Trong thời gian qua, trước những hạn chế, yếu kém, nhất là việc Việt Nam chưa đạt được một số chỉ tiêu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) so với định hướng đặt ra để năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp, đã có không ít ý kiến trái chiều hướng đến phê phán đường lối CNH, HĐH và việc triển khai CNH, HĐH ở Việt Nam. Các thế lực thù địch, cơ hội cũng tung ra những luận điệu sai lệch, phiến diện về quá trình CNH, HĐH ở nước ta.
Tựu chung lại, dù biểu hiện khá đa dạng, nhưng có thể thấy các ý kiến sai lệch về CNH có ba mức độ: (1) Mức độ nghi ngờ, không tin tưởng vào sự thành công của chính sách CNH do những sai lầm và hậu quả mà nó mang lại; (2) Mức độ thứ hai cho rằng Việt Nam không nên thực hiện CNH, chuyển sang phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa; (3) Mức độ thứ ba, cho rằng Việt Nam không hiểu rõ CNH, thực hiện CNH không rõ mục tiêu và một chính sách CNH sai lầm, chạy theo lợi ích nhóm, đòi khôi phục sở hữu tư nhân về đất đai, không chấp nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (KTNN).
Về mặt lý luận cũng như tiễn phát triển CNH, HĐH
đều cho thấy những nhận thức trên là hoàn toàn sai lầm, bịa đặt.
Để tạo niềm tin, sự đồng thuận và tập trung nguồn
lực cho CNH, HĐH, cần thiết phải có sự phê phán, đấu tranh với những quan điểm
lệch lạc, sai trái, bảo vệ đường lối và những thành quả đã đạt được; đồng thời
tạo niềm tin, động lực cho việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện CNH, HĐH trong
chặng đường tiếp theo.
Trước hết, phải khẳng định những nghi ngờ về sự thành công của CNH, HĐH ở Việt Nam là thiếu căn cứ, không nắm rõ hoặc cố tình lờ đi những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện CNH, HĐH những thập niên vừa qua.
Không phải chúng ta tiến hành kế hoạch CNH, HĐH mơ hồ như nhận xét của một vài ý kiến. Bản thân đường lối CNH, HĐH không phải dập khuôn hay mô phỏng của một quốc gia cụ thể nào, mà được hình thành và xây dựng nên từ chính đặc thù, điều kiện Việt Nam gắn liền với sự phát triển của thành tựu khoa học và công nghệ thế giới cũng như gắn với chuyển biến trong môi trường kinh doanh khu vực và toàn cầu.
Trong tiến trình CNH, HĐH Việt Nam luôn cập nhật
và ngày càng hoàn thiện mục tiêu, nội dung và các giải pháp để thực hiện.
Thực tế cho thấy, mỗi giai đoạn phát triển của
nền kinh tế thế giới, vai trò các nguồn lực cho tăng trưởng nói chung, cho quá
trình CNH, HĐH nói riêng có sự thay đổi. Sự thay đổi này gắn liền với sự biến
đổi của chu kỳ khoa học công nghệ, của chu kỳ tái sản xuất và quá trình hội
nhập, toàn cầu hóa. Chính vì thế, CNH, HĐH ở Việt Nam từ dựa chủ yếu vào lao
động và đất đai với mục tiêu chuyển từ lao động thủ công sang lao động dựa trên
máy móc đã gắn chặt với quá trình HĐH. Trong điều kiện kinh tế tri thức, nhất
là sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nên nguồn lực, động lực
cho tăng trưởng, cho sự bứt phá của nền sản xuất chính là công nghệ và đổi mới
sáng tạo. Cũng vì vậy, Việt Nam đã xác định rõ, quá trình CNH, HĐH gắn với kinh
tế tri thức và “Khoa học và công nghệ, giáo dục đào tạo giữ vị trí then chốt,
là khâu đột phá trong chính sách công nghiệp quốc gia” (1).
Với điều kiện nước đi sau, chúng ta có thể tận
dụng cơ hội đi tắt đón đầu, phát triển rút ngắn và trong giai đoạn đẩy mạnh
CNH, HĐH hiện nay cần kết hợp hài hòa giữa phát triển công nghiệp theo cả chiều
rộng và chiều sâu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, dựa trên công nghệ hiện
đại, công nghệ số tạo bước đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng, sức
cạnh tranh của sản phẩm...
Thực tiễn CNH trên thế giới cho thấy, không phải
cứ CNH là sẽ thành công, đã có những quốc gia thành công và có cả những quốc
gia thất bại. Vấn đề là ở xác định đúng đường lối CNH, tránh lệ thuộc bên
ngoài. Nội lực là chính, tận dụng ngoại lực, biến ngoại lực thành nội lực. Đây
cũng là cách thức mà Việt Nam đã xác định và đang từng bước hiện thực hóa CNH,
HĐH. Thiết nghĩ với quan niệm phù hợp với tiến trình phát triển chung của thế
giới cũng như điều kiện cụ thể Việt Nam về mục tiêu, nội dung và bước đi của
CNH, HĐH, đặc biệt là quyết tâm chính trị, sự đồng lòng của hệ thống chính trị,
sự tham gia của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế tư nhân là động lực
quan trọng sẽ góp phần tạo nên những kết quả tích cực của quá trình CNH, HĐH
nước nhà.
Tuy quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam còn không ít hạn chế, song, phải
khách quan thấy rằng, quá trình CNH, HĐH của
Việt Nam đã có những kết quả tích cực, không thể phủ nhận, góp phần rất quan
trọng trong công cuộc xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho xã hội mới cũng như
góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Với việc thúc
đẩy phát triển kinh tế-xã hội mà cốt lõi là quá trình CNH, HĐH đã đưa nước ta
từ nước nông nghiệp lạc hậu, thiếu đói triền miên, nay trở thành nước có thu
nhập bình quân đầu người đạt 3000USD (2019), là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế
giới. Việc thực hiện quá trình CNH, HĐH rút ngắn đã góp phần nâng
cao tốc độ tăng trưởng GDP, bình quân đạt 4,45% giai đoạn 1986 – 1990,
6,99% giai đoạn 1991 – 2000, 7,26%/ giai đoạn 2001 – 2010. Giai đoạn 2011-2015
tốc độ có giảm còn 5,9% nhưng những năm sau phục hồi
rõ nét, cụ thể các năm 2017 đạt 6,81%, năm 2018 đạt 7,08% và khoảng 7,02%
năm 2019(2). Cơ cấu các ngành kinh tế đã có sự dịch
chuyển tích cực theo hướng CNH,HĐH. Một số ngành công nghiệp như: Điện, điện
tử, công nghệ thông tin và viễn thông, chế tạo thiết bị năng lượng, dệt may, da
giày, xây dựng…đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần tích cực trong
giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng năng suất và nâng cao
đời sống nhân dân. Quá trình chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành cũng đã gắn
nhiều hơn với các yêu cầu về CNH, HĐH. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP tăng từ
32,24% năm 2011 lên 33,25% vào năm 2015 và 34,39 năm 2019; tỷ trọng nông nghiệp
giảm từ 19,57% năm 2011 xuống còn 17,0% năm 2015 và còn 13,96% năm 2019; trong
khi đó tỷ trọng dịch vụ cũng tăng tương ứng 36,74%, 39,40% và 41,64%. Tỷ trọng
lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm từ 48,4% năm 2011 còn
44,3% năm 2015 và 34,7% năm 2019, tỷ trong lao động trong công nghiệp tăng
tương ứng: 21,3%, 22,9% và 29,4%, lao động trong dịch vụ cũng tăng: 30,3 %,
32,8% và 35,9 %.
Những kết quả này không chỉ khẳng định về sự chuyển biến kinh
tế-xã hội ở Việt Nam, mà còn tạo niềm tin đối với bạn bè quốc tế, vì vậy, chỉ
số tín nhiệm về năng lực cạnh tranh của Việt Nam tăng
3,5 điểm và 10 bậc theo đánh giá của WEF (Diễn đàn kinh tế thế giới), Việt Nam
trở thành quán quân trong cuộc đua cải thiện thứ hạng trong xếp hạng năng lực
cạnh tranh toàn cầu 2019, nằm trong nửa trên của bảng xếp hạng thế giới, vị trí
67 trên 141 nền kinh tế được xếp hạng.
Với những kết quả tích cực trên, cùng những chính
sách cụ thể trong phát triển công nghiệp được khẳng định trong Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22-3-2018 của Bộ Chính trị “Về định hướng xây dựng
chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”
và những định hướng về CNH, HĐH trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo tại Đại hội XIII, sẽ tạo cơ sở thúc đẩy mạnh mẽ hơn CNH,
HĐH trong thời gian tới. Và chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng đến năm 2025,
Việt Nam sẽ trở thành nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại,
vượt qua mức thu nhập trung bình thấp, đến năm 2030 là nước đang phát triển có
công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước
phát triển, thu nhập cao.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét