Để đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai
trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng, trong
thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm một số nội dung sau:
Thứ nhất, tiếp tục tuyên truyền, giáo dục cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc về bản chất
GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận thức sâu sắc vai
trò to lớn của GCCN Việt Nam trong tiến trình lịch sử, nhất là trong giai đoạn
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. GCCN Việt Nam là lực lượng lãnh đạo xã hội đi
đầu trong phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp ngân sách chủ yếu cho nhà nước,
làm chủ khoa học- công nghệ. Mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nhận thức
đầy đủ, sâu sắc bản chất GCCN của Đảng ta. Đây là nền tảng quyết định bản
chất cách mạng và khoa học, sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, quyết định đến
vai trò lãnh đạo và năng lực cầm quyền của Đảng ta. Giữ vững và tăng cường bản
chất GCCN của Đảng là yếu tố nội sinh để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên “miễn
dịch”, tự phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.
Hơn lúc nào hết mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nhận
thức rõ âm mưu thủ đoạn, chiêu trò gian xảo của các thế lực thù địch xuyên tạc
sứ mệnh lịch sử của GCCN, bản chất GCCN của Đảng để làm lung lay niềm tin trong
cán bộ, đảng viên và nhân dân. Từ đó, khơi dậy niềm tự hào, vững tin vào sự
lãnh đạo của Đảng, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch. Phủ nhận bản chất GCCN thực chất là phủ nhận Đảng từ bản chất, theo đó
cũng đồng nghĩa phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Đây là mưu toan,
kịch bản nham hiểm của các thế lực thù địch cần nhận diện và chủ động đấu tranh
phản bác kịp thời, có hiệu quả.
Thứ hai, tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên
cứu lý luận về GCCN, bản chất GCCN của Đảng.
Cần đi sâu nghiên cứu tổng kết bổ sung phát triển lý luận
về GCCN Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay như xác định nội hàm, thành phần
tham gia vào GCCN Việt Nam, nhất là trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
phát triển kinh tế số, xã hội số, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
ngày càng gia tăng. Do đó, số lượng công nhân tham gia vào các doanh nghiệp này
ngày càng nhiều. Hơn nữa, quan điểm của Đảng ta xác định rõ trong hợp tác đầu
tư phải đảm bảo nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Trước sự vận động của thực
tiễn, định nghĩa về GCCN Việt Nam trong Hội nghị Trung ương 6 (khóa X) đã có
những điểm không còn phù hợp, do đó cần bổ sung nội hàm để phù hợp với giai
đoạn mới. Đồng thời, bổ sung làm sâu sắc nội dung bản chất GCCN của Đảng ta như
mối quan hệ giữa số lượng GCCN với nền tảng tư tưởng của Đảng; giữa thành phần
xuất thân của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ trí thức với lập trường quan
điểm, tư tưởng của GCCN. Có như vậy mới góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ,
đảng viên, nêu cao trách nhiệm trong việc phát huy bản chất GCCN của Đảng; mặt
khác, có luận cứ xác đáng để các chủ thể tham gia đấu tranh phản bác các quan
điểm sai trái, thù địch có hiệu quả, cũng như không tạo kẻ hở để các thế lực
thù địch vin cớ lợi dụng xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng ta.
Khi tổng kết nghiên cứu về GCCN Việt Nam, cần tham khảo chỉ
dẫn của Ăng-ghen dự báo vô sản hóa trí thức, một bộ phận trí thức sẽ bổ sung
vào lực lượng GCCN. Trong thư “Gửi đại học quốc tế các sinh viên XHCN”, lần đầu
tiên Ph.Ăng-ghen đã khẳng định khái niệm “giai cấp vô sản trí thức” là bộ phận
hợp thành của GCCN hiện đại và chỉ rõ chính GCCN ấy là lực lượng duy nhất hoàn
thành sự nghiệp giải phóng GCCN, xây dựng thành công CNXH trong tương lai. Do
yêu cầu sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn cũng
như xu hướng một bộ phận đội ngũ trí thức của nước ta được bổ sung cho GCCN
trong những năm đến là xu thế tất yếu.
Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp đấu tranh
phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN
của Đảng.
Cơ chế phối hợp đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái,
thù địch xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam là các
quy định, quy chế của Đảng, Nhà nước nhằm xác định mục tiêu, nội dung, phương
thức tổ chức lực lượng và những chế tài cụ thể tham gia đấu tranh phản bác các
quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta nói chung,
bản chất GCCN của Đảng nói riêng. Tập trung lãnh đạo hệ thống chính trị, các
cơ quan, lực lượng tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch theo tinh thần Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị khóa XII, nhằm bảo vệ nền
tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó,
Ban Tuyên giáo Trung ương là lực lượng nòng cốt, cơ quan chủ trì phối hợp. Căn
cứ vào tính chất, nội dung, phương thức thủ đoạn chống phá của các thế lực thù
địch phản động cũng như thế mạnh của từng cơ quan, ngành mà Ban Tuyên giáo
Trung ương chủ động tham mưu phân công phối hợp để đấu tranh phản bác sát hợp
với từng đối tượng. Chẳng hạn, lâu nay Đài Truyền hình Việt Nam có chương trình
“Đối diện” tham gia đấu tranh phản bác tạo hiệu ứng xã hội mạnh mẽ. Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh ngoài những công trình khoa học, đã tổ chức
thành công Cuộc thi viết chính luận khoa học bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới
(lần thứ nhất). Mấu chốt của vấn đề là phải xác lập được cơ chế phối hợp đấu
tranh phản bác tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tích cực tham gia, phát
huy sức mạnh tổng hợp trong tình hình mới.
Thứ tư, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng
trong sạch, vững mạnh, giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền
của Đảng.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng là yêu cầu nội tại của Đảng ta
hiện nay. Đây là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng liên quan đến vận mệnh của Đảng, vận
mệnh của chế độ XHCN. Đại hội XIII nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên
bản lĩnh chính trị không vững vàng,…; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng
tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường
lối đổi mới của Đảng”(5). Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải coi trọng trên
cả năm mặt nhưng trong đó tập trung chỉnh đốn về tư tưởng, đạo đức, lối sống
của cán bộ, đảng viên. Bởi cán bộ, đảng viên là "tế bào" cấu thành tổ
chức đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trong
bối cảnh mới hiện nay khi các thế lực thù địch đang gia tăng chống phá Đảng,
Nhà nước ta đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên định nền tảng tư tưởng,
đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức của Đảng, gương mẫu nói đi đôi với làm,
thanh liêm về nhân cách, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân; xác định rõ trách
nhiệm bổn phận của mình đối với sự phát triển của Đảng, của dân tộc.
Ngoài việc coi trọng tu dưỡng rèn luyện “tự soi” “tự sửa”
của mỗi đảng viên, các tổ chức đảng cần tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện
cán bộ, đảng viên, thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, nhất là
nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình... Cần thấy rằng, ý nghĩa
to lớn của xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ làm cho Đảng luôn ở tầm cao của văn hóa,
của “đạo đức, văn minh” thì Đảng càng cầm quyền có hiệu quả, càng trường tồn
vai trò lãnh đạo đối với dân tộc. Mặt khác, là điều kiện để tăng “sức đề kháng”
của Đảng trước những hiện tượng phản văn hóa, xuyên tạc, kích động chống phá
của các thế lực thù địch phản động.
Thứ năm, tập trung xây dựng GCCN Việt Nam có
phẩm chất năng lực, trí tuệ, có khát vọng cống hiến.
Cần nhận thức sâu sắc rằng, GCCN Việt Nam là giai cấp lãnh
đạo cách mạng, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là chủ thể của công
cuộc đổi mới, tiên phong đi đầu trong xây dựng hệ thống chính trị, phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hơn 92 năm từ khi Đảng ra đời cho đến nay,
vai trò lịch sử của GCCN Việt Nam đã được lịch sử kiểm chứng và khẳng định là
giai cấp lãnh đạo cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn mang bản chất GCCN,
chứ không thể mang bản chất của giai cấp nào khác. Do đó, đầu tư để xây dựng
GCCN là đầu tư cho sự phát triển bền vững, đúng hướng, xứng tầm với vị thế của
giai cấp tiên phong. Xuất từ vai trò to lớn của GCCN Việt Nam, Đại hội XIII xác
định mục tiêu “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản
lĩnh chính trị, trình độ học vấn chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong
công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư”(6). Bởi vậy, đặt ra cho Đảng, Nhà nước phải tăng cường trí thức
hóa GCCN; coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng cho GCCN nhận rõ vai trò, sứ
mệnh to lớn của mình. Tập trung chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần, nhà ở, thu nhập và các vấn đề an sinh xã hội cho GCCN để họ ổn định cuộc
sống “an cư lạc nghiệp” tái sản xuất sức lao động, chuyên tâm với vai trò, sứ
mệnh lịch sử cao cả của mình.
HAIVAN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét