KINH
TẾ CỦA UKRAINA
TRƯỚC
CÁC TÁC ĐỘNG CHÍNH TRỊ CỦA ĐẤT NƯỚC
Trong thời Xô viết, kinh tế Ukraina lớn thứ hai bên
trong Liên xô, là một thành phần công nghiệp và nông nghiệp quan trọng trong nền kinh tế kế hoạch của đất nước.[1] Với
sự sụp đổ của hệ thống Xô viết, nước này chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch
sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường. Quá trình chuyển tiếp rất
khó khăn cho hầu hết dân cư và đa số họ rơi vào tình trạng nghèo khổ.[2] Kinh
tế Ukraina giảm phát nghiêm trọng trong những năm sau sự sụp đổ của Liên xô. Cuộc
sống hàng ngày cho người dân thường sống tại Ukraina là một cuộc chiến đấu. Một
số lớn công dân tại các vùng nông thôn Ukraina
sống bằng lương thực tự trồng, thường làm hai hay nhiều việc và có được các nhu
yếu phẩm thông qua trao đổi.[3]
Năm 1991, chính phủ tự do hoá
hầu hết giá cả để giải quyết sự thiếu hụt hàng hoá trên diện rộng, và đã thành
công. Cùng lúc ấy, chính phủ tiếp tục bao cấp cho các ngành công nghiệp và nông
nghiệp do nhà nước quản lý bằng các khoản tiền công khai. Các chính sách tiền
tệ lỏng lẻo đầu thập niên 1990 đẩy lạm phát lên
các mức độ siêu lạm phát. Năm 1993, Ukraina giữ kỷ lục thế
giới về mức lạm phát trong một năm. Những
người sống nhờ thu nhập cố định gặp khó khăn nhiều nhất. Giá
cả chỉ ổn định lại sau khi đồng tiền tệ mới ra đời, đồng hryvnia,
năm 1996. Nước này cũng chậm chạp trong việc áp dụng các cải cách cơ cấu. Sau
khi giành độc lập, chính phủ đã thành lập một cơ cấu pháp lý cho việc tư nhân hoá. Tuy nhiên, sự
chống đối lan rộng với các cải cách bên trong chính phủ và từ một phần đông dân
chúng nhanh chóng làm đóng băng các nỗ lực cải cách. Một số lớn doanh nghiệp
thuộc sở hữu nhà nước đã bị loại khỏi quá trình tư nhân hoá. Cùng lúc ấy, tới năm
1999, GDP đã rơi xuống thấp hơn 40% so với mức năm 1991,[5] nhưng
đã hồi phục tới hơn 100% ở cuối năm 2006. Đầu những năm 2000, nền kinh tế
cho thấy sự tăng trưởng mạnh 5 tới 10% và dựa nhiều vào xuất khẩu với sản xuất
công nghiệp tăng trưởng hơn 10% mỗi năm.[6] Ukraina
đã bị tác động từ cuộc khủng hoảng
kinh tế năm 2008 vào tháng 11 năm 2008, IMF đã thông qua một
khoản vay khẩn cấp $16.5 tỷ cho nước này.[7] Nền
kinh tế của Ukraine đã vượt qua cuộc khủng hoảng nặng nề do xung đột vũ trang ở
phần đông nam của đất nước. Sự mất giá lên tới mức 200% của đồng tiền hryvnia
Ucraina (đồng tiền quốc gia) trong 2014-2015 đã làm cho hàng hóa và dịch vụ của
Ucraina trở nên rẻ hơn và kém cạnh tranh hơn. Trong năm 2016, lần đầu tiên kể
từ năm 2010, nền kinh tế đạt mức tăng trưởng hơn 2%. Theo báo cáo của Ngân hàng
Thế giới, mức tăng trưởng dự kiến là 2% vào năm 2017 và 3,5% vào năm 2018.
GDP (theo PPP) năm 2016 của Ukraina theo tính toán
của IMF,
xếp hạng 117 trên thế giới và
ước tính ở mức $8,638 tỷ.[8] GDP
trên đầu người năm 2016 của nước này theo IMF ở mức $2,125 (theo PPP), xếp hạng
132 thế giới.[1] GDP
danh nghĩa (theo dollar Mỹ, được tính theo tỷ giá trao đổi thị trường) là
$87.198 tỷ, xếp hạng 66 trên thế giới.[1] Ở
thời điểm tháng 7 năm 2008 lương danh nghĩa trung bình tại Ukraina đạt 1,930
hryvnias mỗi tháng. Dù vẫn ở mức thấp hơn các quốc gia trung Âu láng
giềng, tăng trưởng thu nhập năm 2008 đứng ở mức 36.8%[8] Theo UNDP năm 2003 4.9%
dân số Ukraina sống với dưới 2 dollar Mỹ mỗi
ngày[9] và
19.5% dân cư sống dưới ngưỡng nghèo quốc gia cùng trong năm ấy.[10]
Ukraina chế tạo hầu như mọi
kiểu phương tiện vận tải và tàu vũ trụ.
Các máy bay Antonov và
xe tải KrAZ đã được xuất khẩu tới nhiều quốc
gia. Đa số xuất khẩu của
Ukraina là sang Liên minh châu Âu và Cộng đồng các quốc gia độc lập.[11] Từ
khi độc lập, Ukraina đã duy trì cơ quan vũ trụ của riêng minh, Cơ quan Vũ
trụ Quốc gia Ukraina (NSAU). Ukraina đã trở thành một bên tham
gia tích cực vào việc thám hiểm khoa học vũ trụ và các phi vụ tìm kiếm từ xa.
Trong giai đoạn 1991 tới 2007, Ukraina đã phóng sáu vệ tinh và
101 phương tiện phóng do
họ tự chế tạo, và tiếp tục thiết kế tàu vũ trụ.[12] Vì
thế tới ngày nay, Ukraina được công nhận là nước hàng đầu thế giới trong việc
chế tạo tên lửa và kỹ thuật liên quan tới tên lửa.
Nước này nhập khẩu hầu hết
năng lượng, đặc biệt là dầu mỏ và khí tự nhiên, và ở mức độ lớn hơn phụ thuộc vào
Nga trong năng lượng. Tuy 25% khí tự nhiên ở Ukraina có từ các nguồn nội địa,
khoảng 35% đến từ Nga và số còn lại 40% từ Trung Á qua
các đường vận chuyển thuộc quyền kiểm soát của Nga. Cùng lúc đó, 85% khí của
Nga được chuyển tới Tây Âu qua Ukraina..
Trong năm 2014, gần 100% nguồn cung cấp khí tự nhiên của Ukraine đến từ Nga. Từ
năm 2016, nguồn cung cấp dầu khí hầu như là đến từ các nước EU.
Ngân hàng Thế giới xếp hạng Ukraina là
quốc gia có thu nhập trung bình. Các vấn đề lớn gồm cơ sở hạ tầng và vận
tải kém phát triển, tham nhũng và quan liêu. Năm 2007 thị trường
chứng khoán Ukraina ghi nhận mức tăng trưởng cao thứ hai thế
giới với 130%.[13] Theo
CIA, năm 2006 tư bản hoá thị trường của thị trường chứng khoán Ukraina là
$111.8 tỷ.[8] Các
lĩnh vực đang phát triển của kinh tế Ukraina gồm thị trường công nghệ thông tin (IT), đứng đầu các
nước Trung và Đông Âu năm 2007, tăng trưởng khoảng 40%.[14]
----------------------------
1- Рішення Ради:
Україна 30 жовтня перейде на зимовий час [Rada Decision:
Ukraine will change to winter time on 30 October] (bằng tiếng Ukraina).
korrespondent.net. 18 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2011.
2-“The council
reduced the number of districts in Ukraine: 136 instead of 490”. Ukrainska Pravda (bằng
tiếng Ukraina). 17 tháng 7 năm 2020.
3-^ “Ukraine”. CIA World Factbook. ngày 13 tháng 12 năm
2007. Bản gốc lưu
trữ ngày 9 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2007
4-^ “Ukraine”. CIA World Factbook. ngày 13 tháng 12 năm
2007. Bản gốc lưu
trữ ngày 9 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2007.
5- “Ukraine -
Relief”. Encyclopædia Britannica (fee required). Truy cập ngày
27 tháng 12 năm 2007.
6- “Ukraine -
Climate”. Encyclopædia Britannica (fee required). Truy cập ngày
27 tháng 12 năm 2007.
7- Child poverty soars in eastern Europe,
BBC News, ngày 11 tháng 10 năm 2000. Truy cập 2009-01-12.
8- Skolotiany, Yuriy, The past and the
future of Ukrainian national currency Lưu trữ 2008-06-25
tại Wayback Machine, Interview with Anatoliy
Halchynsky, Mirror Weekly,
#33(612), ngày 8 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008
9- “CIA World Factbook - Ukraine. 2002
edition”. CIA. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008.
10- “CIA World
Factbook - Ukraine. 2004 edition”. CIA. Bản gốc lưu
trữ ngày 27 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008.
11- Head of IMF's Resident Representative
Office in Ukraine to change his job Lưu trữ 2010-11-26
tại Wayback Machine, Interfax-Ukraine (Retrieved
on 2008-12-17)
12-“Average Wage
Income in 2008 by Region”. State Statistics Committee of Ukraine.
Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008.
13- “Statistics
of Launches of Ukrainian LV”. National
Space Agency of Ukraine. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2007.
14- “Missle
defence, NATO: Ukraine's tough call”. Business Ukraine. Bản gốc lưu
trữ ngày 21 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2008.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét