Thứ Ba, 21 tháng 3, 2023

Người lãnh đạo và bài học tu dưỡng, tránh cám dỗ

 

Người lãnh đạo và bài học tu dưỡng, tránh cám dỗ

 

 

Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”.

Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu... “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”.

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!

Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức “vô liêm”, không trong sạch thì làm sao “được lòng dân”. Người xưa rất coi trọng chữ “liêm”. Cụ Khổng Tử mỉa mai: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử trăn trở: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về “tấm gương” của Napoléon “đại tài nhưng tham lam”, từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: “Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không “tri túc” (chừng mực) mà thất bại”(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng “kết quả bị rơi xuống đất”, theo Bác Hồ có 3 lý do là “tham lam”, “không khiêm tốn”, “không biết lượng sức mình”. Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng “đã làm con giời lại muốn làm cả giời”. Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.

Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và “kết quả” thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!  

Phật giáo coi tính “tham” là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến “bể khổ”. Khổng Tử coi sự “tham lợi” chỉ có ở kẻ “tiểu nhân”. Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: “Ít lòng tham muốn về vật chất”! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!

Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách “hứa” sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ “làm gương” như thế nào, bằng cách nào?

Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương “đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”(4). Hình tượng ẩn dụ “cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.

Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào “sáng” hơn “đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng”.

Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài”(6). Xa dân nên thành “quan cách”, không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không “cần kiệm” mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía “một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào” nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy “hoang phí là một tội ác” thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.

Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý “chín bỏ làm mười”, “xuê xoa”, “an phận thủ thường”, “đấu tranh là... tránh đâu”... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.

Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải “gương mẫu”, “nêu gương”, phải là “đầu tàu”... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải “thực hành trước” các nguyên tắc “Cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công”, “vô tư” . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!

 

 

Đẩy lùi những tác phẩm “núp bóng nghệ thuật”

 làm tha hóa tư tưởng con người

 

Thời đại hội nhập quốc tế và xã hội phát triển góp phần làm cho đời sống văn học-nghệ thuật (VHNT) ngày càng phong phú. Song VHNT cũng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, phức tạp.

Lợi dụng các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Zalo, YouTube và lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, một số “văn tài tha hóa” đã cho ra đời những sản phẩm "núp bóng tác phẩm nghệ thuật", làm tha hóa tư tưởng con người và tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần xã hội.

Văn nghệ sĩ tha hóa sẽ cho ra những đứa con tinh thần lạc lối, nguy hại

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”(1). Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, những văn nghệ sĩ yêu nước đã sử dụng một loại vũ khí có sức mạnh “thanh cao mà đắc lực”-thứ vũ khí không được chế tác bằng kim loại, không gây sát thương, nhưng mang lại hiệu quả chiến đấu to lớn, góp phần làm nên những chiến thắng lẫy lừng của dân tộc Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ở thế kỷ 21.

Nhà thơ Sóng Hồng(2) đã viết: “Dùng bút làm đòn xoay chế độ/ Mỗi vần thơ: Bom đạn phá cường quyền” ("Là thi sĩ"). Những vần thơ như thay cho lời khẳng định về giá trị, vị trí, vai trò của VHNT trong kháng chiến giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định, VHNT là lĩnh vực rất quan trọng để bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, hoàn thiện nhân cách, đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh của con người. Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) khẳng định: “VHNT là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa; là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là một trong những động lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam...

VHNT Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế phải phát triển toàn diện và mạnh mẽ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ”(3).

Ngày nay, trong điều kiện đất nước phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tư duy sáng tạo văn học cũng như tâm lý học sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ đã được đổi mới, mở rộng và phát triển mạnh mẽ, hội nhập cùng với xu hướng hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới. Cũng từ đó, VHNT ngày càng có cách nhìn phóng khoáng hơn, biên độ sáng tạo được mở rộng hơn, hệ thống tiếp nhận cũng được định hình theo sự phân tầng của tư duy nghệ sĩ; góp phần đổi mới, đa dạng hơn về đề tài, nội dung tư tưởng.

Tuy nhiên, thời gian qua xuất hiện một số văn nghệ sĩ đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc; hay thậm chí chính họ bị tha hóa về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Những đối tượng này thành lập các hội, nhóm, “sáng tạo” ra một thứ nghệ thuật đồi trụy "núp bóng" văn hóa, văn chương; tạo ra những cái gọi là “tác phẩm nghệ thuật” thiếu chuẩn mực, thiếu đạo đức, chà đạp truyền thống lịch sử, làm ô uế thuần phong mỹ tục của dân tộc với những tư duy lệch lạc, những câu chuyện rẻ rúng, những thứ ngôn từ thô tục... để phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đổ biết bao xương máu mới giành được.

Thậm chí, “tác phẩm nghệ thuật” ấy được lồng ghép và tạo dựng những hình ảnh dung tục với một lối tư duy phi truyền thống, phi văn chương, phi nghệ thuật, phi chính trị... nhằm mục đích tuyên truyền, kích động, bôi nhọ lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, bôi nhọ anh hùng dân tộc, bôi nhọ nền tảng truyền thống văn hóa ngàn đời của dân tộc...

Ví như những cuốn sách: “Bên kia bờ ảo vọng”, “Một cơn gió bụi”, “Tây Hùng Vương”, “Mối chúa”, “Đất mồ côi”... làm cho người tiếp nhận, nhất là thế hệ trẻ bị hoang mang, dẫn đến nhận thức lệch lạc, đánh mất niềm tin vào cuộc sống, trật tự xã hội bị đảo lộn, tư duy con người bị xô lệch, mất phương hướng.

Xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa những tác phẩm lệch lạc, xấu độc

Đảng, Nhà nước ta và các cơ quan quản lý không hạn chế, kìm hãm tư duy sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ, nhưng định hướng, mong muốn, khuyến nghị các văn nghệ sĩ cần đặt những sản phẩm sáng tạo-những thành quả lao động nghệ thuật-vào đúng vị trí của nó và phù hợp với các giá trị chuẩn mực của cộng đồng, xã hội. 

Trong bối cảnh thông tin bùng nổ hiện nay, cần thực hiện nhiều giải pháp để xây dựng phòng tuyến văn hóa đủ sức ngăn ngừa hiệu quả những hệ lụy tiêu cực từ các tác phẩm VHNT có nội dung thấp kém, xấu độc. Giải pháp có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện hiệu quả những định hướng của Đảng về VHNT gắn với phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Đặc biệt chú trọng quán triệt và thực hiện tốt nội dung Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X) "Về tiếp tục xây dựng và phát triển VHNT trong thời kỳ mới" và những chương trình, kế hoạch về phát triển văn hóa, VHNT mà các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương và chính quyền các địa phương đã xác định.

Coi trọng và phát huy vai trò, trách nhiệm của những người làm nhiệm vụ “gác cổng nghệ thuật”, những cơ quan trực tiếp làm công tác biên tập, xuất bản, phát hành, tránh để những sản phẩm phi nghệ thuật được xuất bản, phát tán, lưu hành trong đời sống xã hội. Các cơ quan quản lý, cơ quan biên tập, xuất bản phải thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ làm công tác biên tập; phối hợp chặt chẽ với cơ quan liên quan để phân tích, sàng lọc và nắm được tư tưởng văn nghệ sĩ thông qua sản phẩm sáng tạo.

Bên cạnh đó, những người làm công tác quản lý VHNT phải thực sự nhạy bén trong nhận định, đánh giá tác phẩm nghệ thuật, biết phân biệt rõ những tác phẩm nghệ thuật chân chính với những sản phẩm “núp bóng nghệ thuật” được tạo ra bởi tư duy thấp hèn, phục vụ những lợi ích cá nhân không lành mạnh và mang động cơ đen tối.

Đối với đội ngũ văn nghệ sĩ và cán bộ, đảng viên, cần nhận thức đầy đủ về vai trò, tầm quan trọng của VHNT trong đời sống tinh thần của nhân dân. Lĩnh vực VHNT là một mặt trận mà những “chiến sĩ văn hóa” cần đem hết tài năng, trí tuệ và nhiệt huyết của mình để cống hiến, sáng tạo những tác phẩm VHNT có giá trị.

Cùng với đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần đấu tranh với những tác phẩm “núp bóng văn hóa”, những tác phẩm phi nghệ thuật và những cuốn sách có tư tưởng lệch lạc, ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ lịch sử dân tộc, ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng, nhận thức, tình cảm của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Chúng ta tôn trọng sự tự do sáng tạo nhưng phải quan tâm bồi dưỡng tư tưởng chính trị, quan điểm, lập trường cho văn nghệ sĩ. "Lá, cành" của "cây xanh" văn nghệ sĩ phải luôn "quang hợp" ánh sáng lý tưởng cách mạng, nếu không, "cây" sẽ bị héo và "quả" sẽ sài đẹn. Lịch sử nghệ thuật cho thấy, các nghệ sĩ lớn luôn tự do sáng tạo theo một xu hướng nhất định.

Sáng tạo VHNT theo những nguyên lý cơ bản của mỹ học Mác-xít là sáng tạo theo tinh thần nhân văn, tiến bộ, phù hợp với quy luật tư tưởng và tình cảm tâm lý tiếp nhận của con người. Sứ mệnh cao cả nhất của văn nghệ sĩ là tự do sáng tạo vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội, vì những phẩm giá tốt đẹp của con người và giá trị chân, thiện, mỹ của xã hội. 

Trong xã hội hiện đại, để góp phần cho VHNT đi đúng hướng và có sức sống dồi dào, sức lan tỏa sâu rộng, các cơ quan chức năng và các hội chuyên ngành VHNT cần tiếp tục tổ chức các chuyến đi thực tế để văn nghệ sĩ có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn về đời sống xã hội, từ đó có những cảm nhận vui buồn, cảm thông và chia sẻ với các tầng lớp nhân dân, nhất là người lao động.

Vốn sống của văn nghệ sĩ không chỉ loanh quanh trong một cơ quan, địa phương, ngành nghề mà phải vươn ra khắp mọi miền Tổ quốc. Sinh thời, nhà văn Nam Cao từng nhấn mạnh: “Sống đã rồi hãy viết”.

Vì lẽ đó, việc duy trì tổ chức những chuyến đi thực tế để các văn nghệ sĩ được sống, được hít thở, được đập cùng nhịp đập trái tim của nhân dân ở mọi lúc, mọi nơi trên đất nước Việt Nam sẽ góp phần giúp họ am hiểu cuộc đời, biết chắt lấy tinh hoa đời sống để xây dựng mô hình, chất liệu, sức sống cho tác phẩm VHNT./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét