Quyền con người (nhân quyền )
là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử, là giá trị chung mà nhân loại phấn
đấu và hướng tới, được cộng đồng quốc tế, các quốc gia thừa nhận, tôn trọng và
bảo vệ bằng hệ thống pháp luật. Ngày nay, quyền con người được xem là thước đo
quan trọng để đánh giá sự tiến bộ và trình độ văn minh của các quốc gia, khu vực.
Tuy nhiên, đây là vấn đề hết sức nhạy cảm mà các thế lực thù địch, cơ hội chính
trị luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện mưu đồ gây mất ổn định chính trị, trật
tự, an toàn xã hội, mưu toan xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt
Nam thường xuyên bảo đảm, bảo vệ và hiện thực hóa quyền con người bằng những
quan điểm nhất quán, chính sách thiết thực, việc làm nhân văn
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra
đời, đảm nhận sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn coi trọng và tiếp cận nhân quyền từ quyền của những con người cụ thể
gắn với quyền dân tộc và khẳng định chủ nghĩa xã hội là chế độ tốt nhất bảo đảm
đầy đủ quyền con người. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng chỉ rõ: Làm tư
sản dân quyền và thổ địa cách mạng, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc,
giải phóng con người, xây dựng xã hội mới tự do, hạnh phúc, nam - nữ bình
quyền, phổ cập giáo dục. Tuy không phải là quốc gia đầu tiên đề ra các quyền cơ
bản của con người nhưng Việt Nam là một trong những nước sớm tiếp cận vấn đề
này. Nghị quyết của Quốc dân Đại hội Tân Trào (tháng 8-1945) xác định: “Ban bố
những quyền của dân cho dân: Nhân quyền; Tài quyền (quyền sở hữu); Dân quyền:
quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư
tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền”[1].
Nếu Bản Tuyên ngôn nhân quyền thế giới mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua
ngày 10-12-1948 đề cao tự do, công lý, hòa bình thì trong Bản Tuyên ngôn độc
lập của Việt Nam trước đó 3 năm, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra
bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[2].
Trong những năm kháng chiến, Đảng ta đã gắn sự nghiệp giành độc lập dân tộc với
việc mang lại quyền làm người cho nhân dân. Khi đất nước hòa bình, thống nhất,
Việt Nam luôn tích cực, chủ động tham gia hệ thống pháp luật quốc tế về quyền
con người; ký kết các công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế,
xã hội, văn hóa; Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW)... Tại Đại hội VI, Đảng khẳng định quan điểm xuyên suốt “bảo đảm quyền
dân chủ thật sự của nhân dân lao động, đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ
vi phạm quyền làm chủ của nhân dân”[3].
Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh “thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013... tôn trọng, bảo đảm,
bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân”[4].
Đến Đại hội XIII, Đảng khẳng định “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người,
quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với
nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội”[5].
Quan điểm, chính sách, việc làm nhất quán của Việt Nam về bảo đảm, bảo vệ, hiện
thực hóa quyền con người được thể hiện:
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng xây dựng, thực thi
pháp luật, chính sách về quyền con người.
Bảo đảm quyền con người vừa là
mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam,
được ghi trong Cương lĩnh, Nghị quyết, Hiến pháp và được tôn trọng, bảo vệ.
Trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quyền con người,
Đảng, Nhà nước luôn lấy “nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi
mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất
phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy
hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”[6].
Qua nhiều lần xây dựng, sửa đổi Hiến pháp nhưng luôn giữ nguyên tắc căn bản
nhất là hiến định các quyền cơ bản và bảo đảm lợi ích hợp pháp của con người,
đó là “ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền
công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn
trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Khoản 1, Điều 14, Hiến
pháp năm 2013). Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 còn bổ sung và hoàn thiện quy
định các quyền mới phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, thể hiện vai trò làm
chủ của người dân, như: quyền được giữ bí mật thông tin; quyền tham gia thảo
luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương; quyền khiếu nại, tố cáo với cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ
quan, tổ chức, cá nhân; quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và danh dự;
quyền được sở hữu về thu nhập hợp pháp, về nhà ở; quyền tự do kinh doanh trong
những ngành, nghề mà pháp luật không cấm; quyền được hưởng thụ các giá trị văn
hóa, được sống trong môi trường trong lành... Qua đó tạo hành lang pháp lý đồng
bộ để thực thi pháp luật về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.
Thứ hai, tích cực xây dựng và củng cố các thiết chế bảo đảm và
thực thi quyền con người.
Trong những năm qua, Việt Nam đã
có nhiều nỗ lực trong đổi mới, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các cơ quan
nhà nước và các thiết chế bảo đảm quyền con người. Bộ máy nhà nước đã được tổ chức, sắp xếp lại
theo hướng gọn nhẹ, chuyên môn hóa, hoạt động hiệu quả theo cơ chế phân công,
phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm hạn chế sự lạm dụng, xâm phạm quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân. Chú trọng xây dựng các cơ quan chuyên môn, chuyên
trách bảo vệ quyền con người như Ban chỉ đạo nhân quyền của Chính phủ và các
địa phương; xây dựng, hoàn thiện tổ chức của các cơ quan chuẩn bị báo cáo tình
hình thực hiện các Công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là thành viên.
Trong điều kiện hội nhập quốc tế, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
người dân, chúng ta đang nghiên cứu và xúc tiến việc thành lập Ủy ban nhân
quyền quốc gia để theo dõi, giám sát, tư vấn việc thực thi quyền con người trên
các lĩnh vực từ ban hành, thực thi pháp luật đến điều tra, truy tố, xét xử, xem
xét về tính tương thích của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về quyền
con người.
Thứ ba, tăng cường giáo dục, tuyên truyền, huy động sự tham gia
của các tổ chức chính trị - xã hội vào quá trình bảo vệ, thúc đẩy quyền con
người.
Thông qua các dự án, chương
trình hợp tác, hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ban, ngành, cơ quan
ngoại giao, tư pháp, công an, báo chí, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp đã tuyên truyền, giáo dục sâu rộng về quyền con người,
trực tiếp góp phần nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý,
thực thi pháp luật và nhân dân. Trong bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, Việt
Nam coi trọng phát huy vai trò của hệ thống chính trị, “Mặt trận Tổ quốc và các
tổ chức chính trị, xã hội, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư. Thực hiện tốt
vai trò giám sát và phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên”[7].
Các hoạt động giáo dục, tuyên truyền luôn hướng tới tăng cường sự đồng thuận
trong xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới, trợ giúp pháp lý cho các nhóm xã hội yếu
thế, dễ bị tổn thương, đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, giải quyết khiếu nại, tố
cáo, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở...
Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế về bảo vệ và thực
thi quyền con người.
Là thành viên tích cực, có trách
nhiệm của cộng đồng quốc tế, Việt Nam chủ động tham gia ký kết và phê chuẩn hầu
hết các công ước quốc tế, nghị định thư, đối thoại quốc tế liên quan đến quyền
con người. Việt Nam là thành viên Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc nhiệm
kỳ 2014 - 2016, có nhiều đóng góp tích cực vào việc thành lập và hoạt động của
Ủy ban Liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR), Ủy ban Thúc đẩy quyền của
phụ nữ và trẻ em trong ASEAN (ACWC)... Việt Nam nghiêm túc, nỗ lực thực thi
trách nhiệm, nghĩa vụ, các cam kết quốc tế trong hiện thực hóa các chuẩn mực
quốc tế về quyền con người trong hệ thống pháp luật, chính sách và hoạt động
thực tiễn; xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chính sách trong nước phù
hợp và tuân thủ các quy định của Công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam là
thành viên; sẵn sàng đối thoại và kiên quyết đấu tranh bảo vệ quyền con người.
1) Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công
Giao, Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên): Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền
con người, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2011, tr. 37 – 38
(2) Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr. 560
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4,
tr. 1
(4) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987,
tr. 117
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự
thật, Hà Nội, 2016, tr. 169
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 71
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr. 27 - 28
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr. 172
(9) Bảo Như: “Hiện thực hóa quyền con người bằng những chính sách thiết thực,
việc làm nhân văn”, báo Quân đội nhân dân điện tử https://www.qdnd.vn,
ngày 7-12-2020
(10), (11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, t. I, tr.
264, 177
[1] .
Văn kiện Đảng
Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr. 560.
[2] .
Hồ Chí Minh:
Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 1.
[3] .
Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 117
[4] .
Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2016, tr. 169
[5] .
Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,
2021, t. I, tr. 71
[6] .
Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr. 27 - 28
[7] . Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Sđd, tr. 172
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét