Kiểm soát quyền lực chặt chẽ để kiềm chế “lợi ích
nhóm”
Để phòng, chống “lợi ích nhóm”, tham nhũng chính sách trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật, việc kiểm soát quyền lực được coi là “bảo bối”, là gốc của vấn đề xây dựng hoàn thiện thể chế-một trong 3 khâu đột phá chiến lược trong mục tiêu phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Mạnh Cường, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội khóa XV./.
Chưa
bịt hết các kẽ hở trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật
Đấu
tranh phòng, chống các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực dưới hình thức “nhóm lợi
ích” là vấn đề đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng, được dư luận xã
hội rất quan tâm thời gian gần đây.
“Nhóm
lợi ích” có thể tác động lên quá trình hoạch định chính sách (ở Trung ương hoặc
địa phương), đặc biệt là quá trình thực thi chính sách để mang lại “lợi ích
nhóm” tiêu cực, không chính đáng, gây thất thoát, lãng phí lớn đối với tài sản
nhà nước. Trong hoạch định chính sách, để thu vén lợi ích không chính đáng cho
"nhóm”, các "nhóm lợi ích" có thể tác động tới việc ban hành các
chính sách cụ thể, như chính sách về đầu tư, thuế, tài chính, ngân hàng; về thủ
tục hành chính; về tổ chức bộ máy... Những chính sách này tuy mang lại lợi ích
cho một nhóm nhỏ người nhưng lại gây thiệt hại to lớn cho lợi ích chung của
quốc gia. Hoặc một nhóm người được hưởng lợi từ các thủ tục hành chính phức
tạp, nhưng đa số nhân dân thì bị gây phiền hà, tốn kém.
Đối
với cơ quan lập pháp, “nhóm lợi ích” có thể tác động tới quá trình hoạch định
chính sách và giám sát việc thực thi chính sách. Trên thực tế, do quy trình xây
dựng pháp luật được quy định rất chặt chẽ, đồng thời, thẩm quyền lập pháp chỉ
tập trung vào ban hành những chính sách chung cho toàn đất nước (ban hành luật,
nghị quyết và không có thẩm quyền thực thi pháp luật) nên việc tác động của
“nhóm lợi ích” vào hoạt động lập pháp ít phổ biến hơn.
Tuy
nhiên, khả năng tác động vào hoạt động lập pháp hoàn toàn có thể xảy ra thông
qua việc vận động không chính đáng vào việc soạn thảo, tiếp thu, chỉnh lý và
biểu quyết thông qua chính sách trong các dự án luật, nghị quyết, việc vận động
phát biểu, chất vấn, vận động bỏ phiếu, bầu cử... Do đó, việc đề cao cảnh giác,
thực hiện đầy đủ các biện pháp nhằm kiểm soát, ngăn chặn biểu hiện lợi ích nhóm
trong xây dựng, hoạch định chính sách, pháp luật là rất cần thiết trong tình
hình hiện nay.
Thực
hiện các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Quốc hội đã
thông qua số lượng lớn các luật với chất lượng ngày càng được nâng cao. Quy
trình xây dựng pháp luật được thực hiện nghiêm túc; các dự thảo luật, pháp lệnh
được tổ chức lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức có liên quan và đối tượng chịu sự
tác động trực tiếp của văn bản với nhiều hình thức phù hợp. Chất lượng của các
báo cáo thẩm định, thẩm tra ngày càng được nâng cao, bảo đảm tính độc lập,
khách quan, có tính phản biện cao, nêu được chính kiến của cơ quan thẩm định,
thẩm tra đối với dự thảo văn bản. Việc thảo luận của đại biểu Quốc hội và việc
tiếp thu, chỉnh lý các dự thảo luật được tiến hành nghiêm túc. Quy trình xin ý
kiến Bộ Chính trị đối với các nội dung lớn, quan trọng của dự án luật được tuân
thủ chặt chẽ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng pháp luật.
Có thể nói, việc thực hiện nghiêm túc các quy định nêu trên về cơ bản đã bảo
đảm sự kiểm soát đối với hoạt động lập pháp, bảo đảm văn bản luật được ban hành
công khai, minh bạch, có chất lượng, phản ánh đúng chủ trương, đường lối của
Đảng, ý chí của nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội.
Tuy
nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện, vẫn còn một số hạn chế, dẫn đến hiệu
quả kiểm soát quyền lực để phòng, chống “lợi ích nhóm”, tham nhũng từ hoạch
định chính sách chưa cao. Việc công khai, minh bạch, dân chủ trong quy trình xây
dựng pháp luật tuy được coi trọng hơn nhưng trong quá trình soạn thảo luật,
việc lấy ý kiến đối với dự thảo và kể cả đối với đề nghị xây dựng luật, nhìn
chung có nơi, có lúc còn mang tính hình thức; chất lượng ý kiến đóng góp chưa
cao, nhất là đối với những vấn đề mới, phức tạp, còn nhiều tranh luận.
Bên
cạnh đó, cơ quan trình dự án chưa dành thời gian thỏa đáng để xem xét, thông
qua dự thảo luật trước khi trình Quốc hội (có trường hợp chỉ xin ý kiến thành
viên bằng văn bản nên việc tranh luận, thảo luận bị hạn chế). Một số tài liệu
còn hình thức, nhất là báo cáo đánh giá tác động của chính sách, báo cáo rà
soát thủ tục hành chính, dự thảo văn bản quy định chi tiết... Những vấn đề nêu
trên làm cho việc kiểm soát chính sách bị buông lỏng, không chặt chẽ.
Trên
phương diện của Ủy ban Tư pháp, chúng tôi cho rằng, chất lượng các báo cáo thẩm
định, thẩm tra chưa đồng đều, nội dung của một số báo cáo dự án luật còn sơ
sài, xuôi chiều, tính phản biện chưa cao; chưa dựa trên lập luận mang tính khoa
học nên còn thiếu tính thuyết phục. Có trường hợp, báo cáo thẩm tra mới chỉ chú
ý xem xét tới những vấn đề lớn mà cơ quan trình dự án nêu trong tờ trình. Tuy
nhiên, không loại trừ trường hợp có những vấn đề thực sự lớn, những nội dung có
biểu hiện "lợi ích nhóm", lợi ích cục bộ lại không được nêu trong tờ
trình. Nếu báo cáo thẩm tra không chỉ ra được vấn đề đó thì sẽ chưa làm tròn
nhiệm vụ tham mưu cho Quốc hội tập trung thảo luận những vấn đề quan trọng của
dự án và loại bỏ “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ trong dự án.
Ngoài
ra, một số dự án luật có chất lượng chưa tốt được trình ra Quốc hội và sau khi
Quốc hội cho ý kiến thì cần phải sửa lại rất nhiều. Tuy nhiên, đến lúc này thì
dự án đã “nằm ở sân Quốc hội”, cơ quan soạn thảo gần như chỉ có trách nhiệm
tham gia; việc chỉnh lý, soạn thảo lại dự án không phải tuân theo các quy trình
của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (đánh giá tác động, lấy ý kiến của
các đối tượng chịu sự tác động...), dẫn đến sự kiểm soát đối với nội dung được
soạn thảo, chỉnh lý sẽ thiếu chặt chẽ, từ đó hiệu lực của luật bị hạn chế.
Mặt
khác, trong thành phần đại biểu Quốc hội, vẫn có quá nhiều đại biểu kiêm nhiệm
là lãnh đạo bộ máy cơ quan hành pháp, tư pháp. Có một số trường hợp cán bộ
thuộc các bộ, ngành được biệt phái sang làm lãnh đạo, thường trực các ủy ban
của Quốc hội. Điều này đã ảnh hưởng tới tính độc lập của các ủy ban, có thể dẫn
đến tình trạng nể nang, bị ảnh hưởng bởi lợi ích cục bộ ngành khi bày tỏ quan điểm,
phát biểu chính kiến của đại biểu. Đây là những hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ
đến kiểm soát quyền lực trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật ở nước
ta.
Tôi
cho rằng, sự tham gia hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật trong những năm
gần đây đã trở thành một trong những nhiệm vụ chủ yếu của MTTQ Việt Nam và các
tổ chức thành viên. MTTQ Việt Nam thực hiện quyền giám sát trong việc xây dựng
chính sách, pháp luật được thực hiện thông qua trực tiếp tham gia góp ý trong
quá trình soạn thảo; thông qua tham gia các ban soạn thảo, tổ biên tập; thông
qua hoạt động phản biện xã hội, góp ý xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, qua
đó phát hiện những điểm chưa phù hợp để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền sửa
đổi, điều chỉnh.
Tuy
nhiên, có lúc, có nơi, MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia xây
dựng và giám sát hoạt động lập pháp còn chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Kiểm
soát quyền lực để phòng, chống “lợi ích nhóm”, “tham nhũng chính sách” trong
hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng,
trọng tâm nằm ở khâu xây dựng, hoàn thiện thể chế-là một trong 3 khâu đột phá
chiến lược trong mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Đại hội XIII xác định.
Đây
là việc làm rất hệ trọng, rất cấp thiết nhằm khơi thông những điểm nghẽn, tháo
gỡ những khó khăn, ách tắc trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Làm tốt
công việc này còn góp phần đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn
ngừa sự tha hóa, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Có thể nói rằng,
công cuộc đấu tranh phòng, chống “lợi ích nhóm”, tham nhũng chính sách là thiết
thực góp phần bảo vệ uy tín, năng lực lãnh đạo của Đảng, bảo vệ sự uy nghiêm
của pháp luật Nhà nước và bảo vệ tính ưu việt của chế độ xã
hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.
Để
nhận diện lợi ích nhóm trong xây dựng chính sách, pháp luật thì đối với mỗi
chính sách, chúng ta cần làm rõ: Chính sách đó làm lợi cho ai? Có tiêu cực
trong xây dựng, thông qua chính sách không? Cụ thể, cần trả lời các câu hỏi:
Chính sách có được xây dựng minh bạch, công khai, theo đúng quy trình không, có
biểu hiện mờ ám, tiêu cực không? Chính sách đó có vì lợi ích chung của nhân
dân, của quốc gia, dân tộc không hay lợi ích của một nhóm người? Nếu chỉ làm
lợi cho một số người thì lợi ích đó có chính đáng không? Nhiều nội dung nêu
trên sẽ được làm sáng tỏ thông qua báo cáo đánh giá tác động của chính sách.
Khi
xây dựng chính sách, pháp luật phải thể hiện được ý chí, nguyện vọng, lợi ích
chung của nhân dân và lợi ích quốc gia, dân tộc. Do đó, điều quan trọng hàng
đầu là phải bảo đảm công khai, dân chủ, minh bạch trong các bước thực hiện quy
trình, qua đó tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước, mọi người dân đều có thể
giám sát được hoạt động
này.
Cùng
với đó, phải quy định rõ ràng về thẩm quyền ban hành văn bản, vấn đề ủy quyền
lập pháp, qua đó loại trừ việc lạm quyền, tùy tiện trong ban hành văn bản. Đồng
thời, quy định trách nhiệm tham gia của các cơ quan trong quá trình soạn thảo;
quy định chặt chẽ về việc lấy ý kiến của các bộ, ngành, địa phương, ý kiến của
các đối tượng chịu sự tác động của dự án. Việc huy động sự tham gia và lấy ý
kiến rộng rãi về dự án luật như vậy sẽ bảo đảm cho các chính sách được xây dựng
trong dự án luật khách quan, toàn diện, có chất lượng, không có lợi ích nhóm,
lợi ích cục bộ. Người góp ý, phản biện chính sách phải thực tâm; còn người có
trách nhiệm và cơ quan thẩm định chính sách cũng phải tiếp thu thực chất. Chỉ
có như vậy mới thật sự phát huy được tinh hoa trí tuệ của các giai cấp, tầng
lớp nhân dân trong tham gia xây dựng chính sách, pháp luật.
Ngoài
ra, cần chú trọng thực hiện hiệu quả việc đánh giá tác động chính sách; đánh
giá thủ tục hành chính nhằm bảo đảm cho các chính sách minh bạch, rõ ràng, phù
hợp thực tiễn, có tính khả thi, thủ tục hành chính thuận tiện, đơn giản... nhằm
loại trừ "lợi ích nhóm", tham nhũng, tiêu cực trong thực thi chính sách.
Đặc
biệt, cần quy định nội dung thẩm định, thẩm tra nhằm bảo đảm kiểm soát được
chính sách trong dự án luật. Quy định chặt chẽ thủ tục thẩm tra để bảo đảm tất
cả ý kiến thành viên ủy ban thẩm tra phải được thể hiện trong báo cáo thẩm tra;
quy định sự tham gia thẩm tra của các ủy ban đối với những vấn đề có liên quan.
Những quy định này nhằm bảo đảm cho dự án luật được xem xét, kiểm tra, đánh giá
đa chiều, qua đó loại bỏ việc cài cắm "lợi ích nhóm", lợi ích cục bộ./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét