NHẬN DIỆN HÀNH VI LẠM QUYỀN GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Dưới góc độ quyền lực chính trị, lạm
quyền là hành vi của cán bộ công chức trong thực hiện quyền lực chính
trị theo những cách sai trái nhằm phục vụ lợi ích cho cá nhân họ hoặc nhóm lợi
ích không đúng với các quy định trong hệ thống pháp luật của quốc gia, có
thể gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp
của công dân; nếu không gây thiệt hại về mặt vật chất thì cũng đem lại tác động
xấu về mặt đạo đức, tinh thần cho xã hội. cán bộ công chức chỉ có thể lạm quyền
khi được giao cho một quyền hạn nhất định tùy thuộc vào chức vụ và vị trí làm
việc. Không chỉ cán bộ công chức có chức vụ mới có thể lạm quyền, bất cứ cán bộ
công chức nào thực thi công vụ có liên quan đến phục vụ công dân đều có thể lạm
quyền, khi lái nghĩa vụ thực hiện thành quyền ban phát để vụ lợi. Lợi ở đây
không chỉ là tiền, mà còn là quyền sai khiến người khác không phù hợp với quy
định của pháp luật cũng như danh tiếng trong xã hội. Có một số dấu hiệu nhận
diện hành vi lạm dụng quyền lực:
Người đó đã sử dụng quyền lực nhà nước
một cách không công bằng đối với những người chịu sự phán quyết của họ. Ví dụ, lạm dụng quyền lực của
người trong hội đồng thi tuyển nhằm cho “người của mình” điểm cao hơn, tạo cơ
hội cho “người của mình” được vào làm việc hoặc được bổ nhiệm chức vụ cao hơn;
chấm thầu cho “đối tác của mình” điểm cao hơn để “đối tác của mình” trúng thầu;
phê chuẩn dự án của “người thân quen” trong nhiều dự án được đệ trình; xử án
nhẹ cho người thân quen, xử án nặng cho người có tư thù; kiểm tra, thanh tra
vượt quá tần xuất và phạm vi được phép nhằm gây áp lực cho người bị kiểm tra,
thanh tra… Đằng sau những sự ưu ái và gây áp lực không cần thiết ấy là lợi ích
cá nhân, gia đình, dòng họ, lợi ích nhóm,…
Những bất thường trong hành vi thực hiện
quy trình, thủ tục công vụ không nhằm tới cải thiện chất lượng, hiệu quả công
vụ. Bản thân quá
trình thực hiện quyền lực chính trị đã được quy trình hóa có cơ sở khoa học. Vì
thế, bất kỳ một cán bộ công chức nào khi thực hiện công vụ cũng phải tuân thủ
các quy trình và thủ tục đã được quy định. Dù vậy, vẫn có một phạm vi tự quyết
nhất định cho cán bộ công chức trong việc thực hiện quy trình, thủ tục. Đây là
cơ hội cho cán bộ công chức lạm dụng quyền lực. Ví dụ, cán bộ công chức có thể
thực hiện các thủ tục chậm hơn, nhanh hơn; có thể cung cấp thông tin đầy đủ
hoặc không đầy đủ khiến người dân phải đi lại ít hay nhiều lần; có thể hỗ trợ
hoặc không hỗ trợ công dân hoàn thiện hồ sơ; có thể giải quyết linh hoạt hay
cứng nhắc các yêu cầu… Nếu cán bộ công chức xử lý công việc theo hướng cố tình
gây khó khăn cho công dân đến làm các thủ tục của dịch vụ công nhằm đòi hối lộ
hoặc trả thù cá nhân thì sự nhũng nhiễu đó chính là lạm quyền. Nếu sự chậm chạp
và khó khăn đó do cán bộ công chức yếu kém năng lực hoặc quy trình và thủ tục
lạc hậu thì không phải lạm quyền nhưng cần phải thay đổi, cải cách để bảo đảm
chất lượng công vụ. Hình thức lạm dụng này rất đa dạng, tinh vi nên nếu không
có sự kiểm tra, kiểm soát nội bộ chặt chẽ, không tích cực tiếp nhận thông tin
phản hồi từ người dân thì cán bộ công chức có thể tùy tiện xử lý công việc theo
động cơ cá nhân của họ.
Tình trạng thu lợi không chính đáng của
bản thân cán bộ công chức hoặc của nhóm lợi ích do công vụ tạo ra. Lợi ích không chính đáng có rất nhiều
hình thức thể hiện đa dạng. Ví dụ, giải quyết trước cho người quen; ưu tiên
nguồn lực công khan hiếm cho người quen; làm chậm thủ tục cho tổ chức nào đó
nhằm giúp đối thủ cạnh tranh của họ vượt lên; cung cấp thông tin không công
bằng, cung cấp thông tin nội gián…
Tư lợi trực tiếp từ dịch vụ công cung
cấp cho công dân. cán
bộ công chức lạm quyền dưới hình thức chỉ cung cấp đủ thông tin khi có quà cáp,
đòi hỏi hồ sơ quá mức cần thiết khiến người dân phải hối lộ, viện dẫn khó khăn
không đáng có trong quá trình làm thủ tục để người dân phải chạy chọt, lo lót…
Thậm chí cán bộ công chức có thể làm trung gian môi giới trong cung cấp dịch vụ
công cho những người nhận dịch vụ với mức phí thỏa thuận. Sự lạm quyền này đồng
nghĩa với tham nhũng…
Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt
tài sản của Nhà nước hoặc của công dân, doanh nghiệp, tổ chức khác. Ví dụ, lợi dụng quyền cấp sổ đỏ để
chiếm đoạt đất đai của công để sử dụng tư, chuyển đất đang sử dụng của người
này cho người khác; lạm dụng quyền tự chủ của người có chức quyền trong doanh
nghiệp nhà nước định giá tài sản doanh nghiệp một cách sai trái (quá cao hoặc
quá thấp so với giá thị trường) để hưởng chênh lệch; lạm dụng ngân sách nhà
nước để hối lộ cấp trên, chi tiếp khách nhằm thăng tiến hoặc được phê chuẩn dự
án có lời; lạm dụng quyền phê chuẩn các quyết định, chính sách có lợi cho nhóm
lợi ích nhằm chung chi sau này; lạm dụng quyền kiểm tra, giám sát để bỏ qua sai
phạm của đối tượng kiểm tra hoặc tạo điều kiện thuận lợi hơn cho đối tượng kiểm
tra sau đó nhận quà cáp trả ơn; lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần
người khác để chiếm đoạt tài sản của họ. Người bị hại do lo sợ rằng người lạm
dụng quyền lực sẽ gây thiệt hại cho mình nên buộc phải để cho người đó chiếm
đoạt tài sản; lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa dối người khác chiếm đoạt tài sản
của họ là trường hợp người phạm tội thể hiện những nội dung không đúng sự thật
với người khác nhưng vì tin vào người có chức vụ, quyền hạn mà người có tài sản
không nhận thức ra được đó là gian dối và để cho người lạm dụng quyền lực chiếm
đoạt tài sản. Trong trường hợp nếu người lạm dụng không gian dối nhưng người bị
hại vẫn tin mà giao cho tài sản và người có chức vụ, quyền hạn thì đó là lạm
dụng sự tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét