Cựu chiến binh Lê Bá Dương được biết đến là tác giả của những câu thơ:
“Đò lên Thạch Hãn
ơi... chèo nhẹ
Đáy sông còn đó
bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi
thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi
ngàn năm”
(“Lời người bên
sông”).
Điều tài tình là
chỉ vỏn vẹn với 4 câu thơ nhưng đã khắc họa sự hy sinh, mất mát quá đỗi lớn lao
của bộ đội ta trong trận chiến bảo vệ Thành cổ Quảng Trị mà ai đọc lên cũng
rưng rưng, xót xa đến xé lòng. Tuy nhiên, “số phận” của bài thơ này cũng thật
trắc trở, gian truân như chính tác giả của nó vậy.
“Mỗi
khi tháng bảy ùa về”
Tôi tiếp nhận
thông tin của cựu chiến binh Lê Bá Dương trong một niềm xúc động khi biết,
người thanh niên đầy lý tưởng ấy đã sửa lý lịch tăng thêm tuổi để được nhập ngũ
chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ngay từ khi mới 15 tuổi, ông đã chiến đấu và lập công
tại các địa bàn mặt trận Đường 9 Quảng Trị; 19 tuổi, ông đã trên cương vị chỉ
huy cấp đại đội chiến dịch giải phóng và bảo vệ Thành cổ Quảng Trị vào mùa hè
đỏ lửa năm 1972. Trong những năm tháng này, ông đã đạt được nhiều danh hiệu,
như: “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ diệt cơ giới”, “Dũng sĩ diệt máy bay”… Những
chiến công ấy vang xa, lan xa, là nguồn cổ vũ, khích lệ, động viên cho toàn
quân, đặc biệt trên mặt trận B5 (Đường 9, Quảng Trị) ác liệt hồi ấy còn dấy lên
phong trào “Xung kích như Lê Bá Dương, chốt chặt như Lê Bá Dương”.
Đã có lần ông chia
sẻ với tôi: “Chiến trường là nơi đẹp nhất của tuổi trẻ, là nơi tôi được thể hiện
khát khao cống hiến vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà”. Và
tôi hiểu với ông, Quảng Trị đã trở thành một phần máu thịt, là quê hương thứ
hai của mình để giờ đây mỗi lần về thăm nơi này, ông không khỏi nghẹn
ngào, xót xa. Để trả ơn nghĩa đồng đội, ông đã khởi xướng lên tập quán thả hoa
xuống dòng sông Thạch Hãn để tưởng niệm vong linh đồng đội, những người đã ngã
xuống trên mảnh đất đạn bom này. Điều đặc biệt, tập quán ấy đã được người dân
hưởng ứng nối tiếp, nâng lên thành phong tục tâm linh không chỉ cho các ngày
lễ 27-7, 30-4… mà còn thường xuyên vào những đêm mồng một, ngày rằm.
Ngoài ra, ông cùng nhiều đồng đội còn sống đã và đang lặng lẽ, cặm cụi tìm kiếm
hài cốt, thông tin liệt sĩ như một cách trả nợ đồng đội - một món nợ không vay,
nhưng nguyện trả đến hết đời.
Trò chuyện cùng
ông khi ngày 27-7 đến gần, ông bảo người lính từng bao nhiêu lần nuốt nước
mắt, “đưa” di hài đồng đội vào lòng đất, ngay sau khi kết thúc chiến tranh, ông
trở về với tâm trạng day dứt khi ngoảnh lại một thời: “Ăn trong đạn, ngủ
trong bom/ Những khi cởi áo thay hòm chôn nhau” mà xót xa, một sự xót xa
thành hội chứng nhớ! nhớ đến thắt lòng những đồng đội đã nằm lại, chưa, và
không trở về. Cái day dứt ấy gần như ngày nào, đêm nào cũng vậy. Đặc biệt những
mùa tháng bảy, gần như đêm nào cũng chập chờn những gương mặt những đồng đội,
bạn bè… mỗi người một nét riêng cứ hiển hiện trước mắt ông, gọi ông, thì thầm,
thủ thỉ thành lời. Người ta gọi đó là sự ám ảnh của ký ức, nhưng với ông, đó là
những sự nhắc nhớ như cách bạn bè, đồng đội cùng tổ ba người, cùng tiểu đội
hằng ngày cùng chuyện trò, trao đổi chuyện vui buồn… Và ông cứ đem tâm trạng
ấy, nỗi niềm ấy, lại vác ba lô “trở về” hương khói cho anh em. Đó là những khi
ngồi bên những ngôi mộ, thủ thỉ chuyện trò, hoặc lên rừng chọn nơi đầu gió, nhờ
hương khói tỏa vào những trảng rừng lau lách sim mua, nhờ những bè hoa chùng
chình dọc suối sông… đâu đó bạn ông còn ẩn mình nằm lại chưa về.
Ông bảo: Hiện tại
dù đã nhắn, gửi chút tiền ít ỏi nhờ anh em đồng đội địa phương hương hoa cho
anh em, vậy mà tôi vẫn: “Mỗi khi tháng bảy ùa về/ Đêm dài thêm giữa bốn bề
khói hương/ Giấc khuya nghiêng phía sa trường/ Bữa cơm nghẹn giữa nhớ thương
bạn bè”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét