địa phương;... Về tuyển chọn cán bộ với chủ trương đổi mới các hình thức tuyển chọn cán bộ, như: Thi tuyển, bầu cử, bổ nhiệm, đề cử,… Bổ sung vấn đề kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; xử lý nghiêm minh, đồng bộ kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính và xử lý bằng pháp luật đối với cán bộ có vi phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ từ Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 12/6/1993 của Bộ Chính trị khóa VII về “Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình mới” mới chỉ nêu các phương châm trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhưng đến Quy định số 126-QĐ/TW, ngày 28/2/2018 của Bộ Chính trị khóa XII “Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ Đảng” đã đề ra 6 nguyên tắc chỉ đạo công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Đổi mới phương thức lãnh đạo về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng từ nhận thức lý luận của Đảng về kiểm tra, giám sát; quan điểm chỉ đạo, nguyên tắc, phương châm công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đã liên tục được phát triển, hoàn thiện, thu được kết quả tích cực. Từ Đại hội IX (2001), Đảng đã chuyển trọng tâm công tác kiểm tra sang kiểm tra đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra. Đại hội X (2006) đã bổ sung thêm công tác giám sát gắn liền công tác kiểm tra. Đảng đã đề ra chủ trương công khai kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật; tăng thẩm quyền cho cơ quan kiểm tra của Đảng; đổi mới quan điểm, chủ trương về công tác kỷ luật Đảng phù hợp với yêu cầu xây dựng Đảng và yêu cầu của công tác đấu tranh PCTNTC trong điều kiện mới.
- Gắn kết phương thức lãnh đạo trong chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh và đấu tranh PCTNTC. Khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng là lực lượng lãnh đạo xã hội thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Nhà nước tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thông qua chức năng quản lý Nhà nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội vận động thành viên, hội viên, đoàn viên thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình. Tất cả hợp thành một hệ thống, một chỉnh thể thống nhất, không thể có Đảng trong sạch, vững mạnh khi các tổ chức khác trong hệ thống chính trị không trong sạch, vững mạnh. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong hệ thống, thực chất cũng là góp vào xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng. Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phải gắn liền xây dựng Đảng với hệ thống chính trị, nói cách khác, xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức gắn với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là một chỉnh thể đi liền với nhau.
- Từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo trong kiểm soát quyền lực và PCTNTC. Tại Ðại hội XI, lần đầu tiên thuật ngữ kiểm soát quyền lực chính thức được ghi nhận trong quan điểm chỉ đạo quá trình đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”(11). Ðặc biệt, đến Ðại hội XII, vấn đề kiểm soát quyền lực đã trở thành một nội dung quan trọng được nhấn mạnh. Văn kiện Ðại hội chỉ rõ: “Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương”(12). Trong công tác PCTNTC, Đảng đã có điều chỉnh trong phương thức lãnh đạo. Công tác PCTN, lãng phí trở thành một nhiệm vụ chủ yếu, trọng tâm của công tác xây dựng Đảng. Công tác PCTN, lãng phí được coi là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn chống tham nhũng với tiêu cực được nhấn mạnh, nhất là từ Đại hội XIII. Xây dựng Đảng về đạo đức đã trở thành một nội dung, nhiệm vụ cơ bản của công tác xây dựng Đảng. Cùng với việc đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đưa việc học tập đi vào chiều sâu, “trong trước, ngoài sau, trên trước, dưới sau” gắn với chủ đề hằng năm. Việc nhận diện sâu sắc, đầy đủ hơn các biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống” là những phương thức để tăng sức đề kháng cho cán bộ, đảng viên trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường và hội nhập. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa” và nêu cao danh dự, lòng tự trọng của người cán bộ, đảng viên.
- Phương thức chống tham nhũng, tiêu cực phải đồng bộ với nhiều nội dung khác của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trong đó có xây dựng Đảng về tổ chức đã được chú trọng, với ba Nghị quyết Hội nghị Trung ương về vấn đề tổ chức: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VIII (1999): Một số vấn đề về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước; Nghị quyết số 10-NQ/TW Hội nghị Trung ương 4 khóa X (2007): Về đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy các cơ quan đảng, định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị Trung ương 6 khóa XII năm 2017: Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, nhà nước các cấp được sắp xếp, kiện toàn theo hướng tinh gọn; giảm đầu mối, giảm cấp trung gian, giảm số lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xây dựng chính quyền điện tử,... nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Đẩy mạnh thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, tiến tới tháng 7/2024 thực hiện chế độ lương mới; bảo đảm cán bộ, đảng viên có cuộc sống ổn định bằng lương cũng là hình thức ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực.
Bộ Chính trị khóa XIII ban hành nhiều văn bản về vấn đề này, trong đó có quy định về kiểm soát quyền lực, PCTNTC trong kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng và hoạt động thanh tra, kiểm toán, chỉ rõ 22 hành vi tham nhũng, tiêu cực bao gồm: Hối lộ, nhận hối lộ, môi giới hối lộ, mua chuộc người có trách nhiệm, chức vụ, quyền hạn hoặc người có liên quan nhằm giảm nhẹ, trốn tránh trách nhiệm cho đối tượng vi phạm,...; nghiêm cấm thiết lập quan hệ để hối lộ, mua chuộc, đảm bảo công khai, minh bạch trong hoạt động đấu thầu, quản lý sử dụng đất đai, đấu giá tài sản, mua sắm công tập trung.
- Công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh được đẩy mạnh; tổ chức cơ sở đảng tiếp tục được củng cố, kiện toàn, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, gắn với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Khi Đại hội IV năm 1976, Đảng có 1,5 triệu đảng viên thì đến năm 2022, đội ngũ của Đảng đã phát triển lên hơn 5,3 triệu đảng viên(13). Phần lớn đội ngũ đảng viên luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, có ý thức rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, tự phê bình và phê bình, tiên phong, gương mẫu, xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Cùng với đó, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng có nhiều đổi mới, chất lượng, hiệu quả được nâng cao, đã góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng(14).
Trong 10 năm gần đây, một số văn bản quan trọng như: Quy định số 47-QĐ/TW khóa XI về những điều đảng viên không được làm; Nghị quyết số 04-NQ/TW khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sau Đại hội XIII của Đảng, hàng loạt những văn bản mới về vấn đề này được ban hành, như: Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 96-QĐ/TW của Bộ Chính trị về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với chức danh, chức vụ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị;…
Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 264.091 tổ chức đảng và 1.124.146 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 15.920 tổ chức đảng và 47.701 đảng viên (trong đó có 23.432 cấp ủy viên). Qua kiểm tra, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng và 60 đảng viên; Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 169 đảng viên (trong đó có 53 đồng chí là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý). Trong giai đoạn 2012-2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 7.390 đảng viên do tham nhũng. Từ năm 2012 đến nay, qua công tác thanh tra, kiểm toán, đã xử lý, thu hồi được hơn 975 nghìn tỷ đồng, gần 76 nghìn ha đất; xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân; chuyển cho Cơ quan điều tra, xử lý gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu phạm tội.
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã thi hành kỷ luật 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (cao hơn gấp 4 lần so với nhiệm kỳ khóa XI và bằng gần một nửa số cán bộ cấp cao bị xử lý của nhiệm kỳ khóa XII), trong đó có 08 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 20 sĩ quan cấp tướng. Các cấp ủy đã giám sát 193.993 tổ chức đảng và 528.652 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã giám sát 124.469 tổ chức đảng và 185.731 đảng viên. Từ năm 2021 đến tháng 6/2023 có 109 trường hợp người đứng đầu bị kết luận là thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng, đã xử lý kỷ luật 80 người, chuyển hơn 1.000 vụ, 870 đối tượng sang Cơ quan điều tra. Toàn ngành Thanh tra đã triển khai gần 16.500 cuộc thanh tra chính và 355 nghìn cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, ban hành hơn 365 nghìn kết luận thanh tra. Từ đó, phát hiện vi phạm kinh tế hơn 337,3 nghìn tỷ đồng, hơn 18,4 nghìn ha đất; trong đó, kiến nghị thu hồi trên 197,5 nghìn tỷ đồng và gần 1,4 nghìn ha đất;... từ đó, kiến nghị chuyển đổi vị trí công tác 111.430 cán bộ, công chức, viên chức.
Công tác đấu tranh PCTNTC đã trở thành
một nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng Đảng; được lãnh đạo, chỉ đạo quyết
liệt, bài bản, ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều
kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu
ứng tích cực, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh
giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Tham nhũng, tiêu cực từng bước
đã được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính
trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố thêm niềm tin của cán bộ, đảng
viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước ta. Có được kết quả trên trước
hết là những chủ trương, đúng đắn của Đảng, phương thức lãnh đạo của
cấp ủy các cấp được đổi mới; sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống
chính trị và sự nêu gương của lãnh đạo các cấp, nhất là những người đứng
đầu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét