Thứ Năm, 5 tháng 12, 2024

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM, TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” NHẬN DIỆN VÀ PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”.Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy quần chúng nhân dân có vai trò và sức mạnh to lớn, góp phần làm nên chiến thắng oanh liệt của dân tộc trước mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Bởi vậy, xây dựng “thế trận lòng dân” luôn được quan tâm cả trong lịch sử và hiện tại. Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc là là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị, trong đó, Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt. Nhận diện và đấu tranh chống các quan điểm sai trái thù địch trên Internet, mạng xã hội trong quân đội hiện nayđược xác định là một phương thức đấu tranh tư tưởng, đấu tranh ý thức hệ trong điều kiện mới không kém phần gay go quyết liệt.

Tháng 12/1944, Lãnh tụ Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Chỉ thị nhấn mạnh “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền... đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc...”. Chính vì vậy, vào ngày 22/12/1944, tại khu rừng nằm giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình (nay là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã chính thức thành lập với 3 tiểu đội gồm 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao - Bắc - Lạng. Đây là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, tinh thần kiên quyết, dũng cảm, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc.

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là tên của đội quân chủ lực của Mặt trận Việt Minh từ tháng 12-1944 đến tháng 5-1945. Đây là tổ chức quân sự được công nhận là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, 22-12-1944, sau này đã được chọn làm ngày thành lập của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trước đòi hỏi của tình hình đấu tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy đến lúc phải thành lập một lực lượng vũ trang chủ lực, nòng cốt lấy từ các cán bộ, đội viên du kích năng nổ. Bác và Ban thường vụ Trung ương Đảng chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công việc thành lập lực lượng vũ trang tập trung. Trong “Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” của Bác Hồ, đã nói rõ ý nghĩa lịch sử, nhiệm vụ của đội quân chủ lực đầu tiên: “Tên: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực.

Thực tiễn cho thấy sự ra đời, hoạt động và ảnh hưởng của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không chỉ đáp ứng kịp thời đòi hỏi của cách mạng Việt Nam trong chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, mà còn làm phong phú thêm bài học kinh nghiệm về chỉ đạo hình thức đấu tranh cách mạng của Đảng, cũng như trong tổ chức, xây dựng Quân đội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời là một sự kiện chính trị - lịch sử rất đặc thù - “quân đội có trước chính quyền”. Điều đó thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã khẳng định con đường giải phóng của dân tộc Việt Nam chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản, muốn cách mạng đi đến thắng lợi, phải sử dụng bạo lực cách mạng chống bạo lực phản cách mạng; bởi “Chế độ thực dân, tự bản thân nó, đã là một hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi”. Chính vì vậy, ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Đảng ta đã khẳng định sự cần thiết phải lập ra quân đội công nông.

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân không chỉ là công cụ bạo lực, làm nhiệm vụ chiến đấu, mà còn đảm đương chức năng tuyên truyền, vận động, giác ngộ quần chúng, xây dựng lực lượng cách mạng. Đó là đội quân chiến đấu, đội quân công tác của Đảng, của cách mạng và nhân dân. Bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân xuất phát từ tư tưởng Hồ Chí Minh: sự phát triển của cách mạng Việt Nam phải đi từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, khởi nghĩa với chiến tranh cách mạng

Sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là tất yếu lịch sử, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt trên con đường đấu tranh cách mạng của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời và hoạt động của Đội là sự vận dụng sáng tạo nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong đó, nguyên tắc nhất quán về xây dựng đội quân chủ lực đầu tiên là phải “người trước, súng sau”, “chính trị trọng hơn quân sự” và mọi hoạt động quân sự phải lấy “chính trị làm gốc”. Chính trị đó chính là phương hướng, bản chất giai cấp công nhân được thể hiện trong đường lối chính trị của Đảng trong xây dựng quân đội. Việc xây dựng đội quân chủ lực tất yếu phải xuất phát từ đường lối chính trị của Đảng và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Chính vì tuân thủ nguyên tắc ấy mà Quân đội nhân dân Việt Nam - tiền thân là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã phát triển nhanh chóng về mọi mặt và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; “càng đánh càng mạnh”, là lực lượng nòng cốt trong chiến tranh nhân dân, đã đánh thắng hai đế quốc lớn, giải phóng dân tộc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Những bài học về tổ chức, xây dựng và hoạt động của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đến nay còn nguyên giá trị; cần được tiếp tục kế thừa, phát triển trong xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Theo đó, phải thường xuyên coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, đảm bảo cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” gắn liền với hình ảnh cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” đồng thời còn là sự kết tinh những giá trị văn hóa độc đáo thời đại Hồ Chí Minh, thể hiện tình cảm của cả dân tộc dành cho những người lính Cụ Hồ, những thành viên trong đội quân cách mạng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”.

Bước vào thời kỳ hoà bình xây dựng đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hiện điều chỉnh biên chế, tổ chức. Các thế hệ sĩ quan, chiến sĩ quân đội vẫn kế tiếp nhau phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ”, luôn làm đúng chức năng của một đội quân chiến đấu, một đội quân công tác, một đội quân sản xuất, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Từ khi ra đời đến nay, trải qua hơn 80 năm chiến đấu và trưởng thành, Quân đội nhân dân Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau, nhưng tựu trung lại, các thế hệ cán bộ Quân đội ta đều là những người lính “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân quên mình, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh”. Tất cả đã hội tụ, kết tinh thành biểu tượng cao đẹp - “Bộ đội Cụ Hồ”. Biểu tượng đó đã đi vào lịch sử một cách tự nhiên và trở thành một trong những giá trị văn hóa tiêu biểu của thời đại mới.“Bộ đội Cụ Hồ” -  một hình ảnh cao đẹp trong lòng nhân dân Việt Nam về một hình mẫu con người Việt Nam trong thời đại mới gắn với giá trị văn hóa độc đáo trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Đó cũng là một giá trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đạt được trong việc xây dựng quân đội cách mạng, chính quy và xây dựng nhân tố con người trong lực lượng vũ trang. Theo đó, danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” từ lâu đã trở thành biểu tượng sáng ngời cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tinh thần quyết chiến, quyết thắng, trở thành những thuộc tính đặc trưng của quân đội nhân dân trong mọi hoàn cảnh, trước mọi nhiệm vụ. Do vậy, danh hiệu cao quý đó không chỉ là tên gọi trìu mến mà nhân dân dành cho quân đội mà còn là một vinh dự lớn đối với các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, bởi nó đã trở thành một biểu tượng trong lòng nhân dân.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, bên cạnh những thuận lợi như: xu hướng hòa bình và hợp tác giữ vai trò chủ đạo đã tạo điều kiện cho việc mở rộng quan hệ, hợp tác trong phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân; tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến trong phát triển đất nước; nâng cao trình độ nguồn nhân lực… cũng đặt ra không ít thách thức đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đáng chú ý là tình hình thế giới, khu vực, nhất là Biển Đông diễn biến phức tạp; các vấn đề an ninh phi truyền thống như: xung đột sắc tộc, tôn giáo, tội phạm xuyên quốc, thiên tai, dịch bệnh; sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch đối với Việt Nam bằng thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; các nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn tồn tại, có mặt gay gắt hơn… Bởi vậy, để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, vấn đề quan trọng là phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của đất nước, điều này đồng nghĩa với việc phải xây dựng được “thế trận lòng dân” vững chắc.

Trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cũng đặt ra yêu cầu cao đòi hỏi phải xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Theo đó, bảo vệ Tổ quốc hiện nay bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hoá dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Điều này đòi hỏi phải xây dựng được “thế trận lòng dân” vững chắc, làm cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Để tăng cường xây dựng “thế trận lòng dân” nhận diện và phản bác luận điệu chống phá Quân đội nhân dân Việt Nam trên không gian mạng của các thế lực thù địch bản thân đưa ra một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, không ngừng học tập, phấn đấu, tu dưỡng rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, nhân dân và quân đội. Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; xác định rõ mục tiêu chiến đấu, đối tượng, đối tác cách mạng, không hoang mang, dao động trước những khó khăn, thách thức...

Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ chủ động đẩy mạnh đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; bác bỏ có cơ sở khoa học, có sức thuyết phục những luận điệu tuyên truyền, kích động của các thế lực thù địch, đi đối với khẳng định tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của cách mạng và công cuộc đổi mới.

Thứ hai, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống trong sạch, lành mạnh, cộng đồng, trách nhiệm, chống chủ nghĩa cá nhân. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải thường xuyên gương mẫu, tu dưỡng, rèn luyện giữ gìn phẩm chất đạo đức lối sống của người quân nhân cách mạng. Đề cao vai trò, trách nhiệm gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phương pháp, tác phong công tác, nói đi đôi với làm để cấp dưới học tập, noi theo. Phát huy tinh thần tự giác, tích cực đấu tranh tự phê bình, phê bình để phát hiện, ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và chủ nghĩa cá nhân. Mọi nơi, mọi lúc, nhất là trước những cám dỗ vật chất phải tự đấu tranh với chính mình, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không được bằng lòng với chính mình về trình độ hiểu biết, đạo đức và phương pháp, tác phong công tác.

Thứ ba, thực hiện có hiệu quả các nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng và thực hiện đầy đủ các nội dung Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 87 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Phát huy tốt vai trò, trách nhiệm tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì theo phương châm: Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo để tạo sự đoàn kết, thống nhất nhận thức, tổ chức thực hiện các nội dung học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong từng cơ quan, đơn vị và toàn quân, phân đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhân dân giao phó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét