Thứ Hai, 4 tháng 3, 2019

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ CUỘC CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC CỦA TỔ QUỐC




Ngày 17/2/1979, cách đây 40 năm cả dân tộc Việt Nam đã nghiêng mình tưởng nhớ đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc kéo dài 10 năm (1979-1989), chống lại cuộc xâm lược tàn bạo và phi nghĩa của Trung Quốc. Có thể nói đây là một sự kiện lịch sử bi tráng trong quan hệ giữa hai nước Việt Nam-Trung Quốc. Thời gian vừa qua có nhiều ý kiến trái chiều và nhận thức chưa thật đúng về cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc. Việc chúng ta cần phải nhắc đến nó, ghi nhận nó một cách thực sự khách quan, lấy chuẩn mực pháp lý quốc tế làm thước đo để đánh giá, là việc làm hết sức quan trọng và cũng không thể bóp méo sự thật gây hiểu lầm dư luận.
Thật vậy, chỉ khi nào chúng ta đánh giá đúng và sòng phẳng về lịch sử, chúng ta mới không mắc bẫy đối phương, củng cố vững chắc đoàn kết dân tộc và tận dụng được tối đa sự ủng hộ, giúp đỡ từ bè bạn quốc tế và nhân loại tiến bộ. Ngày 17/2/1979, Đặng Tiểu Bình đã phát động cuộc chiến tranh phi nghĩa xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam dưới chiêu bài “phản công tự vệ”, “dạy cho Việt Nam một bài học”. Hướng tiến công chủ yếu là Lạng Sơn và Cao Bằng; hướng quan trọng là Lào Cai (Hoàng Liên Sơn); hướng phối hợp là Phong Thổ (Lai Châu); hướng nghi binh, thu hút lực lượng là Quảng Ninh và Hà Tuyên lực lượng khoảng hơn 600 nghìn quân. Trước cuộc tiến công quy mô lớn của Trung Quốc, ngày 17/2/1979, Chính phủ ta đã tuyên bố nêu rõ: Nhà cầm quyền Trung Quốc đã đi ngược lại lợi ích của nhân dân, phá hoại nghiêm trọng tình hữu nghị tuyền thống giữa nhân dân hai nước và khằng định: “Quân và dân Việt Nam không có con đường nào khác phải dùng quyền tự vệ chính đáng của mình để đánh trả”. Với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, quân và dân ta nhất là các tỉnh Việt Bắc, Tây Bắc một lần nữa phát huy cao độ truyền thống cách mạng, sát cánh cùng các lực lượng vũ trang, kiên quyết chiến đấu, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
Trên mặt trận Lạng Sơn: Trung Quốc sử dụng các Quân đoàn 43, 55 và 54 (dự bị), có 160 xe tăng, xe bọc thép, 350 pháo cơ giới, chia làm nhiều mũi đánh vào Bản Chắt (Đình Lập), Chi Ma, Ba Sơn (Lộc Bình), Tân Thanh, Tân Yên (Văn Lãng và khu vực thị trấn Đồng Đăng.
Trên mặt trận Cao Bằng: phía Trung Quốc huy động Quân đoàn 41, 42 và Quân đoàn 50 (thiếu) làm lực lượng dự bị, hai trung đoàn địa phương tỉnh Quảng Tây, 4 trung đoàn độc lập, có 225 xe tăng, xe bọc thép, hơn 300 pháo cơ giới và nhiều đơn vị sơn cước, hàng chục tiểu đoàn các xã giáp biên giới và hàng nghìn dân binh chia làm hai cánh: một cánh do Quân đoàn 41 đảm nhiệm tiến công vào Thông Nông, Hà Quảng và một cánh do Quân đoàn 42 đánh vào thị xã Cao Bằng và tiêu diệt Sư đoàn 346 của ta.
Trên mặt trận Hoàng Liên Sơn (nay là tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái): Trung Quốc sử dụng Quân đoàn 13, 14, một sư đoàn Quân đoàn 50, cùng một số trung đoàn địa phương, có 100 xe tăng, xe bọc thép và 450 khẩu pháo hỗ trợ, chia làm hai cánh: Một cánh do Quân đoàn 13 đảm nhiệm tiến công theo hữu ngạn sông Hồng đánh vào thị xã Lào Cai và thị xã Cam Đường; một cánh do Quân đoàn 14 theo tả ngạn sông Hồng đánh vào Mường Khương, Bản Phiệt, Phố Lu.
Trên mặt trận Lai Châu: Phía Trung Quốc huy động Quân đoàn 11 đánh vào Pa Nậm Cúm, Nậm Cáy, Nậm Xe; mục tiêu chính là thị trấn Phong Thổ.
Trên mặt trận Hà Tuyên (nay là Hà Giang và Tuyên Quang): Trung Quốc huy động 2 sư đoàn và một số trung đoàn địa phương chi làm ba mũi tiến công vào các khu vực Thanh Thủy, Đồng Văn và Méo Vạc.
Trên mặt trận Quảng Ninh: Quân Trung Quốc huy động 2 sư đoàn bộ binh, chia làm hai mũi: Một mũi tiến công vào Thán Phán (Móng Cái) và một mũi tiến công vào Cao Ba Lanh (Bình Liêu).
Trải qua hơn 10 ngày chiến đấu, lực lượng vũ trang Quân khu 1, Quân khu 2 và nhân dân 6 tỉnh biên giới phía Bắc đã đánh trả quyết liệt các đợt tiến công của quân Trung Quốc. Ta đã bẻ gẫy nhiều mũi tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm chậm ý đồ đánh nhanh, chiếm nhanh, buộc quân Trung Quốc phải đưa lực lượng dự bị chiến lược vào hỗ trợ, cứu nguy cho lực lượng bị bao vây, cô lập ở Cao Bằng, Lạng Sơn và Lào Cai. Tuy nhiên, với ưu thế về vũ khí trang bị và thế quân đông, quân Trung Quốc đã tiến sâu vào nội địa ta trên một số hướng như Cao Bằng (khoảng 40-50km), Lạng Sơn, Lào Cai (khoảng 10-15km) và lần lượt chiếm các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, Cam Đường, Lạng Sơn, thị trấn Phong Thổ và một số địa bàn trên vùng biên giới phía Bắc sau khi ta chủ động chuyển lực lượng về tuyến sau.
Do không đạt được mục đích đề ra, bị quân và dân các tỉnh biên giới giáng trả mạnh mẽ, bị tổn thất nặng nề, đồng thời bị dư luận tiến bộ trên thế giới và trong nước lên án mạnh mẽ, ngày 05/3/1979, Trung Quốc buộc phải tuyên bố rút quân trên tất cả các hướng. Với truyền thống nhân nghĩa, bao dung và mong muốn củng cố hòa bình, hữu nghị giữa nhân dân hai nước, Trung ương Đảng và Chính phủ ta chỉ thị cho  lực lượng vũ trang và nhân dân trên vùng biên giới phía Bắc ngừng mọi hoạt động tiến công quân sự để Trung Quốc rút toàn bộ lực lượng và phương tiện chiến tranh về nước. Từ ngày 06/3/1979, phí Trung Quốc vừa rút quân, vừa đánh phá, gây nhiều thiệt hại về người và của đối với đồng bào ta ở một số vùng giáp biên giới. Đến ngày 18/3/1979, về cơ bản Trung Quốc đã rút quân khỏi nước ta. Mặc dù tuyên bố rút quân, nhưng trên thực tế, từ sau ngày 18/3/1979, phía Trung Quốc vẫn chiếm đóng trái phép một số điểm cao thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tuyên (nay là Hà Giang), có nơi sâu từ 200 đến 500 mét, thường xuyên gây xung đột vũ trang, làm cho tình hình luôn căng thẳng và kéo dài đến năm 1989.
Chúng ta với tư cách một quốc gia độc lập có chủ quyền lãnh thổ, trước hành động xâm lược của Trung Quốc, chúng ta có quyền cầm vũ khí để tự vệ, bảo vệ lãnh thổ của mình. Đấy là cuộc chiến tranh chống xâm lược, không thể nhập nhèm như cách Trung Quốc nói là “hành động phản công tự vệ”, càng không thể chấp nhận khi họ nói phải “dạy Việt Nam một bài học”. Cho đến bây giờ, dư luận đang rất đồng tình với những việc chúng ta đã làm.
Để bảo vệ hòa bình thì không cách nào khác là phải giáo dục cho các thế hệ nhận thức đúng đắn về lịch sử, trong đó có 3 cuộc chiến năm 1974, 1979-1989 và 1988. Chúng ta gác lại quá khứ, hướng tới tương lai nhưng không được phép lãng quên lịch sử. Chúng ta hãy đánh giá phải - trái, đúng - sai, bạn - thù, phải tuân thủ luật pháp quốc tế trên cơ sở những ứng xử nhân văn của con người với con người trong cộng đồng, là việc làm có ý nghĩa, sẽ có tác dụng tích cực nhằm củng cố hơn nữa mối quan hệ của các nước, đặc biệt gây dựng được lòng tin đã từng mất đi bởi cuộc xung đột vô lý, phi nghĩa đó. Còn nếu ai đó muốn cố tình lái lệch đi bản chất của nó để che đậy những âm mưu, toan tính không lành mạnh, đặc biệt những tham vọng chính trị hoặc cố tình hiểu sai, nó sẽ chỉ làm cho lòng dân yêu nước, cũng như dư luận tiến bộ thế giới càng mất đi niềm tin. Chính điều đó tạo nên sự mâu thuẫn, sự hiểu lầm lẫn nhau./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét