Cách đây 113
năm, vào ngày 05/6/1911 tại Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn
Tất Thành đã lên tàu L'Admiral Latouche Trévill của hãng Chargeurs Réunis -
Pháp làm phụ bếp nhằm bắt đầu thực hiện lý tưởng của mình. Người đã rời Tổ quốc
và dấn thân vào cuộc hành trình 30 năm (1911-1941) bôn ba qua 3 đại dương, 4
châu lục, 28 quốc gia để tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc. Hành trang Người
mang theo chỉ có hai bàn tay trắng, cùng một tâm hồn cao cả, một trái tim bao
la yêu thương chất chứa nỗi đau thương của dân tộc ... với khát vọng "độc
lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho dân tộc tôi và hạnh phúc cho đồng bào tôi"
chan chứa trong từng tế bào.
Trả lời nhà báo
Mỹ Anna Louise Strong vào năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhớ lại: “Nhân dân Việt
Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là
người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có
người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét
họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”. Trong bài báo “Thăm một chiến
sĩ Quốc tế Cộng sản - Nguyễn Ái Quốc” của nhà văn Liên Xô Osip Mandelstam đăng
trên tạp chí “Ngọn Lửa Nhỏ” (Ogoniok) số 39 ra ngày 23/12/1923, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhớ lại: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp:
Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cùng là người
Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn
minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”.
Trong những năm ấy
Người đã đi đến nước Pháp, nước Mỹ, nước Anh và rất nhiều thuộc địa của chủ
nghĩa thực dân ở châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ; hoà mình vào cuộc sống của
công nhân và nhân dân các dân tộc thuộc địa, vừa lao động kiếm sống, vừa ra sức
học tập, nâng cao vốn hiểu biết và tìm mọi cách để hoạt động cách mạng. Đến đâu
Người cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man,
vô nhân đạo của bọn thống trị. Người rút ra một kết luận quan trọng: “ở đâu bọn
đế quốc thực dân cũng tàn bạo độc ác, ở đâu người lao động cũng bị bóc lột dã
man” và “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người
bóc lột và giống người bị bóc lột”. Người nhận ra bản chất của chế độ tư bản chủ
nghĩa là: “Trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa....cách
mệnh tư bản là cách mệnh chưa đến nơi .... Trong cuộc đấu tranh giành độc lập
thì phải dựa vào sức mình để giải phóng mình, đừng bao giờ hy vọng trông chờ
vào sự “ban ơn” của chính quyền tư sản”.
Năm 1919, Người
gia nhập Đảng Xã hội Pháp vì nhận thấy “đây là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực
nước tôi và là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng
Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.
Tháng 6/1919,
thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Người gửi tới Hội nghị
Vécxay (Pháp) bản Yêu sách của Nhân dân An Nam, gồm 8 điểm đề nghị Chính phủ
Pháp thừa nhận các quyền tự do, bình đẳng, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt
Nam. Yêu sách là tuyên bố chính trị đầu tiên của nhân dân Việt Nam trên diễn
đàn quốc tế, đã thể hiện tấm lòng yêu nước thiết tha, khát vọng của Nguyễn Ái
Quốc và nhân dân các nước thuộc địa trong cuộc đấu tranh vì tự do, dân chủ, quyền
tự quyết của các dân tộc, khơi nguồn cảm hứng cho cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa thực dân của nhân dân tiến bộ toàn thế giới.
Trong một lần đến
theo dõi buổi nói chuyện của Người, viên mật thám Pháp Paul Arnoux phải thốt
lên dự cảm: “Con người thanh niên mảnh khảnh và đầy sức sống này có thể là người
sẽ đặt chữ thập cáo chung lên nền thống trị của chúng ta ở Đông Dương”.
Trong bài viết
“Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” (1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh nhớ lại:
“Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa
tôi theo Lênin, tin theo Quốc tế III. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa
nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần tôi hiểu được rằng
chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị
áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Tháng 12/1920,
vào năm 30 tuổi, Người đã tham gia sáng lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản.
Trả lời câu hỏi vì sao lại tán thành Quốc tế Cộng sản, Người đã nói rõ: “Tôi hiểu
rõ một điều Quốc tế III rất chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa. Quốc tế III
nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ. Tự do
cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy
là tất cả những điều tôi hiểu”.
Cuối năm 1923, Người
theo học Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông tại Liên
Xô. Vào tháng 6/1924, tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Người phê phán các ý kiến
xem thường cách mạng ở thuộc địa: “Tất cả các đồng chí đều biết rằng hiện nay nọc
độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa
hơn là ở chính quốc. Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy; các
thuộc địa cung cấp binh lính cho quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Các thuộc địa
trở thành nền tảng của lực lượng phản cách mạng. Thế mà các đồng chí khi nói về
cách mạng các đồng chí lại khinh thường thuộc địa”. Sau đó, Người được bầu làm Ủy
viên Bộ phương Đông, phụ trách Cục phương Nam của Quốc tế Cộng sản.
Năm 1925, Người
cùng với các đồng chí của mình là người Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên,
Indonesia, Miến Điện … tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức.
Cùng năm đó, Người đã sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để truyền bá
chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam.
Năm 37 tuổi, Người
hoàn thành tác phẩm “Đường Kách mệnh” làm tài liệu giảng dạy cho những hội viên
Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trong tác phẩm này, Người chỉ rõ: “Cách mạng
Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công
nông) làm gốc. Phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất.
Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Đảng cách mạng đó là Đảng
Cộng sản Việt Nam được Người sáng lập vào ngày 03/02/1930.
Ngày 28/01/1941,
lúc đã 51 tuổi, sau nhiều năm bôn ba hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Người đã
về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trong năm này, Người đã sáng lập
nên Mặt trận Việt Minh. Tiếp đó, ở tuổi 54, Người đã sáng lập nên Đội Việt Nam
tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ở tuổi
55, Người đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945
và Người cũng đã thay mặt Chính phủ cách mạng lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập
vào ngày 02/9/1945 để khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước
công nông đầu tiên tại Đông Nam Á./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét