Vận
dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác-lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta, trước
năm 1945, mặc dù, chưa phân định cụ thể về quyền con người, nhưng quyền con
người được thể hiện là sự đấu tranh giành chính quyền, giành quyền con người. Trong Cương lĩnh
chính trị đầu tiên (Chánh cương vắn tắt) (1930), Đảng đã xác định mục tiêu của
cách mạng Việt Nam là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để
đi tới xã hội cộng sản”[1].
Theo đó, nhiệm vụ của Đảng là tập hợp lực lượng toàn dân tiến hành đấu tranh
giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Vấn đề quyền con người được thể hiện
trước hết ở việc tố cáo tội ác vi phạm quyền con người của chủ nghĩa thực dân
Pháp đối với nhân dân Việt Nam và đề ra các khẩu hiệu đấu tranh như: Việt Nam
tự do”, đấu tranh và xây dựng một xã hội người dân được “tự do tổ chức”; “nam
nữ bình quyền”, phổ cập giáo dục, người công nhân chỉ làm việc 8 giờ/ngày…Đây
là những mục tiêu, nhiệm vụ xuyên suốt, là ngọn cờ tập hợp lực lượng và đó cũng
chính là cơ sở làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (1945) do Đảng lãnh
đạo.[2]
Ngay sau khi giành chính quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã quan tâm sâu sắc
vấn đề quyền con người; xác định mục tiêu hướng tới của Nhà nước là bảo vệ
quyền con người và trân trọng ghi nhận những giá trị quý báu nói trên trong
Hiến pháp[3].
Đồng thời bằng thực tiễn đấu tranh của mình, dân tộc Việt Nam đã góp phần vào
sự nghiệp cao cả của nhân dân thế giới vì quyền con người. Trong Luận cương
cách mạng Việt Nam, tại Đại hội lần thứ II (1951), đã khẳng định rõ mục
tiêu của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo là: “…bảo vệ chính quyền nhân dân,
bảo vệ quyền lợi của dân và bảo đảm công dân làm tròn nghĩa vụ với Tổ quốc. Quyền
lợi đó là: được hưởng nhân quyền, dân quyền và tài quyền. Nghĩa vụ
đó là: bảo vệ đất nước, ủng hộ chính quyền nhân dân, đóng góp cho công quỹ, giữ
gìn và phát triển tài sản chung của quốc gia”[4].
Quyền con người được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng, Hiến pháp, pháp luật
của Nhà nước. Việt Nam cũng bước đầu tham gia vào hệ thống pháp luật quốc tế,
dù đất nước đang phải tiến hành kháng chiến chống xâm lược[5].
Khi đất nước hòa bình, thống nhất, chỉ bốn năm sau khi trở thành thành viên
Liên hợp quốc (1977), Nhà nước Việt Nam đã tích cực tham gia vào hệ thống pháp
luật quốc tế về quyền con người[6].
Thời kỳ đổi mới (1986 đến nay), Quan điểm của Đảng về quyền con người ngày càng
được hoàn thiện, sâu sắc hơn. Đại hội VII (1991), lần đầu tiên khái niệm quyền
con người được ghi nhận trong Cương lĩnh chính trị “Nhà nước định ra các đạo
luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người”[7].
[1]
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t 3, tr1.
[2] Mọi khẩu hiệu tập hợp lực
lượng, như Chương trình Việt Minh (1941) đều xoay quanh các quyền con
người cơ bản của mọi tầng lớp xã hội Việt Nam, đã có sức hấp dẫn lớn, góp phần
tạo nên sức mạnh to lớn của Cách mạng Tháng Tám 1945.
[3] Hiến pháp năm 1946 đã ghi
nhận các quyền và tự do cơ bản của con người.
[4]
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia,
H.2001, t 12, tr.105.
[5]
Trong năm 1957, Nhà nước Việt Nam đã tham gia 4 công ước của Luật Nhân đạo quốc
tế - một ngành luật bảo vệ con người trong hoàn cảnh xung đột và chiến tranh, được
xem như cặp xong sinh của Luật Nhân quyền quốc tế.
[6]
Các năm 1981, 1982, và 1983, cho đến năm 2006, Nhà nước Việt Nam tham gia một
loạt công ước của Liên hợp quốc về quyền con người như: Công ước về ngăn
ngừa và xóa bỏ các hình thức về phân biệt chủng tộc, 1965; Công ước quốc
tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966; Công ước về xóa bỏ tất cả các
hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, 1979; Công ước về quyền trẻ
em, 1989 (và hai nghị định thư bổ sung); Công ước về chống tra tán và
các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đâọ hoặc hạ nhục con
người, 1984; Công ước về quyền của người khuyết tật, 2006
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự
thật, H.1991, tr.19.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét