Chủ Nhật, 21 tháng 11, 2021

Giai cấp và quan hệ giai cấp ở Việt Nam

 


So với phương Tây, sự ra đời giai cấp và quan hệ giai cấp ở Việt Nam có những nét đặc thù nhất định:

- Giai cấp hình thành muộn, không giống như quy luật ra đời giai cấp ở phương Tây.

Có thể thấy rằng, xã hội Việt Nam dường như không trải qua thời kỳ Công xã nguyên thủy và Chiếm hữu nô lệ, mà bắt đầu từ chế độ phong kiến.

Giai cấp ở Việt Nam xuất hiện gắn liền với sự đô hộ của các đế chế phương Bắc. Theo đó, trong xã hội xuất hiện giai cấp phong kiến, hào trưởng, nông dân tá điền, nông nô.

Sau khi giành được độc lập vào thế kỷ thứ X cho đến thế kỷ XVIII, cơ cấu xã hội - giai cấp hình thành đa dạng gắn với sự thay đổi của phương thức sản xuất, của đời sống kinh tế - xã hội và sự củng cố của nhà nước phong kiến tập quyền. Xã hội Việt Nam thời kỳ này có vua, quan, địa chủ tạo thành bộ máy thống trị. Những người bị trị gồm nông dân, nông nô, nô tì và một số tầng lớp khác như thợ thủ công, người làm nghề buôn bán nhỏ.

- Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Xã hội Việt Nam có sự phân hóa hết sức sâu sắc

+ Giai cấp công nhân ra đời trước giai cấp giai cấp tư sản, tiểu tư sản.

Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, áp đặt ách thống trị chúng bắt tay ngay vào khai thác thuộc địa. Chính vì thế, chúng cần một lượng lớn nhân công lao động, do đó giai cấp công nhân đã ra đời. Ngay sau các giai tầng khác cũng lần lượt ra đời, đó là giai cấp tư sản, tiểu tư sản.

+ Giai cấp địa chủ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm trong lịch sử từ địa vị là giai cấp thống trị nay trở thành tay sai cho thực dân pháp, câu kết với thực dân Pháp bóc lột nhân dân ta.

Giai cấp địa chủ được chia thành: đại địa chủ (có nhiều ruộng đất, câu kết với thực dân Pháp bóc lột nhân dân ta); trung địa chủ; tiểu địa chủ. Những địa chủ phong kiến phản cách mạng được thực dân Pháp dung dưỡng, vì vậy đây chính là đói tượng của cách mạng. Những địa chủ phong kiến bị đế quốc chèn ép có tinh thần dân tộc và tinh thần cách mạng.

+ Nông dân chiếm 90% dân số, bao gồm: phú nông, trung nông, bần nông, cố nông. Giai cấp nông dân bị địa chủ phong kiến và đế quốc bóc lột nặng nề; đế quốc bóc lột nhân dân bằng sưu cao thuế nặng; địa chủ bóc lột nhân dân bằng cướp đoạt ruộng đất, địa tô, cướp đoạt ruộng đất dẫn đến giai cấp nông dân bị đẩy vào đường cùng. Do vậy, giai cấp nông dân mâu thuẫn với cả đế quốc và địa chủ phong kiến.

+ Giai cấp công nhân chịu ba tầng áp bức bóc lột (đế quốc, tư bản trong nước, địa chủ phong kiến). Do vậy, giai cấp công nhân sớm trở thành một lực lượng chính trị độc lập, có đủ điều kiện và năng lực để lãnh đạo cách mạng.

Trong cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, tư sản ở Việt Nam bao gồm tư sản mại bản và tư sản dân tộc. Tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với thực dân Pháp, trở thành đối tượng của cách mạng. Tư sản dân tộc là những nhà tư sản vừa và nhỏ có xu hướng kinh doanh độc lập, có tinh thần dân tộc chống thực dân Pháp, chống phong kiến.

Ngoài những giai cấp trên, ở Việt Nam thời kỳ này còn gồm nhiều tầng lớp khác như trí thức, học sinh, sinh viên, công chức, tiểu thương, tiều chủ, dân nghèo thành thị. Họ sống chủ yếu ở thành thị và khu công nghiệp, bị thực dân Pháp chèn ép nên dễ bị rơi vào tình trạng thất nghiệp.

Từ sự hình thành và biến đổi của giai cấp ở Việt Nam có thể thấy, sự xuất hiện giai cấp không giống như sự xuất hiện giai cấp ở phương Tây. Mặt khác, sự tồn tại đan xen và khó phân tách của các phương thức sản xuất ở Việt Nam (phương thức sản xuất châu Á, công xã nông thôn, phong kiến), tạo nên một kết cấu xã hội - giai cấp đặc thù. Có thời kỳ tồn tại cả địa chủ phong kiến, quý tộc, hào trưởng, nông dân tá điền, công nhân, tư sản, tiểu tư sản...

- Trong điều kiện hiện nay, cơ cấu xã hội - giai cấp cũng có nhiều biến đổi mạnh mẽ do sự thay đổi về kinh tế thông qua quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tập trung là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, sự tác động của cơ chế thị trường, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, phát triển kinh tế tư nhân... (công nhân, nông dân, trí thức...)

Ngoài những giai tầng xã hội nêu trên, hiện nay Việt Nam còn có nhiều tầng lớp xã hội mới như tầng lớp doanh nhân, tầng lớp viên chức, học sinh, sinh viên, tầng lớp tư sản.. Các tầng lớp này đang trong quá trình hình thành và biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội. Quá trình biến đổi này sẽ diễn ra liên tục, đa dạng, phức tạp và mạnh mẽ. Tuy nhiên, khi nền kinh tế đã ổn định, lực lượng sản xuất đã phát triển và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đạt được những kết quả cơ bản thì quá trình này sẽ dần dần ổn định.

  Quan hệ giữa các giai cấp ở Việt Nam cũng mang những nét đặc thù nhất định biểu hiện:

- Cơ cấu giai cấp không thuần nhất

- Thiếu tính ổn định, thường xuyên có sự biến đổi, chuyển hóa

- Không có sự phân hóa sâu sắc

Lý do:

- Ở Việt Nam, sự tồn tại đan xen của các phương thức sản xuất (phương thức sản xuất châu Á, công xã nông thôn, phong kiến), của điều kiện kinh tế - xã hội

- Các yếu tố chung về văn hóa, lịch sử, truyền thống qua hàng ngàn năm lịch sử đều củng cố sự gắn bó chặt chẽ giữa các giai cấp.

- Tư tưởng cộng đồng, đoàn kết, sự hòa đồng, hòa giải thường mạnh hơn sự kỳ thị, phân biệt giữa các giai cấp.

Trong lịch sử, mặc dù xã hội phong kiến có tồn tại sự thống trị và bị trị, áp bức, bóc lột, nhưng cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam không giống như ở phương Tây. Khi nghiên cứu về điều này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thấy ở Việt Nam: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây. Về phía người lao động, đó là sự không giác ngộ, sự nhẫn nhục và kết quả là thiếu tổ chức, về phía bọn chủ, không có máy móc, ruộng đồng thuộc sở hữu của đám đông, những địa chủ hạng trung và hạng nhỏ và những kẻ mà ở đó được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ; không có triệu phú người An Nam. Những tên thật giàu có ở đó thì ở đây chỉ là những kẻ thu tô khá giả thôi. Cho nên, nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có tài sản gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đòi sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt. Người thì cam chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của minh. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu”1. Do vậy, sự áp bức, bóc lột giữa các giai cấp không sâu sắc và đấu tranh giai cấp không điển hình như ở phương Tây.

Trên cơ sở của những yếu tố truyền thống ấy, khi đât nước giành được độc lập, xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, các giai cấp tầng lớp tiếp tục thể hiện mối quan hệ chặt chẽ, liên minh chiến lược trên cơ sở thống nhất lợi ích cơ bản với nhau.

Trong điều kiện hiện nay, quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội cũng có nhiều biểu hiện mới.

Một là, sự xích lại gần nhau từng bước giữa các giai cấp, tầng lớp trong việc xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Với chủ trương phát triển nhiều thành phần kinh tế, đa dạng hóa chế độ sở hữu, liên kết, liên doanh trong sản xuất kinh doanh tạo điều kiện cho các thành phần xã hội tồn tại bên nhau. Việc giải quyết hài hòa mối quan hệ phân phối nguồn lực xã hội, tư liệu tiêu dùng và phân công lao động đang tạo cơ sở cho sự xích lại gần nhau đan xen lẫn nhau để cùng phát triển giữa các giai cấp và tầng lớp.

Hai là, sự xích lại gần nhau về tính chất lao động giữa các giai cấp, tầng lớp. Điều này được thể hiện thông qua việc phát triển khoa học và công nghệ, áp dụng những thành tựu mới vào quá trình phát triển lực lượng sản xuất, rút ngắn khoảng cách của sự khác biệt giữa các lực lượng xã hội trong quá trình lao động. Hiện nay, xu hướng trí thức hóa công nhân, công nhân hóa trí thức đang cho thấy sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa các giai tầng lao động xã hội.

Ba là, sự xích lại gần nhau về tiến bộ trong đời sống tinh thần giữa các giai cấp, tầng lớp. Xu hướng này thể hiện trực tiếp thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Từ đó tác động đến sự xích lại gần nhau và xóa bỏ dần mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay.

Những xu hướng trên đây không tách rời nhau và được thê hiện trên các lĩnh vực chính trị, phát triển lực lượng sàn xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của xã hội và ngày càng trở thành xu hướng chủ yếu chi phối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét