Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2024

MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ CHẾ ĐỘ ĐA NGUYÊN VÀ NHẤT NGUYÊN CHÍNH TRỊ

         Khi bàn về chế độ đa nguyên và nhất nguyên chính trị thì có học giả cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng đều được tạo thành từ nhiều nhân tố, bản chất sự vật là “đa nguyên”. Do đó, mọi hiện tượng xã hội, mọi lĩnh vực xã hội cũng là chế độ đa nguyên. Cố tình cưỡng lại tính tất yếu “thép” đó là vi phạm quy luật khách quan, là ngoan cố và nhất định phải trả giá…Vậy quan niệm trên họ đã không hiểu hay cố tình không hiểu, thực chất họ đã đánh đồng phạm trù khái niệm, quy phạm trù khái niệm của các sự vật hiện, tượng của tự nhiên và lĩnh vực xã hội. Xem xét một cách toàn diện thì đa nguyên về chính trị là khái niệm được xác định chặt chẽ hơn, nó không phải là khái niệm dùng để chỉ trong xã hội có tồn tại nhiều tổ chức, thiết chế chính trị khác nhau, mà là khái niệm dùng để chỉ một xã hội đối với toàn xã hội, có nhiều đảng chính trị đối lập, đấu tranh với nhau để chia sẻ quyền lãnh đạo chính trị. Với cách hiểu này, một chế độ đa đảng chưa hẳn đã là chế độ đa nguyên về chính trị. Ví dụ, ở Trung Quốc hiện nay, bên cạnh Đảng Cộng sản Trung Quốc còn có tám đảng dân chủ khác nhau. Tám đảng này đều thừa nhận Đảng Cộng sản Trung Quốc là lực lượng duy nhất lãnh đạo nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đều lấy mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Trung Quốc là lý tưởng cao cả nhất của mình. Đó chính là chế độ đa đảng mà nhất nguyên về chính trị. Ở Mỹ hiện nay, tuy Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa thay nhau cầm quyền, nhưng nếu xem đó là chế độ đa nguyên về chính trị thì chưa hẳn đã đúng. Bởi lẽ, hai đảng chỉ đối lập nhau trên một số phương diện không cơ bản; xét về bản chất giai cấp - xã hội, thì hai đảng là không đồng nhất, có mục tiêu căn bản giống nhau đó là: Đều củng cố và phát triển thể chế tư bản chủ nghĩa phục vụ cho bọn tài phiệt ở Mỹ.

Đối với chế độ đa nguyên chính trị

Đối với các nước tư bản chủ nghĩa hiện nay thì chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập đã trở thành phổ biến. Sự đa nguyên hay đa đảng chủ yếu diễn ra trong các cuộc đề xuất tranh cử, trong đấu tranh ở nghị trường của các đảng phái để giải quyết các vấn đề chính trị của đất nước. Tuy nhiên, chế độ chính trị đa nguyên này có những ưu điểm và hạn chế riêng biệt của nó.

Chế độ đa đảng chính trị mang lại những ưu điểm nhất định cho xã hội tư bản. Với sự cạnh tranh giữa nhiều đảng chính trị, mỗi đảng trị đều phải cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ của đông đảo lượng cử tri, từ đó cải tiến chính sách, tư tưởng, tổ chức để phù hợp với nhu cầu của xã hội và đáp ứng nhu cầu thay đổi của nền kinh tế. Các đảng cầm quyền luôn phải nỗ lực để thực hiện công việc quản lý nhà nước một cách hiệu quả để duy trì vị trí của mình, trong khi các đảng đối lập cũng phải lắng nghe nguyện vọng của nhân dân để tìm cách chiếm được cảm tình của đông đảo cử tri. Điều này tạo điều kiện cho người dân tự do phát biểu nguyện vọng và đặt ra những câu hỏi thắc mắc. Sự cạnh tranh giữa các đảng cũng đảm bảo sự kiểm soát của các thành viên đối với lãnh đạo của mình, từ đó ngăn chặn sự độc đoán và chuyên quyền.

Tuy nhiên, chế độ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập tồn tại nhiều hạn chế. Trong những quốc gia áp dụng chế độ này, các đảng chính trị thường cạnh tranh không lành mạnh để tranh giành ủng hộ của công chúng, giúp đỡ của các nhóm đối lập, tiến hành lật đổ chính quyền, xây dựng chính phủ bù nhìn “chính phủ đằng sau chính phủ”, bạo loạn, đảo chính gây ra sự chia rẽ và thúc đẩy lòng tham quyền lực. Điều này có thể tạo điều kiện cho sự phát triển các tệ nạn như tham nhũng, phân hoá giàu nghèo, bần cùng hoá người lao động và ảnh hưởng đến sự ổn định của chính trị và xã hội, trước những hào nhoáng thì vẫn tồn tại một xã hội đầy những bất công, bạo lực, đói nghèo, thất nghiệp, mất dân chủ. Bên cạnh đó, cạnh tranh giữa các đảng chính trị có thể dẫn đến sự xung đột và căng thẳng, thậm chí sử dụng những hành động phi chính trị như khủng bố, hối lộ hoặc tung tin đồn xấu để đạt mục đích chính trị của các đảng đối lập.

Trong nền dân chủ tư sản, hiện tượng đa nguyên và đa đảng bắt nguồn từ sự xuất hiện của nhiều đảng tư sản trong cuộc chiến đấu chống lại chế độ phong kiến. Dù có mục tiêu chung là lật đổ chế độ phong kiến và xây dựng chế độ tư bản chủ nghĩa, các đảng tư sản đã mắc phải mâu thuẫn nội bộ, phản ánh mâu thuẫn về lợi ích giữa các tầng lớp trong nội bộ của giai cấp tư sản. Mặc dù, nhìn từ bề ngoài chế độ đa nguyên, đa đảng có vẻ rất dân chủ về hình thức, các đảng có quyền tự do tranh luận, ứng cử và bầu cử để giành quyền cầm quyền. Tuy nhiên, thực tế chỉ những đảng lớn, có thế lực và được hậu thuẫn của các tập đoàn tư bản lớn, bọn đầu sỏ tài chính mới có khả năng thắng cử và trở thành đảng cầm quyền. Dù là đảng nào trong giai cấp tư sản giành thắng lợi, thì mục tiêu chính trị vẫn là phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã viết: “Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự về Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân - yếu tố bản chất của dân chủ. Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn và bọn đầu sỏ tài chính. Một bộ phận rất nhỏ, thập chí chỉ là 1% dân số nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới ¾ nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ra nhiều nước. Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không cần thiết”. 

Về thực chất “Đa nguyên chính trị tư sản” cũng là một nhất nguyên chính trị của giai cấp tư sản. Các đảng cầm quyền tư sản luôn cố gắng che đậy sự thật về chuyên chính của tư sản và điều chỉnh quan hệ lợi ích giữa các giai cấp và tầng lớp, qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và chính sách an sinh xã hội, để giảm bớt những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Nhìn rõ về căn nguyên thì vòng xoáy “đa khủng hoảng” trên thế giới cũng một phần do chính sự “Đa nguyên chính trị” của các đảng tư sản cầm quyền gây ra.

Chế độ nhất nguyên chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, chế độ nhất nguyên chính trị thường được áp dụng, trong đó có một đảng cầm quyền duy nhất là Đảng Cộng sản. Chế độ nhất nguyên chính trị trong các nước xã hội chủ nghĩa cũng có những ưu điểm và khuyết điểm riêng của nó.

Về ưu điểm, một trong những ưu điểm của chế độ nhất nguyên chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa là sự thống nhất trong đường lối chủ trương của Đảng cầm quyền, tạo nên sự thống nhất trong việc đề ra và thực hiện các quyết sách chính trị. Các tổ chức chính trị xã hội triển khai thực hiện các chính sách này để phục vụ xã hội, phù hợp với mục tiêu chính trị của Đảng cầm quyền. Không có sự tranh giành, đấu đá giữa các đảng chính trị nên chế độ này dễ dàng đảm bảo ổn định chính trị xã hội. Do Đảng cầm quyền lãnh đạo chính trị và nhà nước thể chế hóa, nên tất cả các nguồn lực và sức mạnh xã hội được huy động và phục vụ một cách hiệu quả hơn.

Về hạn chế, các quốc gia theo chế độ nhất nguyên chính trị dễ bị quan liêu, xa rời quần chúng sau khi Đảng cầm quyền giành được chính quyền. Đây là căn bệnh phổ biến mà Đảng Cộng sản các nước đã phải đương đầu. Điều này đã được chứng kiến ở nhiều quốc gia xã hội chủ nghĩa trước đây. Nếu chế độ này không thực hiện đầy đủ dân chủ, thì sẽ có nguy cơ mất cân bằng và không phát triển. Một trong những nguyên nhân là do chủ quan, duy ý chí và quan liêu trong việc hoạch định chủ trương, đường lối...Điều này dẫn đến việc đảng có thể áp đặt ý chí của mình lên nhà nước và xã hội, và bổ nhiệm các cán bộ không đủ tiêu chuẩn vào các cơ quan nhà nước và đoàn thể. Đảng có thể tự đặt mình lên trên nhà nước và pháp luật, bao biện cho những quyết định của mình, làm thay công việc nhà nước mà không chịu trách nhiệm pháp lý. Vì vậy, việc kiểm soát và giám sát các cơ quan quyền lực cũng như các cán bộ trong hệ thống chính trị trở nên khó khăn đối với quần chúng nhân dân.

Ở chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản có trách nhiệm hoàn toàn đối với vận mệnh của quốc gia và dân tộc. Đảng là lực lượng duy nhất lãnh đạo trong việc đánh bại các giai cấp bóc lột, chiếm quyền lực và điều hành hệ thống chính trị - xã hội. Lênin đã từng khẳng định rằng: “Chủ nghĩa Mác giáo dục Đảng công nhân, là giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô sản, đội tiên phong này đủ sức nắm chính quyền và dẫn dắt toàn dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, đủ sức lãnh đạo và tổ chức một chế độ mới, đủ sức làm thầy, làm người dẫn đường, làm lãnh tụ của tất cả những người lao động”[1]. Bên cạnh đó, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản càng trở nên quan trọng hơn trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là việc phải tập trung lãnh đạo và thống nhất các quá trình phát triển xã hội, đối phó với sự chống phá của các thế lực phản động và chủ nghĩa đế quốc. Chỉ có sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản mới có thể tập hợp được sức mạnh của toàn dân và ổn định chính trị, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Ngược lại, nếu thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập thì chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng chống phá cách mạng.

Thực tiễn trải qua các cuộc cách mạng vô sản đã chỉ ra rằng: Thứ nhất, quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản là do bản chất của giai cấp công nhân quyết định. Giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất của thời đại và lợi ích của nó tương đồng với lợi ích của các tầng lớp lao động. Vì vậy, Đảng Cộng sản được xem là của tất cả các tầng lớp nhân dân lao động, bao gồm cả nông dân. Không cần thiết phải thành lập thêm bất kỳ Đảng nào khác. Thứ hai, Một đảng cầm quyền chỉ có thể duy trì sự nhất nguyên chính trị nếu phù hợp với thực tiễn cách mạng vô sản. Những tổ chức được gọi là “đối trọng” với Đảng Cộng sản thực chất đều là những tổ chức chống phá sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân. Cho nên lịch sử đã đặt lên vai trọng trách về vận mệnh của quốc gia dân tộc cho Đảng Cộng sản phải gánh lấy. Thứ ba, sự nhất nguyên chính trị của một Đảng Cộng sản vẫn là một bài học đắt giá cho nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa đã thất bại khi áp dụng chính sách đa nguyên, đa đảng theo kiểu tư bản ở Liên Xô và Đông Âu, đó là bài học xương máu, đánh dấu bằng sự sụp đổ vào mùa đông năm 1991. Thực tế đã minh chứng rằng các nước thực hiện cải cách thành công và đi đúng hướng phát triển xã hội chỉ khi giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo duy nhất, đúng đắn của Đảng Cộng sản đối với hệ thống chính trị và xã hội. Vì vậy, sự nhất nguyên chính trị với sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản là quy luật bất biến của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Việc duy trì chế độ nhất nguyên chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan, cho dù ở các nước này đang thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần. Có quan điểm cho rằng khi đã chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, tất yếu thượng tầng kiến trúc sẽ thay đổi thành thể chế chính trị đa nguyên, chế độ đa đảng, điều này là không đúng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Theo lý thuyết của C.Mác về hình thái kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng gồm các quan hệ kinh tế phản ánh lên thượng tầng kiến trúc, bao gồm các yếu tố như nhà nước, pháp luật, chính trị, văn học và nghệ thuật, là nền tảng cho việc phát triển kinh tế xã hội. Thượng tầng kiến trúc lại được quyết định bởi cơ sở hạ tầng, tạo nên một quan hệ tương tác động lực giữa hai yếu tố này trong hình thái kinh tế xã hội. Song đó không phải là sự phản ánh máy móc, có bao nhiêu thành phần kinh tế tư nhân giữ vai trò chi phối thì thượng tầng kiến trúc phản ánh các quan hệ ấy bằng việc giai cấp tư sản giữ địa vị thống trị. Còn dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, mặc dù tồn tại nhiều thành phần kinh tế, do kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tất nhiên cơ sở hạ tầng ấy quyết định, phản ánh vào thượng tầng kiến trúc: Đảng Cộng sản giữ vai trò lãnh đạo. Việc này không chỉ phù hợp với thực tế của đất nước, mà còn chính xác thể hiện mối quan hệ phổ biến giữa chính trị và kinh tế, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng.

 



[1] V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2005, tập 33. tr 33

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét